Thổ huyết khi đã chỉ, ứ huyết đã tiêu, hoặc trong khoảng vài ngày hay vài chục ngày huyết lại trào động mà thổ ra, đó là huyết không yên ổn, ở lối thường cần phải dùng phép ninh huyết để huyết được yên thì mới khỏi. Phép này ở trong phép chỉ thổ và tiêu ứ đã ngụ ý trị liệu, song các thuốc trước phần nhiều là thuốc mạnh bạo đó là thuật tiêu trừ giặc cướp, chưa có chính sách an dân. Cho nên lại đem phép ninh huyết, phát minh thêm ra để dùng cho thật tốt.

_Nếu ngoại cảm phong hàn mà thành thổ huyết, huyết chỉ rồi mà vinh vệ chưa hòa thì có chứng đau mình, nóng lạnh v.v… dùng bài Hương tô ẩm gia Sài hồ, Đương quy, Hoàng cầm, Bạch thược, Đan bì, A giao.

Nếu vị kinh còn sót nhiệt mà khí táo hại huyết, nên huyết không được an thì thấy miệng ráo, ợ hơi, ghét nghe tiếng động, có giận dữ. Nghe tiếng gỗ khua thì kinh sợ, nằm ngủ buồn phiền mà không ăn, dùng Tê giác địa hoàng thang.

Nặng thì hợp với Bạch hỗ thang đại thanh đại lượng để thanh nhiệt của vị.

Nhẹ chỉ dùng bài Cam lộ ẩm để sinh tân dịch của vị mà bệnh huyết tự khỏi.

Nếu nhân phế kinh táo khí, khí không thanh hòa, mất sự nhuận nhàng của việc trị tiết mà chứng hiện ra suyễn nghịch, ho hắng, huyết trào động lên, dùng thanh táo cứu phế thang.

Hỏa mạnh gia Tê giác.

Huyết hư gia Sinh địa.

Đàm nhiều gia Bối mẫu.

Nhuận phế lợi khí sinh huyết là phương thuốc hay trị phế nuy, ông Các khả Cửu (Thập dược thần thư) chuyên chữa chứng hư tổn thất huyết, dùng Bảo hòa thang cũng tốt, nhuận phế lợi khí bình táo giải uất, phương trước thanh thuần, phương này hoạt động, tùy nghi mà dùng, huyết tự yên tĩnh mà không trào động lên.

Nhân can kinh phong và hỏa cổ động dấy lên mà huyết không được yên ổn thì thấy miệng đắng, họng khô, mắt quáng, ù tai, sườn đau, khí nghịch, giận dữ quyết liệt, cốt chưng, mộng mị. Dùng Tiêu dao tán. Xét rằng can kinh phong khí cổ động lên mà huyết không được yên thì gia Tang ký sinh, Cương tàm, Ngọc trúc, Táo nhân, Mẫu lệ, Thạch cao. Đây là theo thang Bạch đầu ông của Trương Trọng Cảnh. Ong Trọng Cảnh trị huyết lỵ của người sản hậu, lấy Bạch đầu ông bình mộc tức phong, vì can là tạng tàng huyết, phong khí tán ra mà không tàng thì phải bình để cho yên mà huyết theo đó cũng được yên vậy.

Lại có khi can hỏa mạnh quá (thắng quá) ngang ngược mà không thể ngăn được, để huyết không thể tàng được, phải nên gia A giao, Sơn chi, Long đảm thảo, Hồ hoàng liên, Qua lâu nhân, Ngưu tất, Thanh bì, Mẫu lệ.

Đương quy lô hội hoàn là phương trọng để tả hỏa ở can kinh, nhưng không bằng Tiêu dao tán gia giảm thì ổn thỏa hơn.

Lại có chứng xung khí nghịch lên, chứng ấy thấy cổ đỏ, đâùu quay, hỏa nghịch khí lên yết hầu không được lợi, dưới vú chống ngón tay vào cảm thấy có tiếng lật bật, trên cổ mạch động ra bên ngoài da, mạch xung vốn không lên được đầu gáy, cổ họng khô là vì mạch xung là huyết hải thuộc can, nhân mạch can mà xuốt lên họng vậy. Mạch trên cổ động, mặt đỏ, vì mạch xung dính vào kinh dương minh, xung khí nghịch thì khí của dương minh theo mà nghịch lên. Nội kinh nói rằng:”Mạch xung là khí nhai, mạch xung là huyết hải”.

Khí nghịch huyết lên đó là một cái chìa khóa lớn của chứng huyết, cho nên Trọng Cảnh trị huyết lấy trị mạch xung là cần thiết, và dùng Mạch môn đông thang.

Ông Trần Tu Viên nói: “Phương này bỏ gạo tẻ gia Bạch truật để tu bổ chân âm”. Còn ông Đường Tôn Hải cho là: “Trị mạch xung chỉ lấy kinh dương minh”. Ong Trọng Cảnh dẫn ra manh mối, người sau cũng nên suy rộng ra.

