TRUNG Y LÀM GÌ TRỊ ĐƯỢC UNG THƯ?
Trung y dược là kết quả do sự kinh nghiệm muôn đời của con người kết thành, từ Thần Nông nếm
thuốc, Huỳnh Đế làm Nội kinh, Y Doãn chế thuốc thang, thuốc nước truyền mãi đến nay đã có trên
4.700 năm, đời đời thêm phát minh, đời đời thêm trước thuật, nhưng tiếc vì chưa có ai gia công chỉnh
đốn cho thành hệ thống hóa. Đời thường phê bình Trung y thiếu khoa học, chẳng biết vi trùng nên
không thể trị được bệnh truyền nhiễm, cỏ cây gốc rễ làm sao trị được bệnh, lại chẳng biết danh từ Ung
Thư là gì thì làm sao trị được bệnh Ung Thư? Thậm chí có trị được khỏi Ung Thư, người ta cũng vẫn
cho rằng không khỏi. Chúng ta hãy xét xem thái độ ấy có phải là khoa học không? Phải biết rằng thái
độ của một nhà khoa học là phải tìm cho được sự thật, phải có tinh thần nghiên cứu vô tư, không mê tín
mới mong tìm đến thực tại của chân lý. Nếu không có một sự nuôi dưỡng khoa học cao độ thì khó bề
hiểu rõ nguyên lý Trung y trị khỏi bệnh tật. Trung y không phải là không khoa học, đó là một số người
khoa học chưa chịu đem trách nhiệm của mình để cải tiến nó. Phải biết rằng y dược thế giới đối với
mức cứu cánh hoàn mãn hãy còn rất là xa xôi. Vẫn còn biết bao nhiêu bệnh tật chẳng biết rõ nguyên
nhân, vẫn còn biết bao nhiêu bệnh không có thuốc chữa, vẫn còn biết bao nhiêu thứ sinh tố chưa được
phát giác, vẫn còn biết bao nhiêu phương pháp trị liệu chưa được chu toàn. Nếu không tập hợp tất cả
những phần tử rời rạc trên thế giới lại thì cái thông minh tài trí của mỗi người cũng không làm sao tiêu
diệt được kẻ thù bệnh tật của nhân loại.
Y dược Trung Quốc đối với khoa học có một giá trị vĩ đại. Trung y từ khi chưa có kính hiển vi trở về
trước, tuy chưa hoàn toàn chỉ rõ bệnh truyền nhiễm bởi vi trùng mà chỉ biết nói là giải độc, mà bệnh
truyền nhiễm là bởi chất độc của vi trùng gây nên. Nguyên tắc trị bệnh truyền nhiễm của Trung y thì lại
dùng sức thuốc ở phương pháp tổng thể trị liệu để giải tán chất độc, cho theo các đường bài tiết mà
đưa ra bên ngoài thật rất là hợp lý, thật rất giàu giá trị khoa học. Đại khái như độc bệnh ở Bao Tử thì
cho mửa, ở Ruột thì cho xổ, tiềm phục ở châu thân thì cho bài tiết bằng đường da; lập ra 3 cách là
Hạn, Thổ, Hạ. Mục đích là để bài trừ chất độc đưa ra ngoài. Đó là cái cớ bất cứ bệnh truyền nhiễm
nào cũng đều căn cứ theo nguyên tắc này, lại phối hợp thêm các pháp trị liệu khác như: lạnh thì làm
cho ấm, nóng thì làm cho mát, hư thì bổ, thiệt thì tả. Quả thật có thể thâu ngắn thời gian trị liệu, xúc
tiến cơ chuyển bệnh chóng khỏi, lại phải xem chừng người bệnh phải cần dùng thứ chất bổ khôi phục
sức khỏe nào để xúc tiến thời gian lành bệnh. Trung y là một thế giới y dược trị liệu rất phong phú, đại
khái nào là: vật lý trị liệu (bao quát cả châm cứu, xoa bóp), nào là hóa học trị liệu (bao quát cả dược
phẩm động vật, thực vật và khoáng chất), nào là sinh lý trị liệu (bao quát cả đi đứng, ngồi, nằm, cũng
như vận khí, tĩnh tọa, nội công v.v…), nào là tổ chức trị liệu lợi dụng sanh nguyên tánh kích thích tố
của động vật, thực vật hợp thành như Diệp Thiên Sĩ lợi dụng lá Ngô Đồng ở tiết lập thu để làm thuốc
thôi sinh (thúc mau sinh). Vì Lá Ngô Đồng khi rụng rồi gặp đất ẩm ướt âm u, trong sự chuyển mình
sống gượng nên phát sinh rất giàu chất (sinh nguyên tánh kích động tố) lại trải qua sự nấu sắc thành
thuốc chén mới đạt đến công hiệu thôi sinh. Do đấy ta thấy cùng với tổ chức trị liệu của Tây y có công
không mưu mà hợp nào là kháng sinh tánh trị liệu (antibiotica). Khi vi trùng cùng sống một chỗ, phát
sanh tác dụng chống đối lẫn nhau bài tiết ra một chất có tánh cách chống lại sự hoạt động của vi trùng,
hoặc có tánh cách tiêu diệt vi trùng; chất này gọi là chất “Kháng Sinh Tánh”. Do vật chất chế thành ra
thuốc gọi là Kháng Sinh Tánh, Chế Tễ (trụ sinh), phương pháp này trên sự trị liệu Trung y đã áp dụng
rất lâu đời, ví như dùng nước Dưa Cải nổi mốc lâu năm để trị bệnh Phế Ung hoặc sưng Phổi làm mủ,
những chuyện như thế đã trải qua thực nghiệm ghi chép. Lại còn có trường hợp dùng meo nước hồ cũ
để trị vết đứt còn mới vì có tánh cách ngừa sự làm mủ và còn chữa được phỏng lửa nước sôi nữa.
Trung y còn có rất nhiều thứ thuốc trị loại bệnh nhiệt như Chí Bửu Đơn, Thanh Tâm Hoàn, v.v… đều
dùng Vàng Lá mà bọc. Ngoại khoa của Trung y ưa dùng những đất ổ Mối, ổ Kiến, ổ Tò Vò để nấu
nước làm thuốc rửa ghẻ rất hay. Cùng với các Thanh Vi Tố (chất vi trùng xanh), Lục Vi Tố (chất vi
trùng lục), Kiêm Vi Tố (chất vi trùng vàng) và chất Thổ Nha Bào Khuẩn Tố của đời nay hoàn toàn
không mưu mà hợp, nào là tinh thần trị liệu (bao quát cả pháp Chú Thư), tổng cộng có 13 khoa, khoa
chú thuật nào có khác chi cách trị bệnh của nhà tâm lý học hoặc nhà thôi miên của châu Âu gần đây.
Tóm lại, Trung y là một thứ phát minh rất sớm, nhưng tiến bộ rất chậm, phải nên tích cực sửa sang hệ
thống hóa lại, nếu không thì sẽ bị thoái hóa, thậm chí đến hoàn toàn thất truyền. Thế là y học trên thế
giới sẽ bị tổn thất vô cùng lớn lao, sự tổn thất này có thể nói là quá sức tưởng tượng vậy. Trước kia ở
nước Pháp,đối với khoa học châm cứu, đầu tiên họ xem là một thứ lạc hậu, rồi lần hồi họ thấy được
những chứng bệnh mà Tây y không trị được bèn sanh bán tín bán nghi. Đợi đến sau khi nhà sinh lý, nhà
khoa học phát hiện được kinh huyệt đều là những nơi rất quan hệ đối với căn bản của hệ thần kinh,
chừng đó họ mới đua nhau nghiên cứu một cách vô cùng hứng thú. Một khi người nước ngoài đề xướng
thì dân tộc ta lại đua nhau coi là một thứ thần thánh ghê gớm. Chừng đó những viện châm cứu khoa học
lần lượt xây dựng trên khắp Âu châu. Chúng tôi hy vọng dân ta hãy góp sức để xây dựng mở rộng
phạmvinghiên cứu thuốc nước nhà về đề luyện, tiêu chuẩn thành phần cải tiến để phát huy khả năng
công hiệu thuốc bổn xứ hầu bổ cứu cho sự trị liệu thiếu sót của thế giới. Chúng tôi cả tiếng gọi to giới
y học toàn thế giới mau mau liên hợp để cùng dập tắt bệnh Ung Thư độc thù của nhân loại.
Trung y trị bệnh tuy lấy thuốc thuộc loại thực vật làm đầu, nhưng đó chỉ là nêu lên đa số mà nói vậy
thôi. Kỳ thực đối với khoáng chất, động vật thu thập không chừa, như dùng chất sắt để bổ máu, dùng
đồng tự nhiên để bổ xương, dùng tạng phủ của động vật để trị tạng phủ con người.Như Kê Nội Kim là
da trong của mề gà ngậm chứa rất nhiều chất kích thích ở Dạ Dày, cho nên cũng có tên gọi là vị Hà Nhĩ
Mông (ventriculine) và sinh tố khác, có thể tiêu được thực tích, mạnh Bao Tử và có thể làm điều hòa
chất nước trong Ruột, còn có công hiệu trị chứng ỉa chảy. Trung y dùng bộ sanh dục của loài Hải Cẩu
để trị chứng Nội Phân Bí của Thận không đủ và thần kinh sanh dục bị suy nhược, như thế đều là một
thứ tạng khí trị liệu. Phàm những người đau Mắt, quáng gà, Trung y chủ trương nên dùng Gan Dê, vì
trong Gan Dê có nhiều chất sinh tố A. Bị phong thấp khước khí, Trung y áp dụng chất cám vì trong chất
cám có rất nhiều sinh tố B. Ai ai cũng biết trong con người khi thiếu chất Iode thì hạch Giáp Trạng
tuyến (Bướu Cổ) chẳng hoạt động, tác dụng thay cũ đổi mới xuống thấp, mạch máu trắng và yết hầu rất
dễ nổi to. Người Trung Quốc khi gặp chứng trạng trên, trong tập quán thường ưa dùng Côn Bố để nấu
nước uống vì lẽ trong Côn Bố có nhiều chất Iode đến 3 phần rưỡi ngàn và chất alginsaure, chất Dương
Lai Giao, chất Mannit, chất Calcium v.v… có thể lọc huyết độc, trị Ung Thư Bướu, chữa chứng đau
Cổ Họng. Trung y trị khỏi bệnh tật hoàn toàn dựa vào tác dụng hóa học, mảy may không còn nghi ngờ.
Chúng tôi căn cứ vào báo cáo của 2 vị bác sĩ chủ nhiệm đại học thực nghiệm Nam Phương ở nước Mỹ
là sách Khoa La Phu và Hiệp Lý Ái Tha lấy ra được trong vỏ trái Chanh ở Kim Sơn và vỏ trái Nho
một thứ sinh tố P có thể chế ra dụng cụ để ngừa chất phóng xạ của bom nguyên tử. Áp dụng kết quả
nghiên cứu trên những con Bọ đã bị độc phóng xạ thì thấy phàm con nào được tiêm sinh tố này vào
chết chậm hơn nhiều so với những con không có tiêm sinh tố. Ông nói: “Chất phóng xạ làm cho vi ti
huyết quản chịu sự tàn hại rất nghiêm trọng”. Bác sĩ còn nói thêm: “trừ phi có một thứ kiến thiết đặc
biệt mới có thể ngừa chất phóng xạ nguyên tử thấm vào mình, không thế thì dẫu bất cứ một thứ hầm
núp, hang hóc nào cũng đều vô ích cả”. Trung y ứng dụng vỏ Chanh đã lâu đời rồi, trong giới phụ nữ,
trẻ con đều có tập quán thưởng thức này, thậm chí khi nấu nướng cũng dùng vỏ Chanh làm món ăn quan
hệ. Căn cứ theo ý kiến của nhà khoa học, khi cơ thể con người thiếu chất sinh tố P thì rất dễ phát sanh
bệnh ban sốt xuất huyết. Trung y không những biết được không chỉ vỏ Chanh có nhiều sinh tố mà thôi,
lại còn biết có Hồng Hoa Tiêu, Ninh Mông Trấp, Hòe Hoa, Trái Cam, Tang Ký Sanh, trái Dương Mai,
trái Cà Dê, trái Đậu Ván, Giá Đậu Xanh, Cà Tây, Cải, Táo, Nho Trắng, v.v… Những thức ăn trên đều
rất giàu sinh tố P, là loại sinh tố có công hiệu ngăn sự thấm ứa của huyết quản. Trong các dược vật
thuộc về thảo mộc, có nhiều sinh tố rất đông. Từ khi y học thế giới chưa phát hiện được sinh tố P thì
Trung y đã dùng qua rất lâu rồi. Như thế chúng ta càng tin rằng có rất nhiều thứ sinh tố mà y học thế
giới ngày nay vẫn chưa tìm thấy được, còn Trung y đã áp dụng trên sự trị liệu mãi tự bao giờ. Như
người Trung Quốc đối với sự uống trà đều nhận là quan hệ sanh hoạt hàng ngày. Trong dân gian có một
câu tục ngữ: “Mỗi ngày mở cửa phải có bảy điều kiện: dầu, muối, củi, gạo, tương, dấm, trà”. Lá Trà là
vật có ích cho sức khỏe, có lợi cho thân tâm. Trung Quốc dùng lá trà làm thuốc uống đã trải qua có
hơn 4.000 năm. Gần đây thế giới đều bắt chước, lại trải qua sự phân tích của nhà hóa học thấy rằng lá
Trà đối với sức khỏe con người có sự lợi ích rất lớn, không những thơm tho thích miệng mà còn kiện
Vị đề Thần, thêm tác dụng thông tiểu và chất lóng trong rất tốt. Thông thường ở trong nước chúng ta
dùng hàng ngày có rất nhiều chất không sạch, nếu nấu nước sôi pha trà thì tất cả đều bị lắng xuống và
trong Trà lại còn có chất đơn ninh mông toan có công hiệu thâu liễm và ngừa sự hư hoại, quả là thức
uống để ngừa sự truyền nhiễm rất tốt. Trong Trà còn có chất Caffeine, Anthine (huỳnh hoa tinh) là một
thứ Ankalin De Cacao nên mới có công hiệu làm phấn khởi thần kinh, thông tiểu và có khả năng giúp
hệ tiêu hóa. Chất Trà còn có thể giúp cho sự thâu hoạt Lòng Trắng Trứng trong thức ăn được từ từ tiêu
hóa, đã chẳng làm giảm mất giá trị bồi bổ của chất Lòng Trắng Trứng lại còn có thể xúc tiến sự thâu
hút chất dầu mỡ. Phàm những người ăn nhiều thịt, ăn xong uống vài chung trà đậm thì thấy trường vị
nhẹ nhàng, hoặc từ từ tiểu tiện vài lần, kết quả như thế phần đông đều nghiệm thấy. Giới y học ngày nay
đã thực nghiệm thấy trong lá Trà gồm có sinh tố A, C và D. Sinh tố A có khả năng giúp cho sức thấy
của mắt, nên người xưa nói: “Trà có công hiệu sáng mắt, thanh tâm, đề thần, tỉnh trí”. Còn sinh tố C là
một chất bổ ngừa bệnh bại huyết rất tốt nên ở Trung Quốc theo tập quán phần đông phàm tiễn khách
đường xa đều dùng Trà làm lễ phẩm. Sự dụng ý không ngoài sợ e dọc đàng thiếu chất rau xanh, vì
trong Trà có chất xanh lá để bồi bổ. Còn sinh tố D không những có công hiệu tăng cường sự sanh
trưởng cho xương, lại còn có công hiệu để ngừa bệnh lao Phổi nữa là khác. Theo đây mà xem thì
những dược liệu thực vật của Trung Quốc khi muốn biết rõ cũng phải có cách để nghiệm, như là thể
nghiệm trà, và chúng ta có thể tin rằng sinh tố được phát hiện nhiều nhất là ở Trung Quốc. Chúng ta chỉ
cần đem phương pháp khoa học mà sửa sang lại trở thành y dược tối tân, thì y dược thế giới mới mong
đi đến chỗ hoàn mỹ vậy.
Tóm lại, lợi khí duy nhất để trị khỏi bệnh tật là vị thuốc. Thế thì bất luận là lý luận gì, dẫu cho đến nổi
hoa trời rải khắp, đất nổi sen vàng cũng chẳng qua là chuyện bàn luống mà thôi. Phải cần áp dụng đến
vị thuốc mới có thể phát sanh hiệu quả tốt đẹp, mới gọi là tác dụng trị bệnh, thế thì không luận là thuốc
Tây hay thuốc Tàu cũng không ngoài động vật, thực vật và khoáng chất hoặc hữu cơ hoặc vô cơ. Bất
cứ thuốc Âu hay thuốc Á cũng đều có ngậm chứa thành phần chủ yếu của nó, khi vào Bao Tử cũng đều
phải phát sanh một thứ hóa học biến hóa để điều chỉnh tác dụng sinh lý cho trở lại bình thường. Theo
đây lại cũng có thể chứng minh cho sự trị khỏi bệnh tật của Trung y là rất đúng, tuyệt không có mảy
may nào là tác dụng thần bí cả, hoàn toàn hợp với nguyên lý khoa học. Nếu có thể sắp xếp cho thành
hệ thống hóa, lại học thêm phương pháp mới ngày nay để thâu thập tinh hoa tác dụng rộng lớn thì quyết
định có thể dụng công ít mà kết quả to lớn vậy. Chúng tôi hy vọng hết thảy hiện hữu trong giới y học,
bất cứ là trong nước hay ngoài nước chớ nên cố chấp mà giữ theo lề lối cũ xưa, đừng gói ghém mà tự
che mình, phải đả phá cái thấy biết phiến diện, nắm tay nhau hợp tác, cùng nhau trao đổi tâm đắc của
lâm chứng, đem cái kết quả kinh nghiệm chữa khỏi Ung Thư của Trung y để cống hiến trước y lâm thế
giới. Phải hết sức cố gắng thu thập cái sở trường của y khoa các nước, thúc đẩy cho y dược thế giới đi
đến mức cứu cánh hoàn thiện để mà tạo phước chung cho nhân loại.
Lời bàn của dịch giả
Y học mà có chung với Tây là một lỗi lớn của Y học mà cũng là một nhược điểm không may cho nhân
loại. Vì sao thế? Vì đây là minh chứng rằng đa số loài người đối với nguyên lý cứu cánh duy nhất hãy
còn quá ư xa xôi ấu trĩ. Việc trị được bệnh Ung Thư hay không trị được bệnh Ung Thư, khoa học hay
không khoa học cũng tùy theo đây mà biểu hiện và có thể xảy ra những trường hợp miệng nói khoa học,
ý nghĩ khoa học mà việc làm có thể vẫn dày đặc ở trong mê tín, hoặc có thể không đả động gì đến danh
từ khoa học hay không khoa học mà việc làm, trái lại, rất là khoa học cũng không biết chừng.
Dịch giả đã không phải Trung cũng không phải Tây, mà cũng không muốn có chút tư tình gì với Trung
và Tây. Vậy nên dưới đây xin nêu lên những trường hợp trong thực tại, tai nghe mắt thấy, để mong rằng
cùng với tác giả và độc giả tìm lấy một ánh sáng hoàn mãn cứu cánh mai sau cho nhân loại.
Trong cuộc đàm thoại giữa một vị học giả với mấy vị bác sĩ, vị học giả hỏi: “Chẳng hay vi trùng từ
đâu mà có?” Các vị bác sĩ gắt giọng: “Khoa học không bao giờ có mê tín và không khi nào không có
con cha, con mẹ mà có con, con vi trùng cũng như thế”. Vậy tinh thần của các vị bác sĩ này là mê tín
hay là khoa học?
Một người bị gãy xương đùi (gãy kín). Mấy vị bác sĩ muốn thử thách một ông lang ta về gãy lọi mời
ông đến hỏi: “Ông có chữa được không, bao lâu khỏi?”. Ông đáp: “Chữa được, một tháng khỏi”. Các
vị bác sĩ cười và bảo với ông: “Theo chúng tôi biết thì phải 3 tháng mới lành, vậy làm sao được
chứng minh?” Hai đàng bèn đánh cá với nhau, các vị bác sĩ băng bột ở chân gãy, ông lang ta bó thuốc
ở chân lành và giao kết với nhau rằng: “Hễ một tháng cắt ra mà lành là công của ông lang ta, nếu 3
tháng mới lành là công của bác sĩ”. Đến khi đúng tháng cắt ra quả nhiên bệnh lành, mấy vị bác sĩ cộng
với ông lang ta ấy với một số y tá cũng có chứng kiến cùng nhau cười xòa. Vậy cái nào là khoa học,
cái nào là không khoa học?
Một người bị bệnh Dịch Tả rất nặng, một vị bác sĩ hối phải làm như thế nào. Một bà lão hối thúc đi
rước một ông thầy vỗ. Bạn của bác sĩ lui cui đi rước, còn vị bác sĩ cười nói: “Chừng nào anh đi nhà
thương Biên Hòa?”. Ông bạn đó chẳng cần trả lời, đi rước gấp ông thầy vỗ đưa về. Đơn độc chỉ có
cởi trần người bệnh vén quần lên khỏi đùi rồi ông ta vỗ trong ý rất có chủ định, vỗ một lúc lâu người
bệnh bừng nóng lên, hết vọp vẻ, hết ỉa mửa rồi khỏi. Vậy đâu là khoa học, đâu là mê tín?
Một trường hợp Dịch Tả khác, người đàn bà bị Dịch Tả rất nặng, tay chân lạnh mướp, miệng cứng,
bụng tóp vạt, đã đi tả nhiều rồi, mạch gần mất hẳn. Một ông lang ta đến mở thắt lưng quần ra, đổ muối
bọt khỏa rún, xắt tỏi để lên, dùng mồi thuốc cứu đốt đến mấy mươi mồi, người bệnh nóng lên hết lạnh,
hết vọp bẻ, nói được rồi khỏi. Vậy là khoa học hay không là khoa học?
Một đứa bé bị kinh phong đưa vào bệnh viện rất là khoa học ở Sài Gòn. Bác sĩ cho cởi trần cả quần
áo ra để vào buồng, muối nước đá 2 tiếng đồng hồ… vậy đây là khoa học hay không là khoa học?
Một người bị bệnh áp huyết cao (máu lên) đến xin chữa với một vị bác sĩ. Vị bác sĩ bảo là dư máu,
đâm ống lấy bớt máu đi. Đây là khoa học hay không là khoa học.
Một nhà bào chế Âu Dược ở Sài Gòn thấy có người áp huyết cao uống rễ nhàu thấy kết quả tốt, bèn lấy
rễ nhàu chế ra thuốc rượu để bán đề là: “Chuyên trị bệnh huyết áp cao”. Vậy đây là khoa học hay
không là khoa học?
Một gia đình nọ có con cho học khoa học, khi về nhà chơi một hôm, nhân cơm thiu, ông con cắt nghĩa
rằng vi trùng nó phá nên thiu. Bà cụ già cãi: “Khéo thì thôi, tại chúng bây ăn rồi không xới hẳn ra
ngoài, để đậy kín hầm hơi nó thiu, chớ vi trùng gì, chúng bây để ngày mai tao làm xem có thiu không?”
Chiều hôm sau đến giờ ăn cơm cụ xới bong ra cho vào một cái rá, ăn xong còn lại cho lên cái treo đậy
bằng cái lồng bàn, đến sáng hôm sau quả nhiên không thiu. Bà cụ nói: “Đó vi trùng gì?” Vậy đâu là
khoa học, đâu là mê tín?
Một Phật tử bị đau Tim rất nặng, chữa đủ thuốc không khỏi rất buồn khổ, các nhà sư dạy bảo cố gắng
niệm Phật để được vãng sanh. Bà này đem hết toàn lực để niệm Phật trong mấy hôm, đến một trình độ
bỗng dưng ngất xỉu chết đi rồi sống lại, bệnh Tim cũng nhân đó mà lành luôn. Vậy đây là khoa học hay
không là khoa học?
Một người đàn bà bị bệnh Ung Thư ở Ruột Cùng và Âm Đạo vào một bệnh viện ở Sài Gòn. Sau khi
kiểm nghiệm xong biết là Ung Thư, các bác sĩ bảo phải mổ và để Hậu Môn ở bên hông. Mặc dù đã
bơm Ruột mua máu rồi, bà sợ quá trốn ra, nhờ một nhà sư dạy phép niệm Phật và cho uống thuốc chén
được hơn một tháng thì bệnh lành, hiện nay vẫn còn mạnh. Vậy đâu là khoa học hay không là khoa học?
Có rất nhiều người bị Sạn Mật đến xin chữa với một vị Trung y (Việt Nam) đều kết quả mỹ mãn với
bằng cớ cụ thể. Vậy đây là khoa học hay không là khoa học?
Có một người ở quê chuyên chữa giúp về bệnh Giời Ăn (zona), bất cứ người nào bị giời đến ông ta
chữa bằng cách khoán ngoài da đều chóng khỏi một cách lạ thường. Đến cả các vị bác sĩ trong nhà
thương gặp bệnh ấy cũng đều chỉ cho đến tìm ông ta, vì ông ta chữa không mất tiền mà lại chóng lành
hơn trong nhà thương. Vậy đâu là khoa học, đâu không là khoa học?
Một ông lang ta dùng phân và nước tiểu của người có bệnh trái trời để từ khi sanh giòi đến lăng quăng,
đều lắng trong, qua 3 năm thử bắt lăng quăng cho vào cũng không sống được. Bấy giờ ông dùng nước
ấy để chữa những người bị bệnh trái trời chạy nọc làm vảy cá mà cả hai mắt rất chóng lành (dùng để
nhỏ). Đây là khoa học hay không khoa học?
Một người có việc cần đi xa, vì không tiện ăn uống nên nhịn đói. Vì đói quá lại mắc mưa nên bị ngoại
cảm nặng, khi đưa về đến nhà không một thức ăn thức uống nào có thể cho vào miệng được, hễ uống
vào là ói ra, mồ hôi lả, cả người lạnh, mạch rất yếu. Nhờ thầy thuốc cho chất bổ và nước biển vào
mạch máu lần lần tỉnh táo, uống thuốc và ăn uống trở lại được rồi lành mạnh. Vậy đây là khoa học hay
không khoa học?
