Khi huyết đã chỉ rồi, những huyết đã đọng ở trong kinh mạch không thể trở về đường cũ, trên thì đọng vào sống lưng hông ngực, dưới thì đọng ở sườn bụng dưới. Đọng mà không hoá thì thấy đau nhức hoặc chạy ra tứ chi thì sưng đau hay trệ ở cơ tấu sẽ sinh ra nóng lạnh. Phàm chổ nào có ứ, đều úng tắc đường lối của khí, trở trệ sự lưu thông lâu ngày, sẽ sinh ra chứng cốt chứng, can huyết lao trái, phải kịp thời trừ khử đi. Một khi trong kinh lạc đã có huyết ứ, ở đó huyết mới không thể lưu thông dể dàng, rồi cũng chạy càn mà thổ ra. Cho nên cho nên lấy khử ứ làm yếu phép trị huyết. Dùng Hoa nhị thạch tán để huyết ứ hoá thành nước mà xuống, lại không đọng đén chân khí của ngũ tạng, là thuốc khử ứ hay nhất.

                  Nếu không có Hoa nhị thạch thì dùng Tam thất, Uất kim, Đào nhân, Ngưu tất, Đại hoàng (sao giấm) (bài Thác hoàn tán), cũng có công trị huyết ứ rất mạnh.

Xét rằng huyết cũ không tốngkhứ đi, thì huyết mới không thể sinh ra được, mà huyết mới không sinh thì huyết cũ không khử được. Nên biết rằng huyết ứ được khứ đi thì tân huyết ngày ngày sinh ra, huyết ứ không còn chỗ nào lưu lại được, hoặc hoá theo đường tiện hay truyền vào đại tràng. Hoa nhị thạch phá huyết theo đường tiểu tiện mà đi, bài Thác hoàn tán phá huyết theo con đường đại tiện mà đi, nhưng có thể khử ứ huyết đi mà không thể sinh ra tân huyết, nên biết rằng: khu tà là nhờ ở chính không bổ huyết, mà khứ ứ thì ứ không thể khử hết được. Nên dùng Thành dũ thang bổ huyết gia Đào nhân, Đan bì, Hồng hoa, Chỉ xác, Hương phụ, Phục linh, Cam thảo, bổ tả đều dùng cả, ứ khứ đi mà chính không hại. Đại ý khí huyết là như thế.

              Xong cũng có khi nên dùng thuốc ấm. Nội kinh nói:”huyết thì thích ấm mà ghét lạnh, lạnh thì khít lại không  chảy đi, mà ấm thì tiêu mà chạy đi”. Nếu có nhiệt phục ở âm phận, thuốc mát không thể công hiệu, nên dùng phép tòng trị để dẫn dương ra ngoài âm, nên dùng bài Bách diệp thang của Trọng Cảnh là phương thuốc trị hàn đọng huyết trệ, cũng là phép tòng trị ứ huyết phục ở trong âm vậy. Song ba vị thuốc ấy là thuốc âm, nếu gặp hoả nhiều thì không nên, nên gia thuốc khoan hoà mềm mại để điều đình thì hợp với Tứ vật thang, lại có khi hợp với Tả tâm thang, là lấy đó để phản tá vậy (lấy bài Bách diệp thang để phản tá). Trên đây là không luận phép trị ứ huyết.

              Mà ứ huyết đọng ở trong người ta, trên dưới trong ngoài đều có bộ phận khác nhau, ta phải phân biệt bộ phận để chữa thẳng đến sào huyệt, thì phép chữa hiệu nghiệm rất cao.

Xét rằng: Huyết ứ ở thượng tiêu thì thấy ngực lưng, vai, cánh tay đau nhức, tê tái, đầy trướng. Nên dùng Huyết phủ trục ứ thang hay Nhân sâm tả phế thang gia Tam thất, Uất kim, Kinh giới để quét sạch hết ứ huyết ở thượng tiêu.

             Huyết ứ ở trung tiêu thì trong bụng trướng đầy, lưng sườn đau, mạch đới chạy quanh rốn một vòng. Dưới liền với huyết thất (bào cung) con gái để mang thai, con trai để bó mình là nơi quản lĩnh của huyết. Phàm chứng thất huyết thì mạch đới bệnh nay ứ huyết trệ ở bộ phận đó, thì nên khứ đi để an mạch đới, mạch đới ở trung tiêu là bộ phận của tỳ, xem bài Thận trước thang của Trọng Cảnh thì thấy rằng trị tỳ tức là trị đới. Đới mạch có ứ huyết nên dùng Giáp kỷ hoá thổ thang (Cam thảo thược dược) gia Đào nhân, Đương quy, Khương hoàng.

Đau lưng nhiều gia Lộc giác.

Sườn bụng đau nhiều gia Bồ hoàng, Linh chi.

Huyết ứ ở hạ tiêu thì từ bụng trở xuống đau nhức, bụng dưới, dưới sườn trướng đầy, đó là ứ huyết ở bộ phận can hay tích ở bào trung huyết hải mà đau, nên dùng bài Khung quy thất tiếu tán.

Nếu đại tràng bế kết gia Đại hoàng.

            Ông Trọng Cảnh trục ứ, đại để có Đại đường thang, Đào nhân thừa khí thang đều là khổ hàn, đại phá, đại hạ, đó là phương trị ứ rất hay. Cũng có khi nên dùng thuốc ấm để hạ là bài Ngưu tất tán và Sinh hóa thang, đây là những phương thuốc của sản khoa, sau khi sanh trị máu hôi và nhau không xuống.

            Tôi cho rằng máu nữ có khác nhau, nhưng máu thì cùng như nhau, cùng là bệnh hạ tiêu ứ huyết nên mượn những phương này thường thường rất hiệu nghiệm. Hạ tiêu là âm phận, thượng tiêu ứ huyết phần nhiều thuộc dương nhiệt, thường kỵ những thuốc ôn nhiệt.

            Hạ tiêu ứ huyết phần nhiều thuộc âm khí đọng lại cho nên sản phụ thích ấm mà kỵ lạnh, là vì huyết ở hạ tiêu vậy. Biết thế thì biết lấy thuốc ấm trị huyết ứ ở hạ tiêu càng hợp lý. Song cũng nên xét nếu là hàn đọng mới dùng thuốc ấm.

            Nếu huyết thất nhiệt thì là chứng Đào nhân thừa khí.

            Lại có chứng huyết ứ chảy rót xuống các nơi, chân tay đau nhức, thủy trướng, thì nên hóa huyết ứ đi, tiện lợi thủy trướng nên dùng Tiểu điều kinh gia Tri mẫu, Tang bì, Phục linh, Ngưu tất.

Có ứ huyết trệ cơ tấu, trở trệ vinh vệ phát rét, phát sốt tựa sốt rét, mà không phải sốt rét, nóng âm ỉ trong xương, đổ mồ hôi trộm, ho nghịch đờm dấy lên, nân dùng Tiểu sài hồ thang gia Đương quy, Đào nhân, Đan bì, Bạch thược.

Lạnh quá gia Kinh giới tuệ, Tế tân.

Nhiệt quá gia Hoa phấn, Cát căn, Thạch cao, Tri mẫu.

Ho có đàm hỏa gia Qua lâu, Hạnh nhân, Ngũ vị, Mạch đông, Bạch linh, Tri mẫu.

Thủy âm xông lên gia Đình lịch tử, vì phương thuốc Tiểu sài hồ là phương thuốc phạm thượng tiêu và hạ tiêu, để sơ đạt can khí, để can khí không uất, thì đi dễ dàng trong tấu lý mà vinh vệ được điều hòa, nay gia thuốc khứ ứ thì thiên về khứ ứ, phàm ứ huyết trở trệ trong vinh vệ dùng là rất hay.

Tóm lại, huyết ứ ở trong tạng phủ lâu ngày biến thành can huyết (huyết khô) hóa làm lao trùng.

Huyết ứ ở vỏ mình hay bệnh thiên khô hoặc hóa thành ung mủ.

Huyết ứ ở cơ tấu, tán thì biến thành cốt chưng, lông tóc khô rụng, cơ thể gầy mòn, tất cả những chứng không trị được, đều do không khéo khứ ứ, mà thành ra. Phàm trị chứng huyết trước tiên phải khứ ứ là cần trình bày riêng ở môn ứ huyết.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading