Sự khác nhau của bệnh ung thư và tràng nhạc (Lao Hạch)
Ung Thư là một thứ Bướu nguy hiểm bởi sự kích thích âm thầm mà phát sanh thể chất suy nhược, làm
cho tế bào ở vùng có bệnh bị phân tách, phát sanh tác dụng rời bỏ chỗ ở, thần kinh hệ mất năng lực
khống chế nên quần tụ thành khối Ung Thư nguy hiểm, lâu ngày chất độc thấm lan ra trong thân làm cho
nguy đến tánh mạng cho nên gọi là Bướu độc.
Còn một thứ Bướu nữa không nguy hiểm mấy (Sarcoma) nguyên do từ lớp thịt mỡ, chất sớ, xương
sụn… hợp thành. Sự sanh trưởng thường có chỗ nhất định mỗi khi giải phẫu, rồi thường không sanh ở
nơi khác như tế bào Ung Thư, đó là chỗ phân biệt.
Bệnh Tràng Nhạc (tuberculose lymphadenitis) vì kết hạch sanh ở hai bên trước cổ, hễ mụt lớn người ta
thường gọi là Lịch, nhỏ gọi Loa (gọi chung là Loa Lịch) có khi ăn vòng theo Cổ, lây xuống đến Lồng
Ngực hoặc dưới Hố Nách, người xưa gọi là “Mã Đao”. Tục thường có 10 thứ tùy theo hình tượng mà
đặt tên khác nhau, nhưng bổn chất vẫn là một. Phàm liên tục từng thoi như xâu chuỗi, thì người ta gọi
chung nó là “Loa Lịch”. Bệnh Lao Hạch phát sanh bởi vi trùng bệnh Lao theo Yết Hầu hoặc tuyến của
hai hạch ở trong đầu Cổ Họng, hoặc các bộ phận khác mà xâm nhập vào hệ thống máu trắng ở cổ gây
nên, cho nên bệnh Ung Thư với Lao Hạch không những khởi nguyên khác nhau mà lịch trình biến
chuyển cũng khác. Những điểm bất đồng được trình bày như sau đây:
- Bệnh Lao Hạch phần nhiều có tánh di truyền cho nên trẻ con mắc phải rất đông. Còn bệnh Ung Thư
đối với tánh di truyền rất ít thấy quan hệ, nên trẻ con ít bị Ung Thư hơn người lớn. - Bệnh Lao Hạch bởi thuộc bệnh truyền nhiễm ngấm ngầm nên xung quanh mụt Lao Hạch thường có
triệu chứng phát sưng, thường thấy đỏ, còn mụt Ung Thư không phải thế. Mụt Ung Thư ở giai đoạn đầu
tiên không những màu da như thường lại còn không đau, không ngứa, không đỏ, không sưng, nếu lấy tay
sờ khám mới thấy có hạch nhỏ nên người xưa gọi là hạch đàm. Nếu dây dưa lâu ngày không tiêu biến
thành chất độc gọi là ác hạch, vì cứng như đá nên người xưa gọi là thạch thơ. Ví như Ung Thư ở tử
cung người xưa gọi là thạch hà, vì cứng như đá nên đặt tên như thế. Chứng này lúc đầu người bệnh
thường không có cảm giác gì, đến khi bể miệng thì mới phát sanh đau nhức. Đó là đã tiến vào thời kỳ
nguy hiểm rồi, khi phát lên chảy máu càng nguy hiểm hơn. Bệnh Lao Hạch thì không có triệu chứng như
thế. - Mụt Ung Thư sắp phá miệng thường ứa ra một chất nước độc màu vàng lợt, mùi như trứng thúi, còn
Lao Hạch thì chảy ra một thứ mủ đậm, lâu ngày biến thành mạch lươn. Bệnh Ung Thư không có chứng
mạch lươn. Mụt Ung Thư còn có một triệu chứng đặc biệt là đến khi phá miệng thì thịt lồi lên hình như
loại nấm, tục thường gọi hoa sung. - Cắt lấy một chút thịt ở mụt Ung Thư để vào kính hiển vi mà xem, sẽ thấy bởi một thứ tế bào biến
thái kết thành. Ví như một người bệnh, ở mạch máu trắng nơi đùi nổi lên một mụt Ung Thư (chứng này
người xưa gọi là huyền tịch), căn cứ theo lời báo cáo kết quả khám nghiệm của y viện hiện tại thì thấy
có hình thức tế bào Ung Thư. Thế thì tế bào này đã mất sự bình thường nên nhuộm màu cao độ mới
thấy được sự phân tách. Mớ tế bào phân tách này từ bộ sanh dục mà đến. Theo sự phán đoán về sự tổ
chức sinh lý tức là độc Ung Thư của mạch máu trắng. Bệnh Lao Hạch thì không phải thế, trong mủ Lao
Hạch rất dễ tìm thấy vi trùng lao. Bệnh Ung Thư nguyên do thuộc thất tình nội nhân gây ra, còn Lao
Hạch thuộc truyền nhiễm ngấm ngầm. - Đây ta hãy bàn đến huyết thanh. Huyết thanh của một người bình thường nếu đem hòa với Proteus
Antigen trong ống thí nghiệm thì liền có hiện tượng kết khối (clumping). Trên danh từ khoa học gọi là
giao trước (Agglutination). Huyết thanh của người bị bệnh Ung Thư khi hòa với Proteus Antigen mới
không thấy năng lực kết khối. Trừ trẻ con 5 tuổi trở xuống mới có hiện tượng này vì chưa đủ năng lực
giao trước, ngoài ra bất cứ người thành nhân nào, cả đàn bà chửa cho đến những người bị bệnh Lao
Hạch và Bướu thịt không phải Ung Thư cũng đều có năng lực kết khối. Thế thì chứng Ung Thư với Lao
Hạch trên thí nghiệm hóa học phân biệt rất rõ ràng. - Điểm đặc biệt nhất của bệnh Ung Thư là ở chỗ dễ dời đi nơi khác, mỗi khi áp dụng giải phẫu xong
thì lại phát lên ở một nơi khác, sau khi để kim radium hoặc chạy điện thì lại dễ làm cho tế bào bệnh
Ung Thư tràn lan ra toàn thân. Còn chứng Lao Hạch chỉ hạn cuộc ở Cổ, Lồng Ngực, Nách mà thôi. Mụt
Ung Thư có cái hại tràn lan ra toàn thân như thế, như bệnh Ung Thư đầu trên Xương Quai Hàm khi to
lên làm ảnh hưởng trở ngại cho dây thần kinh lỗ Tai nên trở ngại cho sự nghe và ảnh hưởng lây lên sự
ngửi, thậm chí ứa ra chất độc hoặc máu đen như màu cà phê và có khi lây sang thần kinh làm thác loạn.
Khi bể miệng bệnh nhân đau đớn khôn cùng, mất ngủ, bón uất, ống Phổi đàm nhiều, ăn uống mất ngon.
Còn Lao Hạch ít có những triệu chứng trên.
Phàm những người từ 30 tuổi trở lên, hoặc bởi mừng giận bất thường, thuốc lá, rượu mạnh quá lượng,
hoặc vì uất ức không thôi, hoặc bởi sự nghiệp thất bại, hoặc bởi cảnh ngộ đột biến, hoặc vì sau khi
bệnh nặng thiếu sự điều bổ, hoặc thể chất suy nhược, hoặc làm việc quá sức, bao nhiêu sự kích thích
âm thầm, chất độc thừa ứa ra cơ thể càng tăng, chất Hà Nhĩ Mông có lợi càng ngày càng giảm bớt. Ví
dụ như chứng Ung Thư Mạch Máu Trắng ở Cổ, người xưa gọi là Thất Dinh, vì thể chất suy nhược phát
sanh Ung Thư hóa tế bào mà thành mụt Ung Thư (sẽ nói rõ ở mục tổng thể trị liệu). Vì chất Hà Nhĩ
Mông quan trọng mất sự dinh dưỡng, nhân đây mà đặt tên là chứng Thất Dinh. Đại phàm người có thể
chất mệt mỏi hoặc thể chất suy nhược di truyền, vi trùng bệnh Lao thừa hư xâm nhập vào Mạch Máu
Trắng trên Cần Cổ mà thành Lao Hạch, hình dạng như Trứng, độ cứng không nhất định. Trẻ con mắc
phải rất đông, thường xảy ra từ bên trái tràn lan qua bên phải, hoặc từ bên phải lấn qua bên trái đến
ảnh hưởng cả hệ thống Máu Trắng vùng này. Có khi hình như một xâu lạc ngựa, nếu lây lất không trị thì
sanh chảy mủ và biến chứng mạch lươn. Bệnh này ban đầu tuy không đau đớn, lâu ngày lần to lên
chướng ngại bộ phận Cần Cổ, phát lên đau nhức. Bệnh Lao Hạch khi mới phát tuy không có triệu
chứng phát nóng, nhưng đến khi phá miệng thì thường phát triều nhiệt, hoặc mồ hôi trộm, thiếu máu,
gầy mòn, nếu là phụ nữ còn nhỏ tuổi thì làm tắt kinh, nếu không sớm chạy chữa thì sẽ phát sanh lao
Phổi nguy hiểm.
Nếu gặp thứ Lao Hạch ác tánh (Ung Thư hạch) thường dẫn khởi nội tạng phát sanh một thứ chất độc và
bao nhiêu biến chứng khác càng nguy hiểm hơn.
Chứng Ung Thư hạch quyết định không phải là chứng bất trị nhưng chỗ trọng yếu nhất là phải tranh thủ
thời gian, phát giác được sớm, chữa trị kịp thời thì không những dễ khỏi lại còn chóng khỏi. Nếu
không như thế, đợi đến bệnh nhập cao hoang dù có thuốc tiên cũng khó vãn hồi vậy.
Lời bàn của dịch giả
Có một ông lão mù từ thuở bé, đến khi tuổi gần 60 mà vẫn phải đi làm thuê để nuôi miệng. Đến mùa
Cau dầy, những chủ vườn thường mướn nhân công lên bẻ để bán. Mỗi khi leo lên phải chẻ thử mỗi
quầy 3 trái (bên trái, bên phải và ngoài chót). Nếu dầy cả thì mới bẻ được. Chỉ riêng ông lão ấy không
cần thử, dùng sóng dao gõ dưới gốc cây Cau mấy cái thế là biết được ngay trên ấy thế nào để leo lên
bẻ, trăm phát không sai một. Đó là luật thừa trừ trên giác quan.
Dùng chủ để định khách, dùng khách để định chủ, dùng khách để định khách, rỗng rang chí thành, tập
trung rồi thần diệu; đó là kỹ thuật chẩn đoán cổ điển. Tuy có cổ điển thật, nhưng một khi biết sử dụng
thì dẫu một mảy may biến động cũng khó lướt qua.
Từ không đi đến có, từ khí đi đến chất, từ hiện tượng đi đến tướng, từ tâm lý đi đến sự thật, khoảng
trống này hạng phàm phu thô lỗ khó bề để ý đến, dụng cụ máy móc khó thể chất lượng cho cùng.
Không vì khó để ý đến, không chất lượng được rồi trở thành không có.
Điềm đạm hư vô, tinh thần giữ vững ở trong, sinh hoạt thênh thang mực thước ở ngoài, đó là kỹ thuật
dưỡng sinh ngừa bệnh Lao cao độ.
Quan sát tinh tế đến chỗ từ khi chưa thành sự tướng đã biết được sẽ thành sự tướng như thế nào để mà
chuyển dời thay biến, đó là kỹ thuật cao độ của việc trị bệnh chưa thành hình. Thế là cái nghĩa phát
giác sớm để tranh thủ thời gian mà tác giả nói trên còn phải xuống mấy từng dưới nữa.
Để giác quan hoen rỉ, ỷ lại vào dụng cụ máy móc, tôn sùng vật chất, phụng thờ sơn phết phù hoa, khinh
rẻ sự biến động của khoảng trống chưa thành hình đó là bệnh chung của con bệnh và thầy thuốc hiện
đại.
Thâu thái không chừa (kể cả dụng cụ phương pháp khoa học lẫn những việc truyền miệng dân gian) để
phổ thông hóa cho sự thúc đẩy hướng thượng đỡ phần sai lạc là một ưu điểm rất hay về tổ chức nghiên
cứu. Trái lại nếu thâu thái để trở thành ô hợp, nô lệ, hoen rỉ giác quan đó là một tinh thần rất dở.
Tiến lên một bước nữa, thâu thái tất cả những phương pháp dụng cụ mới mẻ để làm chứng minh lẫn
nhau với những phương pháp cũ, làm điêu luyện thêm cho giác quan ngày càng bén nhạy sao cho dụng
cụ máy móc khỏi làm chủ thằng người, để xây dựng một thế hệ y đạo huy hoàng cho mai sau lại là một
việc khác. Điều này tác giả và độc giả cùng tất cả chúng ta đều nên để ý.
Khi đã bệnh, vận dụng để quyết định một đặc tánh bệnh tật như tác giả đã định bệnh như Ung Thư trên
đây kể cũng là một đặc sắc nhưng nếu yên trí rằng tất cả những phương pháp mới hiện đại như đã kể
trên là tuyệt đỉnh trong sự định bệnh thì tất không khỏi ngại rằng có lúc sẽ bâng khuâng. Nếu phổ thông
cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân đều được am tường nguyên nhân của bệnh Ung Thư thì điểm phát giác sớm
để tranh thủ thời gian chữa trị của tác giả đã nêu ra sẽ trở nên nhẹ hẳn.
Nếu phân biệt để quyết định bệnh Ung Thư như tác giả đã nói, về phần bệnh Ung Thư thế là chu tất.
Nhưng ghé qua vấn đề nguyên nhân của bệnh Lao Hạch mà tác giả nói bởi tánh di truyền hoặc bị truyền
nhiễm, vi trùng Lao xâm nhập vào hệ thống tuần hoàn Máu Trắng nên trẻ con mắc phải nhiều hơn, điều
này vì có quan hệ đến sự tin tưởng về hình thức phản ứng trên vật chất máy móc nên dưới đây có vài
việc thực tại dịch giả xin nêu ra để cùng nhận xét thử:
“Tất cả những trẻ con trong vòng 3 tuổi bị bệnh Ban Đỏ, trong thời kỳ tiềm phục sắp sửa xuất hiện sẽ
lên cơn sốt và sưng Phổi, trên sự thật rất sợ áp dụng phương pháp Đối Lập Thủ Tiêu, nên về phần
Trung y, loại thuốc tiêu nhiệt độc phổ thông hỗn tạp đều cấm kỵ. Do vậy, nếu thầy thuốc không am
tường căn cội, vội cho những thứ ấy hoặc dùng thuốc trụ sinh để trị sốt và sưng Phổi thì lập tức độc
bệnh trở vào bên trong, nhập vào hệ thống tuần hoàn Máu Trắng quanh Cổ, có thể trong hai, ba hôm là
hạch nổi đều. Rồi từ đó về sau hình thức vi trùng lao xuất hiện và tất cả thầy thuốc đều bảo là Hạch
Lao. Và càng chữa bệnh Hạch Lao thì bệnh càng tiến nặng vào phạm vi bệnh Lao. Khi ấy nếu biết cách
xúc tiến cho trên đầu đứa trẻ nổi ghẻ thì mỗi khi bể một mụt ghẻ là một cái hạch được tiêu, đến bao
giờ hết hạch là bệnh mới vĩnh viễn khỏi. Thực lệ này đa số trẻ sơ sinh xứ nóng bị bệnh ban đỏ ngày
nay đều là nạn nhân cả, vậy đây là bệnh Lao di truyền hay bệnh Lao truyền nhiễm hay không phải là
bệnh Lao Hạch? Chỗ này xin nhường sự nhận xét cho diễn đàn chung”.