Xét rằng: Xung dương vượng quá thì gia Tri mẫu, Chỉ xác, Bạch thược, Thạch cao để thanh dương bẻ gãy thế vượng ấy đi. Chi tử, Hoàng cầm, Qua lâu nhân, Ngưu tất lợi thủy của dương minh cũng nên gia vào để phân tiêu hủy đi, đó là phép trị khí của xung mạch nên hợp với dương minh.

Song mạch xung là khí nhai, khí gốc ở thận, huyết hải là Đan điền là nơi thận khí tàng ở đấy, nếu xung mạch đem hư dương của thận ngược lên mà làm suyễn cấp, nên dùng bài Tứ ma thang để điều nạp khí nghịch. Đó là ý bàn Quế linh cam thảo ngũ vị thang của Trọng Cảnh, xong ông Trọng Cảnh dùng Quế chi để hóa hàn thủy của Bàng quang đi, bảo rằng khí từ bụng dưới xông lên yết hầu, mặt nóng như say, nhiệt chạy ra hai hoặc tiểu tiện khó, làm cho mê quáng vụt lên vụt xuống như chớp lập lòe không cố định. Đó là trường hợp âm thịnh cách dương mà dương khí bay vụt lên, cho nên lấy tân ôn để hóa hàn thủy.

Nay là chứng xuất huyết, nếu dùng Quế chi âm khí lại bị thương nữa, sẽ phạm vào lời răng: “dương thịnh tắc quáng” nghĩa là dương thịnh thì chết ( trong bài phú có nói rằng: Quế chi nhập yết, dương thịnh tắc quăng), tức là uống Quế chi vào họng, người dương khí thịnh thì chết, cho nên dùng Trầm hương thay cho Quế chi để nạp khí dương, nổi lên dùng Nhân sâm để tư âm, Trầm hương chạy xuống hạ tiêu, Ô dược trị khí Bàng quang và thận. Mạch xung là huyết hải, ở chổ Bàng quang Thận, trị dương minh là trị ngọn. Trị Bàng quang và Thận là trị gốc vậy.

Nếu âm khí của Thận hư quá, mà xung dương không thể yên được ở thận thì dùng Tứ ma thang gia Thục địa, sơn thù, Ngũ vị, Kỷ tử để tư âm, để sánh với dương, để an xung khí.

Nếu bệnh nhân vốn có chứng thủy âm, cách dương ở trên (hỏa bốc lên), người đó mà động huyết thì bài Quế linh cam thảo ngũ vị thang của Trọng Cảnh lại là đối chứng, song phương này đối với huyết chứng không có quan hệ gì với nhau nên gia Đương quy, Bạch thược, A giao, Đan bì. Hoặc dùng bài Tô tử giáng khí thang lợi đàm giáng khí để yên xung nghịch, hay dùng bài Tiểu sài hồ gia Long cốt, Mẫu lệ để dẫn xung nghịch xuống. Thang Quế linh, thang Tô tử là phép trị đàm ẩm, dùng để trị xung nghịch.

Tiểu sài hồ thang là phép thanh hỏa để trị xung nghịch, phương Tiểu sài hồ này trị nhiệt nhập huyết thất. Ta biết rằng huyết thất thuộc can, mạch xung khởi từ huyết thất, nên thuộc can, trị can tức là trị mạch xung vậy.

Huyết thất ở đàn ông con trai gọi là Đan điền, ở đàn bà con gái gọi là tử cung, gốc của nó bắt đầu ở thận bên phải, chân dương của thận ở bào trung, là gốc sinh ra khí, là dương ở trong âm, can mộc nhờ đó mà sinh ra và phát triển đó là tướng hỏa. Hỏa này nếu không về gốc thì đó là hỏa long lôi, lông cốt, mẫu lệ là vật thuộc dương mà hay giấu kín, lấy đồng khí để tiềm phục dương khí đó là trị mạch xung tiến lên một bước vậy, hợp với thang Tiểu sài hồ có công lớn thanh liễm tướng hỏa.

Nếu thận kinh âm hư, dương khí không dựa vào đâu được, hỏa của long lôi vượt lên, dùng nhị gia long cốt thang gia A giao, Mạch đông, Ngũ vị để dẫn về thận cũng tốt. Bát vị hoàn, Mạch vị lục vị thang đều có thể châm chước mà dùng.

Hai phương này (Bát vị, Lục vị) một là lấy thuốc ấm để hóa khí, thận ở dưới xung mạch lại là gốc của xung mạch, an thận khí tức là an xung khí, xung khí an thì huyết hải an mà không thể trào lên được.

Nói tóm lại, huyết mà không được an đều do khí không an, ninh khí tức là ninh huyết.

Trên đây dùng phép trị các khí cũng đủ và rõ ràng, khi lâm chứng xét kỹ mà dùng.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading