Khi tà khí cảm vào thì chính khí bị hư, không những phép bổ là để bổ hư, không những phép chỉ huyết, phép tiêu ứ dùng thuốc công phạt cũng vì sợ rằng để lâu thì thành hư, cho nên phải gấp rút mà công đi, mục đích là đuổi hết tà khí cho khỏi bị thành hư. Nhưng lúc bấy giờ tuy rằng sợ hư, nhưng chưa có hư nhiều, cho nên dùng khứ tà là việc cần thiết, nếu để lâu ngày tất nhiên thành hư, đến lúc huyết đã theo lối thường như người khỏe mạnh, nhưng những huyết trước đã thổ ra, đã mất không còn. Kinh lạc tạng phủ lại là đường huyết đã chạy đi, nếu không dùng phép công bổ tư dưỡng thì không hoàn toàn được. Phép bổ không có một kiểu cách trước. Cần bổ phế vị, thế là phế ngoài chủ về bì mao, trong chủ về trị tiết, một khi phế hư thì tân dịch khô kiệt, lúc ấy sinh ra các chứng suyễn, ho, ngay, táo vì trị tiết không đi xuống được, cho nên khí lên thì huyết cũng lên, vì thổ huyết thì thương phế khí vậy. Cho nên mới thổ thì chữa vào phế, một khi huyết đã chỉ rồi cần phải bổ phổi, là điều kiện cần thiết dùng nhuận phế cam tư bổ âm dịch của phế, khi phế đã có tân dịch nhuận nhàng, thì lá phổi sẽ rũ xuống, khí trạch nhân đó mà xuống dưới lợi bàng quang, nhuận đại tràng, mọi lổ thông đều, ngũ tạng được ích lợi.
-Nếu lá phổi bị khô teo đi không rủ xuống được, tất nhiên lá phổi lúc ấy cất lên thì khí cũng ngược lên, lúc đó không nằm được, và thở cũng rất vất vả, ngoài ứng với bì mao không tươi nhuận được, bên dưới đái ỉa không đều, chân bại, đại tràng ráo, lúc ấy sinh ra rất nhiều bệnh, chỉ có Cao nhuận phế, cao này là nhuận tân dịch, là thuốc rất hay cho trường hợp nuy, táo.
-Gần đây ông Hoằng Khôn Tái lập bài Địa phách thang bổ thổ sinh kim, bổ kim thì sinh thủy, với phép bổ phế cũng được. Ngày nay thường dùng bài Sinh mạch tán để thay cho nước trà uống thường ngày.
-Bài Hoàng Kỳ Nhu Mể Gia A Giao, Mạch đông cũng xung bổ Phế tà.
Các bài thuốc trên đều tư bổ phế âm, các chứng thất huyết đều cần phải dùng.
-Ông Trần Tu Viên nói rằng: “Huyết tuy là âm loại, nhưng vận hành nhờ ở khí dương hòa, dương khí của Tâm của Phế tỏa ra như mặt trời, mặt trăng mọc lên thì những ánh sáng lặt vặt không sáng được nữa”. Mọi thứ tà nhiệt đều bị khư trừ, huyết tự nhiên không quấy nhiễu lên nữa mà hoạt động cứ theo đường lối thông thường, cho nên có phép ôn bổ phế dương dùng Bảo nguyên thang, thuốc cam ôn để trừ đại nhiệt, phế dương tỏa ra thì mù mịt tự tiêu đi.
-Có đàm ẩm, ho hắng gia Hạnh nhân, Ngũ vị, hoặc dùng Lục quân thang gia Bào khương, Ngũ vị. Nội kinh nói: “Hình hàn ẩm lãnh thì tổn thương phế”. Vì câu đó mà lập ra phép bổ phế.
-Dương hư sinh ra bên ngoài sợ lạnh, với trọc âm can phạm lên thượng tiêu, dùng để phù dương khí của phổi thật là phép hay. Song những người bị thất huyết phần nhiều là âm hư, nếu khư khư giữ câu cam ôn trừ đại nhiệt cho uống liều những thuốc ấy, là sai lầm. Cho nên gần đây theo ý của ông Tu Viên thì khi chữa được tạp chứng màkhông thể chữa được hư lao vì thiên lệch về bổ dương vậy.
-Song lấy lẽ mà bàn, vốn có nghĩa khí không giữ huyết, cho nên trong số cả chục người, cũng có vài người nên bổ dương, cũng cần nói rõ phương pháp để cho người ta biết hết được lúc thường lúc biến.