Giống Bọ Cạp trong thân có hai tác dụng: một là nọc độc ở chót đuôi để chích cho đối phương bị giật
và nhức, hai là tác dụng ngược lại, tác dụng này ở khắp châu thân mà cái đuôi là nhiều nhất. Có lần
dịch giả đi vào rừng bị giống bọ cạp núi chích làm cho giật đến từng sợi tóc, nhờ có thổ dân biết lập
tức bắt ngay con bọ cạp ấy hớt bỏ nọc độc, cắt lấy cái đuôi cho vào giữa hai lưỡi dao bằng sắt, nghiền
nát, áp vào vết thương, 15 phút khỏi hẳn. Vậy là khoa học hay không khoa học?
Một người đàn bà bế kinh 3, 4 tháng dùng thuốc đã nhiều không khỏi, đến một vị Trung y (Việt Nam)
xin chữa. Khám xong, vị Trung y bảo cho với tinh thần phải thay đổi như thế nào để phù hợp với sự
chữa bệnh, đồng thời áp dụng pháp châm cứu mấy huyệt. Làm xong về đến nhà đêm ấy có kinh trở lại.
Vậy là khoa học hay không khoa học?
Một đứa bé mới lọt lòng đã bị bệnh vàng da từ trong bụng mẹ đến chữa trị với bác sĩ Tây y không khỏi
bèn hỏi bệnh nơi một vị Trung y (Việt Nam), người chỉ chế một thứ thuốc nước nhỏ vào mũi rồi khỏi.
Lại cũng một đứa bé vừa mới lọt lòng được mươi ngày bị bệnh vàng da, rồi cũng đến hỏi vị Trung y
kể trên. Người cho một thứ thuốc độc vị (đơn độc một vị) cho uống vào mấy hôm là khỏi. Vậy là khoa
học hay không khoa học?
Một bà lão tuổi độ 60 bị dừa rụng trúng bên góc trán ngã bất tỉnh, bên ngoài con mắt bị thương qua
loa, ở góc trán cũng trầy. Người nhà chở vào bệnh viện một tỉnh lỵ, bác sĩ tiêm thuốc khỏe và thuốc trụ
sinh, nơi con mắt cũng nhỏ thuốc trụ sinh cho khỏi sưng, nơi vết thương thì dùng băng băng lại rồi cho
về, mỗi hai hôm đến để thay băng. Ít hôm sau vết thương lành, người bệnh cứ mỗi ngày lên cơn nhức
đầu, khi trời nóng gắt càng nhức đầu nhiều hơn. Bác sĩ trị mãi không khỏi cho về (lúc trị, thường cho
uống Kalmine). Về sau rước một vị Trung y (Việt Nam) đến khám, ông bảo: “Vì máu ứ mắc kẹt ở tại
vùng bị thương, nên làm ra nhức đầu”. Rồi ông cắt cho chén thuốc và dặn nếu trong thời gian uống
thuốc có đại tiện ra máu chút ít thì chứng nhức đầu khỏi hẳn chớ nên sợ hãi. Tuần lễ sau quả có như
thế, rồi bệnh nhức đầu hết dứt. Vậy đâu là khoa học, đâu là không khoa học?
Đàn bà mới sanh trong tuần lễ, đúng theo luật thiên nhiên huyết sanh phải bài tiết đều đều, nếu rủi hôm
nào bị bặt liền xảy ra nóng lạnh, làm cữ. Nếu Tây y thường cho là bị sốt rét liền dùng chất Quinine để
trị, kết quả, nhẹ thì huyết ra rất ít hoặc bặt luôn sau thành bệnh Tử Cung, nặng hơn nữa thì chết luôn.
Còn về phần Trung y nếu là người có học sản khoa khi thấy thế thì cho huyết tiếp tục bài tiết là chánh
mà giải quyết cơn nóng lạnh là phụ, nên kết quả không bị nguy hiểm mà được an toàn. Tới một chút
nữa về sản khoa của Tây y, khi mới sổ lòng thì cho uống loại Sulfamide để khỏi cương mủ, còn Trung
y lành nghề thì chú trọng đến sức khỏe và sự bài tiết về huyết sanh cho được điều hòa rồi mọi việc đều
ổn. Vậy đâu là khoa học, hay không khoa học?
Cũng đồng là mới sanh bị sót nhau lấy không hết mà Tây y thì dùng dụng cụ mở cửa Tử Cung rồi nạo,
còn về phần Trung y nếu lành nghề khi khám là biết ngay và cho uống thuốc, tự nhiên tróc ra và bài tiết
hết. Vậy đâu là khoa học, đâu là không khoa học?
Cũng đồng là bệnh màng Phổi, màng Tim, màng Bụng, đầu gối bị bệnh có nước, về phần Tây y thì dùng
kim to đâm vào chỗ có nước rút ra để rồi bị một thứ bệnh khác, hoặc mang tật, hoặc chết. Còn về phần
Trung y nếu lành nghề thì lại phải tìm xem bởi nguyên nhân ngoại cảm hay nội thương rồi cho thuốc,
nước rút đi là khỏi, trừ trường hợp quá nặng. Vậy đâu là khoa học, đâu là không khoa học?
