Chỗ nào là sở trường đặc biệt của Trung y
Sự trị liệu của Trung y hoàn toàn vận dụng kinh nghiệm của mấy ngàn năm phong phú như nguyên nhân
trị liệu, đối chứng trị liệu, sinh lý trị liệu (nội công, tĩnh tọa, luyện khí), thanh vi trị liệu, kim vi trị
liệu, thổ nha bào trị liệu, vật lý trị liệu (pháp châm), đản bạch trị liệu (pháp cứu), tinh thần trị liệu, tổ
chức trị liệu, có thể nói vận dụng hết khả năng vốn có. Thậm chí còn có biết bao nhiêu dược liệu rất
giàu sinh tố mà nhà hóa học vẫn chưa phát minh được. Lâm sàng vận dụng của Trung y thật rất khoa
học, đại khái như cách lập phương, nào quân, nào thần, nào tá, nào sứ phối hợp vận dụng, đó là chỗ
độc đáo của Trung y vậy. Dược vật của Trung y chỉ cần ở y gia kinh nghiệm trên lâm chứng vận dụng
thì sẽ được phát ở tinh thần mà ứng ở kết quả vậy.
Dược vật sau khi bị Trường Vị thâu hút, nhờ phối hợp thích nghi nên không có những phản ứng không
đẹp, cho nên có thể trị khỏi những chứng phức tạp đồng thời. Chúng ta thường thấy một món thuốc mới
phát minh của một nước nào, bất cứ tuyên truyền công hiệu đặc biệt ra sao chẳng qua sau 2, 3 năm đều
biến thành một thứ danh từ của quá khứ. Như thế nếu không phải có một sự phản tác dụng, tức là trên
thực tế trị liệu với lý tưởng không hợp nhau nên không thể đạt đến thỏa mãn nhu cầu. Như thế phải
chăng vì ở thành phần đơn thuần không thể trị liệu bệnh thể phức tạp ví như vị Ma Hoàng của Trung y,
thành phần của nó có một thứ Diêm cơ thực vật (ankalin) gọi là éphédrine, các nước trên thế giới đổ
xô nhau bào chế có đến mấy trăm thứ khác nhau cũng chẳng qua chỉ là món thuốc làm đỡ cơn suyễn.
Nhưng ở Trung y trên lâm chứng vận dụng lại không phải thế! Lúc xử phương điều khiển vô cùng linh
hoạt, Ma Hoàng được áp dụng không những là vị thuốc tốt để điều hòa cơn suyễn mà còn là một vị
thuốc quan trọng trong bệnh ngoại cảm. Nếu đem phối hợp vào thuốc bổ thì lại hoàn toàn biến hẳn tác
dụng của nó. Thế nghĩa là nếu dùng nó làm vị Quân thì có tác dụng làm dịu cơn suyễn, đổ mồ hôi, nếu
dùng nó làm Phụ Tá thì có tác dụng điều chỉnh tuần hoàn, cải thiện tổ chức. Cũng như Ma Hoàng đặt
dưới Thạch Cao lại có tác dụng tiêu sưng sốt cho nội tạng, nếu đi chung với Hạnh Nhân thì có tác dụng
trị ho. Ma Hoàng phối hợp Phụ Tử, Tế Tân thì trị được chứng Thiếu Âm sợ lạnh không mồ hôi và
chứng thể chất suy nhược. Ma Hoàng tuy có công dụng phát hạn nhưng gốc của nó lại có tác dụng
ngừng mồ hôi. Đồng là một món thuốc mà gốc, cành tánh chất khác nhau, như thế cũng đủ chứng minh
cho giá trị thực nghiệm của Trung y vậy. Theo chỗ thấy của chúng tôi thì các thứ thuốc Âu Tây ngày
nay đều vận dụng trên chiến thuật, còn thuốc của Trung y lại thành tựu trên chiến lược, cả hai đều có
chỗ độc đáo của nó, nhưng cứu cánh thì chiến lược lại thắng hơn chiến thuật. Vì sao? Vì chiến thuật là
nhắm vào từng vùng một của chiến trường chung, còn chiến lược lại nhắm vào toàn diện của chiến
trường. Nhân đây sự lập phương của Trung y có thể trị được những chứng bệnh phức tạp rối ren cũng
như đã từng có một bệnh nhân bị chứng Ung Thư Phổi, lỗ Tai điếc đã nửa năm, khi bệnh Ung Thư sắp
khỏi, trong việc vận dụng hợp phương chúng tôi trọng dụng Xương Bồ, Viễn Chí, Thố Ty Tử… hợp
thành thuốc hoàn cho uống, không những Ung Thư Phổi khỏi hẳn mà còn khỏi được chứng Tai điếc.
