ĐƯƠNG QUY
“Đương Quy cam ôn, sanh huyết bổ tâm, Phò hư ích tổn, trục ứ sanh tân”
BIỆT DANH
Thái Cần, Văn Vô, Sơn Tán, Càn Quy, Gia Mã Vũ, Hi Di Linh Chi.
HÌNH LOẠI
Là một thứ củ của loài thảo có nhiều giống khác nhau và có nhiều nơi có, nhưng giống ở Thiểm Tây và Tứ Xuyên là tốt nhất. Củ có nhiều rễ, thịt màu vàng xen hơi đỏ, cũng có thứ thịt trắng như Xuyên Quy không tốt bằng thịt đỏ. Dùng củ làm thuốc.
TÁNH VỊ
Vị ngọt đắng cay, tánh ấm không độc.
CHỦ TRỊ
Là thuốc quan trọng để bổ huyết. Tất cả trường họp huyết thiếu, dơ bẩn. Trị tê nhức, các ghẻ, phá huyết xấu sanh huyết tốt, bồi bổ sự thiếu thốn cho phụ nữ, là thuốc điều kinh rất quan hệ.
KINH NGHIỆM
Quy Thân dưỡng huyết, bổ huyết . Quy Vĩ hành huyết. Toàn Quy cùng với Sâm Kỳ thì vừa bổ khí vừa sanh huyết. Cùng với Khiên Ngưu, Đại Hoàng thì hành khí phá huyết. Gặp Quế, Phụ, Sơn Thù thì nóng. Gặp Đại Hoàng, Mang Tiêu thì lạnh. Quan hệ ở tá sứ phân định. Chưng rượu thì trị nhức đầu, hượt huyết. Chế với Gừng thì kiêm trị đàm. Sao với muối thì đi xuống. Bệnh đàn bà không thể thiếu.
Trang 96
CẨM KỴ
Tánh hượt nhuận nên trường họp đi tiêu chảy phải thận trọng. Vị cay xen lẫn nên trường họp nhiều mồ hôi phải thận trọng.
Đương Quy sợ Xương Bồ, Hải Thảo, Sanh Cương, Bột Mì, vì nó thuộc nhuận nên thiệt ráo và thiệt ẩm là trở ngại cho nó.
DỤNG LƯỢNG
Từ 2 đến 4, 5 chỉ.
Phương to có thể 1 hay 2 lượng.
PHỤ LỤC
Đương Quy trên thị trường có rất nhiều giống. Giống Nhật Bổn thì vị lạt, công dụng rất ít mà không hại. Giống Quy Đầu hay Tây Quy thịt vàng dợt hoặc trắng, bổ và tiết mồ hôi nhiều hơn hượt huyết. Xuyên Quy thì nhuận bổ thông hượt cân phân. Neu dùng đầu thì bổ, đuôi thì tả. Còn giống Đại Hàn củ rất to rễ quá nhiều và nhuyễn, thịt xốp, dễ hư, quá cay, quá hượt, uống vào rất dễ đổ mồ hôi và đi tiêu chảy, rất ít chất bổ. Phải nên thận trọng.
ĐƯƠNG QUY
Written by