LONG ĐỞM THẢO
“Đởm Thảo đại hàn, Can Đởm vị hỏa,
Trang 94
Não mô viêm chứng, thấp nhiệt thần công”
BỆT DANH
Đởm Thảo, Lăng Du, Khổ Đỏm, Quang Âm Thảo.
HÌNH LOẠI
Là rễ của một loại thảo ở rừng núi. Có túc căn.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Gan Mật, Bàng Quang để tả mạnh thiệt hỏa và trừ thấp nhiệt ở thận kinh.
TÁNH VỊ
Vị rất đắng, tánh rất lạnh, không độc.
CHỦ TRỊ
Là thuốc quan trọng để trừ tà hỏa, thấp nhiệt. Công năng kiện vị, trị lỵ, sát trùng. Gồm trị hỏa ở Gan, Mật, Vị và thấp nhiệt ở thượng tiêu.
KINH NGHIỆM
Long Đởm Thảo vì rất đắng, rất lạnh nên trở thành thuốc quan trọng để tả Gan Mật, nhất là trường họp sưng màng óc cấp tính (cũng là hệ thống của Gan Mật). Chỉ cần tá thêm Linh Dương tiêm, Tê Giác, Thanh cao, Trừ Cúc, Sanh Địa, Sanh Thạch Cao chẳng hạn. Thì tuy tình trạng đến giựt ểnh ngược như phong đòn gánh đến nỗi phải rút nước bớt xương sống chăng nữa cũng có thể vãn hồi. Nếu không dám dùng đại lương Đởm Thảo thì không hay mấy. Đây là sự thiệt mà chính tác giả tiếp xúc. Vì là thuốc đắng dữ, lạnh dữ nên hễ trúng bệnh thì thôi chớ nên lạm dụng có hại cho bộ tiêu hóa.
CẨM KỴ
Người vị hư huyết thiếu, Tỳ vị hư đi tiêu chảy và bệnh hư nhiệt đều kỵ. Nếu người mạch hai bộ quan không thiệt, không có triệu chứng thiệt nhiệt là không nên dùng.
DỤNG LƯỢNG
Từ 5 phân đến 1,5 chỉ.
PHỤ LỤC
ở vùng núi Việt Nam có một loài cỏ, lá như lá cây cau mới lên, củ rễ cũng thuộc loại túc
Trang 95
căn như Long Đởm Thảo. Nhưng thịt mình nước, chỉ hơi đắng chớ không đắng như Long Đởm Thảo. Tính hơi mát chớ không lạnh. Những người ở núi thường gọi Sâm Cauu, lấy nấu nước uống để giải khát. Tuy có công hiệu tương tự Long Đởm Thảo, nhưng rất ít, phải dùng độ lượng rất cao mới có công hiệu, nên phải đề phòng thị trường tráo trở.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading