HUỲNH BÁ
Huỳnh Bá khổ hàn, giáng hoả tư âm, Cốt chưng thấp nhiệt, hạ huyết kham nhâm”
BIỆT DANH
Son Đồ, Bá Mộc.
HÌNH LOẠI
Là một thứ vỏ cây Kiều Mộc, mỗi năm có thay lá, mọc hoang trong rừng, xứ lạnh rất nhiều.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Thận kiêm Bàng Quang để tả mạnh Thận hoả, trừ thấp tà ở Bàng Quang.
TÁNH VỊ
Vị đắng, tánh lạnh, không độc.
CHỦ TRỊ
Là thuốc cần thiết để trừ nhiệt sát trùng, chắc Thận thêm âm. Chủ trị nhiệt kết, Huỳnh Đản, các chứng nuy, ung. Trị các ghẻ đau, kiết lỵ, hạ huyết. Tả tướng hoả ở Bàng Quang. Trị lâm, trược, Bạch Đái và Trường vị kết nhiệt.
KINH NGHIỆM
Công hiệu của Huỳnh Bá tuy nhiều, nhung nêu lên đại khái có 6:
Tả tướng hoả ở Bàng Quang
- Trị hạ tiêu thấp thũng
- Bệnh kiết ly đi tiêu thấy máu trước, thấy phân sau.
- Thông tiểu tiện kết.
- Trị chứng đau ở rún
- Bồi bổ thận không đủ, mạnh cốt tuỷ. Nên họp với Thương Truật trị bệnh nuy rât hay.
CẤM KỴ !
Sợ Càn Tất. Nó phục Lưu Hoàng. Người nào âm dương đều hư, Tỳ Vị bạc nhược 1 đêu kỵ.
DỤNG LƯỢNG
Từ 5 phân đến 2 chỉ. I
PHỤ LỤC
Ở Việt Nam có loại cây Kiều Mộc gọi là cây Gáo Vàng, vỏ nó vốn trắng cũng có vị đắng, tánh lạnh, phất nhớt. Khi lột vỏ ra bị dưỡng khí hoá biến màu vàng, nên gọi là Gáo Vàng. Cây này cũng có tánh chất giống Huỳnh Bá nhưng không giống lăm.
Một cây nữa ở vùng cao nguyên thường mọc. Thân cây thuộc loại Kiều Mộc, cành lá tựa như cây Gối Hạc. vỏ cũng màu trắng, vàng, vị đắng, chất nhớt, tánh lạnh. Khi lột vỏ ra bị dưỡng khí hoá cũng biến vàng hơi hơi sậm. Phơi khô rồi đem nấu sắc ra nước, sôi lên rất dễ trào. Đó là điều khác hơn Huỳnh Bá.
Nhưng so với cây Gáo Vàng thì giống Huỳnh Bá nhiều hơn, nhờ hiện tượng sôi trào nên đối với Kiết Lỵ chứng nóng mắc rặn có công hiệu hơn Huỳnh Bá. Nên người ta gọi là Nam Huỳnh Bá. Nhưng tên tục địa phương gọi là cây Núc Nác.
Trang 125
Với tác dụng của Huỳnh Bá, Gáo Vàng, Núc Nác, đều phải ở mạch tượng tả Xích sác thiệt, tả thốn phù sác mới là mạch đối tượng của nó.