-Tâm là quân hỏa chủ huyết, nếu huyết hư hỏa vượng thì sinh ra rạo rực mất ngủ, tim hồi hợp hay quên, đái đục, di tinh, bí kết, thần khí không yên nên dùng thiên vương bổ tâm thang để đem thủy của thận giao lên với tâm, hỏa không bốc lên thì tâm sẽ được nuôi dưỡng.
-Nếu tâm thận không giao nhau, cùng phương này bổ thủy, an tâm thì rất tốt.
-Nếu không quan hệ đến thủy hư, chỉ do tâm huyết hư, mà hỏa vượng lên, thì chỉ dùng thuốc dưỡng huyết thanh tâm mà thôi, bài chu sa an thần hoàn tả tâm hỏa, bổ tâm huyết lại an tâm thần, các chứng hồi hợp hay sợ, rạo rực, mất ngủ đều nên dùng.
-Nếu tâm dương không thu, đổ mồ hôi kinh sợ cùng là tâm hỏa không giao xuống với thận mà thành chứng mộng di, đái đỏ, thì dùng hai phương trên gia Long cốt, Mẫu lệ, Táo nhân, Liên tâm, nhù tiểu mạch để liễm tàng vào đó là phép trị tâm kinh huyết hư hỏa vượng.
-Còn có chứng tâm hỏa hư không sinh ra huyết được, gầy mòn, khiếp sợ, mạch tế nhược. Nên dùng nhân sâm dưỡng vinh thang bổ tỳ vị để bổ tâm. Nội kinh nói rằng: “Trung tiêu thu lấy khí, nhận lấy nước, cốt biến hóa thành đỏ là máu”. Phương này bổ tâm hóa huyết để nuôi dưỡng khắp thân thể, gọi là dưỡng vinh là chuyên chủ lấy dương sinh âm, điều hòa vinh huyết, nếu khí huyết đều hư biến thành các chứng khác là nên uống. Song phụ nữ băng huyết, sản hậu, mất huyết quá nhiều, đều dùng ôn bổ làm chủ.
-Nhân vì huyết tả xuống thuộc về chứng thoát, đến như thổ huyết là huyết mạch hưng phấn lên phạm đến dương phận, đó là chứng nghịch, ôn bổ thì rất ít, phải cẩn thận.
-Song cũng có người dương không thông âm, bạo thoát, đại thổ, âm mất mà dương cũng theo đi mà mất, thì ôn bổ lại là phép cần thiết nhất.
-Cho nên gần đây các thầy theo thuyết ông Đan Khê thì chuyên dùng thuốc khổ hàn, theo thuyết ông Trần Tu Viên thì chuyên dùng thuốc ôn bổ, đều là cái không tốt vậy.
-Tỳ chủ thống huyết, vận hành lên xuống đi khắp thân thể, tỳ là hậu thiên, ngũ tạng đều nhờ khí ở tỳ, cho nên thuốc bổ đều lấy tỳ làm chủ, lo nghĩ hại tỳ không thể nhiếp huyết, hay quên, hồi hộp, kinh sợ, đạo hãn, hay nằm, ít ăn, đại tiện không điều hòa đều dùng Quy Tỳ Thang.
-Tỳ hư phát sốt gia Đan bì, Sơn chi.
Nếu kiêm cả phế ráo gia Mạch đông, Ngũ vị.
-Đầy trướng ăn không tiêu gia Trần bì, Ổi khương hay gia A giao để tư huyết, hoặc gia Sài hồ, Bối mẫu để giải uất, hay gia Ngưu giao để bền huyết.
-Chỉ có Thục Địa là không nên gia vào vì Thục Địa làm trở ngại cho sự thống huyết vận hành, vì phương này là tổng phương lấy dương sinh âm, lấy khí thông huyết, không giống như Tứ Vật hay Lục Vị lấy âm để ích âm vậy.
Phép tư âm của tỳ với can thận khác nhau hẳn, nếu tỳ âm hư, mạch sác, mình nóng, họng đau, khản tiếng dùng Dưỡng chân thang sắc bỏ nước đầu chỉ uống nước thứ 2, thứ 3. lấy vô vị để bổ tỳ là bí phép tư dưỡng tỳ âm. Bài Giáp kỷ hóa thổ thang (cam thảo, thược dược) cũng giãm đán (giãm = dễ dàng). Nhân sâm, Hoa phấn cũng là thuốc cần để sinh tân dịch, đời chỉ biết rằng: Sa nhân, Bán hạ, Khương nhục đậu khấu là thuốc cần cho việc phù tỳ, để ăn được nhiều, không biết rằng tỳ dương không đủ thì không thể tiêu hóa thủy cốc. Sa, Bán, Khương, Khấu là thuốc cần thiết. Nếu tỳ âm không đủ tân dịch, không thể tiêu hóa thủy cốc được, thì nhân sâm, hoa phấn lại là thuốc cần. Xem như bệnh ăn vào mữa ra cơm nước không xuống được là bởi tân dịch của vị khô ráo, thì biết rằng: “tân dịch là gốc để tiêu hóa cơm nước”.
Gần đây sách Tây y truyền vào, so với ý của Nội kinh phần nhiều ngơ ngác, thực ra Nội kinh nói về thần hóa, mà Tây y thiên về hình tích, lấy ý của Nội kinh mà xem với Tây y thì thần hóa có thể gồm cả hình tích, song Tây y xét kỹ hình tích cũng có vài điều thông với thần hóa. Ý của Nội kinh nói là: “Tỳ chủ tiêu hóa thủy cốc”, khí của can đảm ký ở trong vị để sơ tiết thủy cốc, Tây y thời nói: Cơm nứơc vào dạ dày có nước bọt vào để tiêu hóa đi,lại có mật vào tiểu tràng kết hợp với nước bọt để hóa thức ăn. Nội kinh nói rằng: hóa thức ăn bằng khí. Tây y nói rằng: hóa thức ăn bằng nước bọt.
-Có khí ấy thì tự nhiên có trấp ấy, nay đọc Nội kinh không biết rằng kinh văn lấy cái tinh mà bao gồm cả cái thô, đến nỗi được cái dụng mà mất cái thể, trái lại không bằng Tây y theo hình tích mà tìm, còn biết rằng hóa thức ăn bằng nước bọt, nhưng Tây y có lối luận ấy mà khi dùng thuốc không kinh nghiệm, không đáng. Theo tôi Đường Tôn Hải thì tư dưỡng nước bọt của vị thường dùng Cam lộ ẩm, Thanh táo dưỡng vinh thang, Diệp thì dưỡng vị thang, tư dưỡng nước bọt của… dùng Nhân sâm cố bản thang, Chính cam thảo thang bỏ Quế chi, Bạch thược.
Tư dưỡng nước mật dùng Tiểu sài hồ thang bỏ Bán hạ gia Hoa phấn sinh tân hóa thức ăn để chiết trung y pháp của Trung-Tây là yếu nghĩa của phép bổ dưỡng tỳ âm. Biết như thế thì mới có thể điều bổ vào những điều không đủ trong thuyết tỳ vị luận của ông Lý Đông Viên.
Nếu quả là tỳ dương không mạnh, không thể tiêu hóa cơm nước, thì dùng Lục quân tử thang gia Mộc hương, Sa nhân để táo tỳ, nhưng muốn chú ý về điều bổ thì bài Tiểu kiến trung thang tốt hơn bổ dương đến âm là thanh phương trị hư lao.
-Ngày nay không thể theo phương ấy, phải nên biết được ý thì các phương Quy tỳ, Lục quân, Bổ trung ích khí mới có thể biến hóa thần kỳ được, thì mới có thể thu được hiệu quả to lớn. Bài Quy tỳ thang theo chổ trọng yếu của bài Kiến trung thang mà dùng ý, Bổ trung thang cho chổ khinh thanh của Kiến trung thang mà dùng ý, song phương này (Tiểu kiến trung thang), Quế chi thuộc dương táo. Với huyết chứng có người nên dùng có người không nên dùng, khi dùng cần phải xét kỹ lưỡng, khi chân hỏa của Mệnh môn không thể sinh ra tỳ thổ, sinh ra mữa ỉa móp lạnh, khi âm hỏa xong lên, đầu mặt sắc đỏ, nghịch đầy, ụa ọe dùng chính nguyên đan.
-On bổ thiếu hỏa mà không lo tráng hỏa hại khí, đó là được ý xót lại của Tiểu kiến trung vậy.
-Bài Bạch phụng cao của ông Các khả cửu làm khí của bài Bình vị biến thành mềm mại, lại dùng rượu mà uống, lấy tinh hoa của ngũ cốc hợp với các vị thuốc của bài Bình vị để bổ dưỡng tỳ vị, trị ăn uống không được, phát sốt, mệt nhọc, hòa huyết, thuận khí, công hiệu rất lớn.
-Can là tạng tàng huyết, huyết vận hành được khắp cơ thể nhờ mạch Nhâm, Xung, Đới. Để làm quản lĩnh cho huyết, mà Huyết hải bào trung lại là nơi huyết qua lại về ở. Can thì giữ về huyết hải, 3 mạch Nhâm Xung Đới lại thuộc can, cho nên muốn bổ huyết đều phải bổ can là cần. Ong lý thời trân nói rằng: “can không có phép bổ”. Vì sợ rằng mộc thịnh khinh lờn thổ, cho nên có lời luận ấy, không biết rằng: Mộc màkhắc thổ thì can huyết hư, lúc ấy hỏa quấy ở trong vị, can khí hư thì thủy trào lên tỳ kinh, kinh thổ là như thế, không phải là can kinh khí huyết có thừa. Vả lại chứng hư lao ở trên đời này phần nhiều là can hư, lý lẽ này từ sau khi thuyết tỳ vị luận của ông Lý Đông Viên ít có người biết được.
-Can huyết hư thì rạo rực mất ngủ, nóng âm ỉ trong xương, mộng di tinh, nên dùng Tứ vật thang gia Táo nhân, Tri mẫu, Phục linh, Sài hồ, A giao, Mẫu lệ, Cam thảo, thu liễm can hồn, tư dưỡng can huyết, thanh nhiệt trừ phiền, làm phép tư bổ cho can kinh bị âm hư.
-Lại có chứng Can kinh khí hư, tạng hàn, hồn khiếp, tinh thần hao tán. Dùng Quế cam long mẫu thang để liễm giúp can dương, khi can dương hư sinh ra các chứng di tinh, hay sợ, hồi hộp đều nên dùng, riêng có chứng thất huyết chưa được hợp nghi là vì thuần dùng những thuốc về khí phần nên dùng bài Nhân thục tán.
Có nhiều vị thuốc thuộc huyết phận, ôn nhuận để dưỡng can huyết, công dụng cũng gần như bài Chích cam thảo thang.
-Nếu can huyết không được tốt, mạnh thì nên dùng bài hoạt khí bổ can tán của họ Hoạt lấy vị chua bổ can thể, lấy vị cay bổ can dụng, nhất là một vị Độc hoạt mượn thuốc phong để giương can khí lên.
-Nếu bỏ vị Độc hoạt gia vị Tang ký sinh thì lại có cái mầu nhiệm là làm tắt phong khí của can, ý của phương này theo bài Tiêu dao tán mà ra, những phương này khí vị đều hậu, thuần về bổ can, tiêu dao tán thì khí vị hơi bạc, cho nên thuần về hòa can.
-Nếu can có uất hỏa, ngực sườn nhói đau, đầu váng, tím đậm, môi đỏ, miệng đắng, nóng lạnh, đổ mồ hôi trộm, ăn ít, hay nằm đều trị được cả.
-Lại có chứng can kinh huyết mạch đại tổn, mạch đại, theo phép nên phải cả sinh can huyết, dùng Chích cam thảo thang đại bổ trung tiêu, thu nhân khí, tiếp thu chất nước bọt, với mượn Quế chi để vào tâm, hóa đỏ mà thành máu, khiến nó về can, để sung dưỡng bách mạch là phương thuốc bổ huyết đệ nhất.
Các thầy thuốc bổ huyết mà không được sự hóa nguyên của huyết, thì dùng Quy, Địa cả nghìn cân cũng vô ích.
-Nếu xét thấu đến ý này, thì thang Quy tỳ dùng Viễn chí, Táo nhân là để vào tâm trị nguồn gốc của huyết. Bài Tiêu dao tán dùng Đan bì, Chi tử là vào tâm để thanh nguồn gốc của huyết, theo đó mà suy ra tất có nhiều tiện dụng.
Thận là thủy tạng, lên giúp quân hỏa thì thủy hỏa giao tế nhau lên giao với phế kim thì thủy với thiên (trời) đồng một khí, thủy thăng lên, hỏa giáng xuống không khác nhau mà giúp nhau thì không có gì lo ngại khắc hại nhau.
-Giả thuyết khí của thủy âm bị hư, mà khí của hỏa nhiệt cháy lên thì sinh ra các chứng ho suyễn, đàm huyết lao trái.
Người mà hậu thiên bị bệnh lâu ngày cập lụy đến tiên thiên, bệnh đã nặng quáthì làm sao bây giờ?. Cho nên chữa bệnh cần phải chữa sớm, dùng bài Lục vị thang để bổ thận âm kiêm thoái nhiệt lợi thủy, thoái nhiệt thì thủy âm càng sinh ra, lợi thủy thì thủy âm càng dấy lên vì Bàng quang hóa khí, thủy khí hữu hình chảy xuống thì thủy âm vô hình, như sương mù phun lên mà rải rưới khắp nơi vậy.
