HUỲNH KỲ
“ Huỳnh Kỳ tánh ôn, thâu hạn cố biểu, Thác sang sanh cơ, khí hư mạc thiểu”.
Trang 126
BIỆT DANH
Miên Kỳ, Vương Tôn, Đái Thầm, Thục Chỉ, Bá Mộc, Ngải Thảo, Cam Bản Ma.
HÌNH LOẠI
Là một thứ rễ của loại thảo, có nhiều nơi có. Nhưng ở vùng Miên, Thượng Sơn Tây sản xuất là tốt nhất. Có thứ mọc hoang ở rừng núi.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Phổi, kiêm vào Tỳ, để sung túc từ trong ra ngoài nên gọi là thác lý đạt biểu. Tỳ chủ về bắp thịt. Phổi chủ về da lông, nên nói vào Tỳ bổ khí, vào biểu triệt vệ. Là món thuốc đứng đầu trong các loại thuốc bổ khí.
Tánh lệch hẳn về thuần dương, nên không có khả năng sanh tân dịch như Nhân Sâm.
Vì nó bổ Tỳ Phế khí mà phổi thuộc da, Tỳ chủ bắp thịt, nên nó làm cho da lông đổ mồ hôi trái thường. Thêm mỡ, ấm bắp thịt. Nó quan hệ tới mỡ là vì có vị béo. Quan hệ tới thịt là vì vị ngọt. Quan hệ tới khí là vì da ngoài của nó rất khít, nhưng chất nó rất xốp nhẹ (làm cho da khít lại, không tiết khí).
CHỦ TRỊ
Dùng sống thì cố biểu. Không mồ hôi thì làm có mồ hôi. Mồ hôi bất thường thì thu liễm.
Trang 127
Dùng chín (chích) thì sanh huyết, sanh da, bài trừ mủ nung từ trong ra. Đó chẳng qua là vì khí sung túc mà có kết quả. Huyết nhục sanh độc mà hoá thành mủ, vì vậy những khoa như khoa đậu, khoa ghẻ, dương hư, đều dùng nó. Thí dỆ: Biểu không hư mà khí hãm nóng, thì dùng Cát Căn. Biểu hư khí hãm mà lạnh thì dùng Huỳnh Kỳ.
CẨM KỴ
Kỵ Lê Lư, sợ Ngũ Linh Chi, Phòng Phong. Nhưng cũng có trường họp dùng chung rất hay, vì tánh của Phòng Phong vừa đuổi tà vừa mở cửa. Còn Huỳnh Kỳ chỉ đuổi tà chớ không mở cửa. Nên uống Phòng Phong nhiều thì đổ mồ hôi nhiều, còn Huỳnh Kỳ thì không thế. Nếu có mồ hôi là vì nóng nực chớ không phải biểu hư. ^Tóm tắt có câu: Trên nóng dưới lạnh, khí Gan không hoà, mạch hữu thốn nổi to, tuyệt đối không dùng được. Nếu khí không thiếu mà dùng Huỳnh Kỳ sẽ làm ngăn.
DỤNG LƯỢNG
Trẻ con Phổ Thông từ 5 phân đến 1,5 chỉ.
Người lớn từ 1 chỉ đến 4 chỉ.
Nhưng cũng tuỳ trường họp và sự nhận xét bệnh lý của mỗi người.
Written by