Đồng là bệnh Mũi và Cổ Họng mọc thịt thừa, về phần Tây y thì nghĩ ra cách chế những dụng cụ máy
móc và thủ thuật cắt bỏ đi, để rồi mọc lại như cũ hoặc biến ra một hình thức bệnh khác. Về phần Trung
y nếu lành nghề, tìm biết được chỗ khởi nhân của nó và phương pháp giải tán, rồi cho uống thuốc theo
sự hiểu biết là khỏi. Vậy đâu là khoa học, đâu là không khoa học?
Một người bị gãy Xương Đùi, theo Tây y có trường hợp phải dùng một cây sắt to bằng chiếc đũa đục
thủng ngang gần sát đầu dưới xương đùi, hai bên cột dây, để chân dưới thòng xuống, đặt một cái khung,
dây căng qua cái khung chuyền xuống phía dưới gần mặt đất, lại đèo thêm một vật rất nặng, mục đích
là để kéo cho hai khúc xương đùi thật thẳng, đặng được ăn khớp lẫn nhau, để đặt máng hoặc bó bột.
Làm như thế may có thể 3 tháng lành, có người lành mang tật, có người không may chết luôn bởi những
cơn biến động thần kinh. Nếu là Trung y lành nghề thì chỉ sắp xương lại, đăng nẹp từ khoảng đùi trên
xuống đến gần đầu gối, còn chân dưới vẫn tự do. Tại chỗ vết thương chỉ giữ cho đừng sưng, có khi lại
bó thuốc bên lành, rồi độ trong tháng bình phục. Vậy đâu là khoa học, đâu là không khoa học?
Một người Hoa bị xe cán nát xương bàn chân đem vào bệnh viện Nam Việt khi Viện trưởng còn là
người Pháp. Bác sĩ cho biết không thể làm lành, phải chịu tật để cưa. Người Tàu bảo: xin bác sĩ cố
gắng trị, chớ quyết định không cưa. Bác sĩ không làm sao hơn đành phải cho về. Chờ về nhà rước một
vị ngoại khoa người Tàu đến bó. Hai tháng sau, ông ta nghiễm nhiên là một người lành mạnh, chân vẫn
đi giầy đến thăm các bác sĩ. Vậy đâu là khoa học, đâu là không khoa học?
Bệnh nước chua Bao Tử có trường hợp lên cao quá. Về phần Tây y thì áp dụng dụng cụ rửa Bao Tử,
dụng cụ ấy là một ống cao su dài, đầu dưới có gắn một cục tròn có lỗ, thoa chất nhờn để người bệnh dễ
nuốt vào Bao Tử, đầu trên gắn một cái quặng. Khi người bệnh nuốt đầu dưới vào Bao Tử rồi, người
phụ tá cứ cho nước theo ý mình muốn nơi cái quặng và nhóng lên cho nước chảy xuống Bao Tử. Khi
cho nước vào đầy rồi thì úp cái quặng xuống và hạ thấp xuống một chút thì nước Bao Tử bị pha loãng
cũng tùy theo đó mà chảy trở ra, đến bao giờ độ nước chua xuống thấp thì thôi, kết quả tạm bợ trong
nhất thời mà người bệnh phải chịu mệt lả. Theo Trung y lành nghề khi xét chứng, khám mạch thấy đáng
cho mửa thì lại có cách thúc dục cho mửa, nếu không cần cho mửa thì lại biến hóa nước ấy không còn
tánh độc và bài tiết lưu thông, v.v… như thế đâu là khoa học, đâu là không khoa học?
Đồng là một hiện tượng xảy ra (thí dụ như thịt dư ở mũi) một đàng thì áp dụng phương pháp thủ tiêu,
kỹ thuật máy móc hoặc dùng sức mạnh để thủ tiêu hiện tượng ấy, một đàng tìm sâu vào chỗ khởi nhân
và cách tụ duyên rồi nếu đã xảy ra thì có cách giải tán, khi chưa xảy ra thì có cách để ngừa cho đừng
xảy ra. Vậy tinh thần nào là tinh thần khoa học, tinh thần nào là tinh thần không khoa học?
Bệnh Cận Thị một đàng nhìn thấy Con Ngươi nở to, rồi bảo đó là nguyên nhân bệnh Cận Thị, quá hơn
nữa còn cho bệnh Cận Thị là tật chớ không phải bệnh, còn một đàng thì biết rõ tận động cơ đầu tiên để
điều chỉnh cả sinh hoạt, ăn uống và tinh thần. Vậy đâu là khoa học, đâu là không khoa học?
Cũng đồng là một người bị bệnh Ung Thư, mà một đàng chỉ cần tìm biết có phải chắc là bệnh Ung Thư
hay không, biết thật sớm, nhưng không cần biết động cơ nào phát khởi để đến nỗi mấy mươi năm tốn
hao, còn một đàng tìm biết đến do ngồi sòng bạc và nhai trầu làm động cơ đầu tiên… Vậy đâu là khoa
học, đâu là không khoa học?
Những sự thực Tai nghe, Mắt thấy như thế này không sao kể xiết, chỉ lược sơ ít điều để làm mẫu vậy
thôi. Những sự kiện chứng thực dịch giả đã kể như trên đúng lý là phải giải thích tỉ mỉ cho độc giả đỡ
phần nghiệm xét, nhưng như trên dịch giả đã nói: “Vì không muốn tư tình gì với Trung hay Tây” nên
nơi đây cũng không muốn độc giả hiểu lầm tinh thần không muốn theo ý riêng của tác giả. Vậy nên xin
nhường sự nghiệm xét về độc giả để khỏi sai lạc chủ ý của dịch giả.
Trên kia tôi có nói: “Thầy thuốc là con đẻ của bệnh nhân, do bệnh nhân tạo ra, nhưng cũng có thể bệnh
nhân là con đẻ của thầy thuốc”. Cho nên, nên hư, tốt xấu không phải là chuyện của một người nào và
cũng vì thế mà có những lúc chính mình khinh thường cái ấy, rồi cũng có những lúc chính mình trở lại
tôn sùng.
Luận về sự khám phá tánh chất, công dụng của thuốc, nếu ta chỉ mắc kẹt trên một phương diện, hoặc là
chất, như phân chất thấy có chất gì, chất gì, hoặc tánh gì, tánh gì… thì không thể nào biết rõ hết được.
Cho nên cả tánh chất, mùi vị, hình thể, màu sắc đều không bỏ sót thì mới có thể khai thác hết khả năng
của thuốc vậy.
Trên vật chất tương đối, không có vật nào có sở trường mà không có sở đoản nên không có một sự tán
dương cùng cực một thứ thuốc nào mà tránh khỏi đi đến lạm dụng và nếu dùng con mắt ấy mà xét thuốc
thì vị tất là người biết thuốc.
Xưa Dược Vương bồ tát bảo Thiện Tài đồng tử: “Ông đi tìm cho tôi cái gì là thuốc, mỗi thứ một ít
đem về tôi có việc cần”. Thiện Tài đi mãn buổi trở về thưa: “Nhìn ra hầu hết đều là thuốc, nên không
thể lấy hết được”. Dược Vương bồ tát lại bảo: “Vậy thì mai ông đi tìm cái gì không phải là thuốc lấy
mỗi cái một ít đem về cho tôi”. Thiện tài đi suốt buổi trở về bạch rằng: “Khi chưa đến việc cần dùng
thì món nào cũng đều không phải là thuốc, đến việc cần dùng, thì món nào cũng đều là thuốc cả nên
không thể lấy được”. Nói đến đây Thiện Tài tự giác ngộ. Câu chuyện này có một ý nghĩa sâu sắc, khi
nhận định về thuốc ta cũng có thể lấy đây để nhận xét tinh thần câu chuyện luận về Trà của tác giả.
Trước đây gần 2.000 năm, trong thang Quế Chi Trọng Cảnh có dạy: “Nếu người bị bệnh dư nước chua
Dạ Dày thì không được uống, nếu uống vào sẽ mửa ra máu” phải chăng đây cũng là một thứ biểu hiện
của tinh thần hóa học?
Thích phấn son sơn phết là một thứ bệnh trời cho của thằng người, xính xái, phôi pha là đặc tính của
Trung Quốc. Một khi đã vướng vào con đường phấn son sơn phết, thì cái vô tư vốn có cũng tùy theo
đó mà mờ đi, không tài nào nhất thời cứu vãn, huống chi lại có những nhược điểm để làm bia cho sự
khẩu thiệt lẫn nhau!
Dịch giả đã có lần đọc một quyển dạy về châm cứu, có một tác giả Trung Quốc bảo: “Khi sắp hạ thủ
về châm phải đề phòng khí lạnh ở kim, nên phải ngậm đầu kim trong miệng cho ấm rồi sẽ chích”. Lại
một phương thuốc thôi sinh nọ viết rằng: “Thuốc rất thần hiệu, uống vào một viên đứa trẻ cầm viên
thuốc chui ra lập tức…”
Ngay ở bộ Nạn Kinh là một bộ sách chủ ý muốn làm tỏ sáng y lý Nội Kinh, mà có những đoạn ngang
nhiên chú thích rằng: “Lá Gan nằm bên trái, tạng Tỳ nằm bên phải”. Không biết bao nhiêu việc như thế
trách sao cái học châm cứu nó không bị luân hồi một vòng qua châu Âu, rồi khi trở về mới được trọng
dụng. Cái lỗi này không thể đổ cho thánh hiền xưa được.
Bất cứ một cái học nào không ăn khớp với trình độ của đa số nhân loại (chánh phủ hoặc các nhà lãnh
đạo không muốn có thiện chí hướng thượng, không có một tổ chức cụ thể đủ điều kiện để khai thác)
hiện ra trong một thế hệ bừa bãi lạm dụng như giai đoạn này thì dù cho có hay ho đến đâu cũng vẫn là
trở thành vô dụng.
Cuối cùng, đoạn trên tác giả nhắc nhở giới Trung y nên phải cố gắng hết sức để thâu thập sở trường
của y học các nước. Chỗ này làm cho kẻ dịch nhớ lại mẩu chuyện:
“Có ông Lang Tàu, một hôm có bệnh nhân đến khám, ông nửa nghi ngoại cảm nên cho uống thuốc chén,
nửa nghi Ban Cua nên cho uống Tifomycine, rốt rồi bệnh càng thêm nặng”.
Trên sự thực, nguyên lý duy nhất vốn không thể có hai, phương tiện cách thức vốn không thể có một.
Bởi vậy nếu trên một nguyên lý mà áp dụng nhiều phương tiện thì phương tiện càng nhiều chừng nào
càng tốt chả sao? Bằng không phải thế thì ta phải nên ghi nhớ câu chuyện trên đây.