-Dùng để giúp quân hỏa thì phải gia Câu kỷ tử, Huyền sâm.
-Dùng để thâu phế kim thì gia Sâm, Mạch, Vị.
Hỏa nhiều quá gia Tri mẫu, Hoàng bá.
Tiểu tiện thanh hòa không có đàm khí, chỉ cần tư thận thủy thì uống Tả quy ẩm tốt hơn. Hỗi long thang tư âm giáng hỏa, đồng khí tương cầu quý hơn là các thứ thảo mộc vô tình.
-Nếu âm hư hỏa vượng, chân bại, gân co, sốt âm ỉ trong xương, đầu váng, dùng Đại bổ âm hoàn của Đan khê để Tư âm tiềm dương, lấy khổ hàn để bồi bổ sinh khí hơn là bài Lục vị thang trên đây là phép bổ thận dương.
-Lại có chứng nên bổ thận dương, thận là thủy tạng mà bên trong có dương khí, đó là Mệnh môn hỏa, Mệnh môn hỏa này vượng lên thì là hỏa long lôi, liễm xuống thì là khí nguyên dương.
-Nếu dẫn hỏa long lôi về nguyên chổ thì không có chứng thượng nhiệt hạ hàn như nhức đầu, đau lưng, sưng, suyễn, bí đái, đái gắt. Dùng Bát vị hoàn theo âm hóa dương, bổ hỏa giúp thủy lại gia Ngưu tất, Xa tiền, hay Hoàng bá, Tri mẫu thì lại hay lợi thủy, bẻ gãy thế của hỏa.
-Nếu như không cần hóa thủy chỉ cần bổ dương thì dùng Hoàng kỳ thiên hồn thang, thang này từ thang Phu tử của Trọng Cảnh mà cải biến ra, tuy rằng lực lượng không khỏe bằng Phụ tử thang, nhưng so với Phụ tử thang thì phương này thuần hòa hơn. Những bệnh về huyết vốn kỵ thuốc cương táo, nhưng có người nên bổ nguyên dương thì cũng lấy những phương này làm tốt hơn.
-Dương khí của thận mà đạo đạt lên can được, thời mộc ấm mà huyết hòa, đạt lên tỳ thì thổ hậu (dày) mà cơm nước tiêu hóa, gân xương cứng cáp, chân tay ấm áp, vệ khí bền chặt không sợ lạnh, đều là do thận dương đầy đủ vậy, song thận thủy nhờ thận dương để hóa ra, mà thận dương lại nhờ thận thủy để giữ gìn, lẽ này không thể thiên lệch được, muốn bổ thận cần phải xét kỷ càng. Trên đây là luận về phép bổ, nặng nhẹ, tiến thoái, đều có pháp độ, không như nhóm ông Cảnh Nhạc chỉ tập hợp thuốc bổ mà thôi.
Tóm lại: Luận bàn huyết chứng thuộc môn hư lao, cần phải tư bổ. Nhưng sự ứ tà chưa hết, mà vội dùng phép bổ đúng là cầm cộng tà ở lại để làm hại chính khí mà thôi.
-Xem những chứng can huyết lao trái đều do thầy thuốc chữa nhằm, dùng tư bổ thành ra ứ huyết không hết, tân huyết không sinh, không biết rằng ứ huyết ở trong kinh lạc tạng phủ như cây có bù xè, không biết bắt bỏ nó đi thì cây chết mà bù xè còn nguyên. Cho nên ông Trọng Cảnh trị can huyết dùng Đại hoàng, giá trùng hoàng đã thành chứng hư lao, mà trong có can huyết (huyết khô đọng lại) còn dùng thuốc mạnh để tiêu can huyết ấy đi, thì bệnh hư chưa thành không nên lưu tà lại làm hại, cho nên chứng thực không thể dùng các phương bổ hư, mà chứng hư không thể bỏ các phương trị chứng thực, là sợ lưu tà làm hại vậy. Hoặc chứng trong hư có thực thì công bổ kiêm dùng hoặc mười bổ một công ở thầy thuốc giỏi giang cao kiến vậy.
-Trên đây bàn chứng thổ huyết, phép trị trước sau đã đủ, chỉ còn kiêm chứng, biến chứng chưa nói rõ, phải lập riêng từng môn loại rõ ràng để tra xét.