Sau chính mình đến phòng khám bệnh của tôi vui mừng khôn xiết đem hết tự sự mà kể lại, còn mang lễ
vật đến tạ nữa.
Trong thời kỳ kháng chiến, tỉnh Tứ Xuyên là đài tư lệnh, thanh niên tỉnh Tứ Xuyên đều phải đi đánh
giặc xa xôi đến tỉnh khác. Khí hậu Tứ Xuyên ôn hòa, đến nơi khác khí hậu lạnh lẽo, lại thêm vật chất
thiếu thốn, nuôi dưỡng không đủ làm cho số bệnh chết càng nhiều hơn tử thương. Đến khi bộ quân dịch
thành lập, Trung Lập Lân làm bộ trưởng rất chú ý đến vấn đề này bèn mời hết danh y Trung-Tây hội
họp đến nghiên cứu cách đối phó làm sao cho bệnh cảm truyền nhiễm được chóng lành. Lúc ấy tôi
cũng được mời tham gia thảo luận, nghe nói quân y viện Quân Chánh có phát một số thuốc Aspirine rất
nhiều cho bộ đội, nhưng vẫn không chút kết quả, lại còn gây thêm suy nhược cho Tim hoặc đổ mồ hôi
không ngừng, trong thời gian gắn bó có thể phục hồi. Tôi căn cứ theo tình hình thực tế nghĩ ra một
phương và thuật rõ dược lý phải do bộ quân dịch thâu dụng, đồng thời bộ quân dịch phải truyền lệnh
cho tất cả cơ quan thâu dụng. Phương ấy như sau đây: Phòng Phong, Hành Hương, Đại Táo, Sanh
Cương, Đường Cát Mởn hợp lại sắc uống. Phương này có những ưu điểm như sau đây:
- Vùng nội địa của Trung Quốc đâu đâu cũng có
- Giá rất rẻ, công hiệu rất lớn
- Quyết định không phản tác dụng như Aspirine
- Thích hợp với thể chất ngừa trong nước, lại thêm rất hợp cho trường hợp vật chất thiếu thốn.
Phương này dùng Phòng Phong, Hành Hương để làm cho giải biểu, còn Sanh Cương đi chung với
Hành Hương để giúp cho tác dụng phát hạn, lại dùng Đại Táo với Đường Cát để thế cho trường hợp
thiếu chất Đường Nho. Uống phương này vào không những khỏi bệnh ngoại cảm lại còn tăng thêm sức
chống bệnh, khôi phục lại hao tổn cho cơ thể nhưng chỉ là ở trong trường hợp trường kỳ kháng chiến, y
phục mền nóp thiếu thốn, nuôi dưỡng không đủ dễ nhiễm bệnh cảm. Nếu đơn độc dùng Aspirine mà
phát hạn đều bị phát sanh hiện tượng tổn Tim, đổ mồ hôi không ngừng nên tôi dùng Đại Táo, Đường
Cát Mởn để ngừa sự suy nhược cho Tim. Thế là Trung y phối hợp phương hoàn toàn có một tinh thần
hoạt bát thích dương, có thể nói là một sự trị liệu rất thông thường của dân gian. Quả thật Trung y trị
bệnh không những không bị hạn cuộc từng thành phần, từng địa phương cơ thể mà lại còn rất chú trọng
đến thực tại toàn diện, thế là có tác dụng tổng thể. Đó là lý do trị được nhiều bệnh tật phức tạp. Chúng
ta cần phải nhắm vào sự trị liệu đặc biệt sở trường của Trung y mà phát huy, phải vận dụng tinh thần
tổng thể trị liệu truyền thống cao đẹp của Trung y và khéo thâu thập phương pháp mới của khoa học để
trở nên kiện toàn thành một thứ văn hóa y học tối tân để mà tiêu diệt bệnh Ung Thư nguy hiểm cho nhân
loại.
Lời bàn của dịch giả
Mũi lõ, con mắt thụt, vì mình, chuộng vật chất, thích máy móc, tiến theo đà lý trí, chú trọng từng phần,
chỗ lý trí cùng đường thì tin có một đấng chủ tể chủ trương thắng kẻ khác, trọng cái học phân tích, đó
là đại khái đặc tánh tương đối của loài người ở nửa quả đất bên kia.
Mũi xẹp, con mắt xụp, vì người, chuộng tinh thần, thích tiện nghi, tiến theo đà trực giác tình cảm, chú
trọng tổng thể, cùng đường thoái lui để lại trực nhận bản thể, chủ trương thắng mình, trọng cái học tổng
thể quy nạp đó là đại khái đặc tánh tương đối của loài người thuộc về nửa quả đất bên này.
Cho nên chánh trị của bên kia là ngón chạnh của lý trí, chiến tranh của bên kia là để mở rộng chiến
tranh, tín ngưỡng tôn giáo đạo lý của bên kia là công cụ của chính trị giả tá lợi dụng, sự ngừa bệnh của
bên kia là dùng bệnh để đổi bệnh, y học của bên kia là ngón chạnh của kinh tế kỹ nghệ.
Còn chánh trị của bên này là tác dụng của uyển chuyển, tình cảm, đạo đức, chiến tranh của bên này là
để tìm lấy lộ tuyến hòa bình thực sự, tín ngưỡng tôn giáo đạo lý của bên này là công dụng của sự an ủi
lòng dân cho đỡ nỗi niềm đau khổ, sự ngừa bệnh của bên này là sự dưỡng sinh chi túc cho bệnh đừng
phát sanh, y học của bên này là hình nhi hạ của tác dụng đạo đức đi vào dân gian.
Như trên đã kể là đặc tánh tương đối của thời năm Châu chưa họp chợ. Đến thế kỷ năm Châu họp chợ
này tuy có xáo trộn nhiễm lây, nhưng tất cả phương diện đều không ngoài na ná như thế cả, thì lẽ tất
nhiên trong việc sử dụng thuốc, việc trị bệnh Ung Thư cũng không ngoài nguyên tắc như thế.
Theo đà lý trí, phân tích đến cái học nguyên tử mút đường bỡ ngỡ trên tâm và vật.
Theo đà trực giác, tình cảm, đánh thối lui đến chỗ hết đường thối lui, dứt bặt mình và người, chỗ này
phải chăng là điểm có thể đụng đầu lẫn nhau của hai hệ thống tiến hóa!
Dịch giả đã từng nói: “Y học mà có chung với Tây là cái sở đoản của nhân loại”. Cũng chính tại chỗ
này. Vì sao thế? Vì vật chất trong nháy mắt có thể năm Châu họp chợ, mà tinh thần sao lại vời vợi ứ trệ
mù tịt sự dung thông?
Nơi đây tác giả nêu lên vấn đề chiến lược, chiến thuật thật rất đúng thời. Có thể nói là một tia sáng lóe
lên trong đêm tối và cũng có thể là một điểm nhu cầu cần yếu cho nhân loại ở thế hệ ngày mai. Vì sao
thế? Vì nơi một con người còn có Lưng với Bụng thay, thì lẽ đâu hai đặc tánh trái ngược trên kia lại
không thể vận dụng cho cùng bù đắp lẫn nhau để trở thành diệu dụng? Chỉ trừ những hạn tinh thần bị
thực tích thì thôi khỏi phải bàn.