HÌNH TỔNG QUÁT VỀ KINH MẠCH TAY
1) Thủ Thái âm phế ra đầu ngón tay cái
2) Thủ Dương minh đại trường ra đầu ngón tay trỏ
3) Thủ Quyết âm tâm bào lạc ra đầu ngón giữa.
4) Thủ Thiếu dương tam tiêu ra đầu ngón áp (vô danh).
5) Thủ Thái dương tiểu trường ra đầu ngón út theo cạnh
ngoài đi lên.
6) Phế
7) Đại trường
8) Tâm bào lạc, lại gọi là Thủ tâm chủ
9) Tam tiêu
10) Tâm tiểu trường.
XXVI. HÌNH TỔNG QUÁT VỀ KINH MẠCH CHÂN.
1) Xương bánh chè. 2) Gối. 3) Độc tỵ. 4) Xương ống chân
(cẳng chân). 5) Bàng quang. 6) Tỳ. 7) Thái âm. 8) Dương minh. 9)
Thiếu dương. 10) Thái dương. 11) Thiếu âm. 12) Dũng tuyền.
BÀI CA KHÍ HUYẾT NHIỀU ÍT CỦA 12 KINH
Dương minh khí huyết đều nhiều
Thái dương ít khí đồng đều Quyết âm.
Thiếu dương với lại Thiếu âm
Và Thái âm nữa huyết phần ít thay.
BÀI CA THỦ TÚC CỦA 12 KINH
Tiểu tràng, bàng quang thái dương
Đại trường với vị thuộc hàng dương minh
Thiếu dương, tam tiêu đởm kinh
Phế tỳ thuộc thái âm kinh rõ ràng
Thiếu âm, tâm thận một hàng
Quyết âm bào lạc với can một nhà.
(Thái âm và Thái dương là chính âm, chính dương; sau đến
Thiếu âm Thiếu dương rồi đến Dương minh, Quyết âm chia làm 3
bậc để biết khí ở từng kinh có nhiều ít khác nhau. Dương minh là
tụ hợp sức sáng. Quyết âm là gặp gỡ cỉa 2 kinh âm chỗ cuối cùng,
quyết nghĩa là hết).
XXVII – CÁCH XEM MẠCH
Phàm khi xem mạch, trước lấy đầu ngón tay giữa đặt vào chỗ
đối chiếu với lồi xương quay sau cổ tay để định vị trí của bộ Quan,
rồi đặt ngón tay trỏ và ngón tay vô danh xuống để định vị trí của
bộ Xích và Thốn. Người bệnh cao lớn thì nên đặt ngón tay thưa,
người thấp bé thì đặt ngón tay khít. Lúc đầu sờ nhẹ rồi sau ấn vừa
vừa, sau cùng ấn nặng tay hơn để thăm bệnh (có 7 phép xem
mạch).
Tĩnh tâm, tập trung tư tưởng.
Không lo nghĩ việc ngoài.
Thở đều để định hơi.
Đặt nhẹ ngón tay ở ngoài da để xem xét về mạch, gọi là phù.
Ấn ngón tay hơi nặng ở khoảng da thịt để xem xét vị khí, gọi
là trung.
Đặt ngón tay vào sát gân cốt để tìm mạch tạng, gọi là trầm.
Xem xét số mạch đập của bệnh nhân.
Cứ một lần thở ra và một lần hít vào, gọi là một tức (hơi thở).
Mỗi một tức mạch đập 4 lần là mạch trung bình. Người thầy thuốc
phải tự thở hơi cho đều để xem mạch cho đúng. Mạch mùa Xuân
thì huyền mà trường, mạch mùa Hạ thì phù đại mà tán, mạch mùa
Thu thì hơi phù mà đoản, mạch mùa Đông thì trầm, nhu hoạt mà
nhuyễn. Mạch trong 4 mùa thấy kiêm có sức hòa hoãn là có vị khí,
như vậy là mạch không có bệnh (phàm phép xem mạch, nên xem
vào buổi sáng sớm, khi đó khí âm chưa bị động, khí dương chưa bị
tán loạn, chưa ăn uống gì, kinh mạch chưa đầy thịnh, lạc mạch
còn điều hòa, khí huyết chưa bị rối loạn, cho nên có thể xem xét
mạch có bệnh hay không).
Mạch của nam giới về bên trái thường lớn hơn bên phải là
thuận. Mạch của nữ giới về bên phải thường lớn hơn bên trái là
thuận. Nam giới mạch xích yếu, mạch thốn mạnh là thuận và bình
thường. Nữ giới mạch xích mạnh, mạch thốn yếu là thuận và bình
thường.
Nữ giới thấy hiện mạch như nam giới là mạch hữu dư. Nam
giới mà hiện mạch như nữ là bất túc, Nam giới chủ về dương, hai
mạch thốn thường mạnh hơn hai mạch xích. Nếu hai mạch thốn
lại yếu, hai mạch xích mạnh là thận không đầy đủ. Nữ giới chủ về
âm thì hai mạch xích thường mạnh hơn hai mạch thốn. Nếu xích
yếu thốn mạnh là hiện tượng hữu dư, bất túc hay hữu dư đều là
bệnh. Cho nên nói thái quá cũng như bất cập.
Cả 3 bộ thốn quan xích gọi chung là thốn khẩu, lấy ý nghĩa
thốn là mỗi bộ phận đó phạm vi bằng 1 tấc, khẩu là chỗ giới hạn.
PHÉP XEM MẠCH NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC TRONG BỐN MÙA
Mùa xuân thấy hiện mạch mùa thu thì chết vào những ngày
giờ Canh, Tân, Dậu (Mùa Xuân mộc vượng thì mạch huyền, mùa
thu kim vượng thì mạch sắc, mùa xuân thấy hiện mạch mùa thu là
kim đến khắc mộc cho nên biết là chết. Canh, Tân, Thân, Dậu là
những ngày giờ kim vượng).
Mùa hè thấy mạch mùa đông, tới ngày Nhâm, Quý sẽ chết
(Mùa hè thuộc hỏa vượng mạch phải hồng, mùa đông thủy vượng
hiện ra mạch thạch. Mùa hè thấy mạch mùa đông là thủy đến
khắc hỏa, cho nên biết là sẽ chết. Nhâm, Quý, Tý, Hợi là những
ngày giờ thủy vượng).
Mùa thu thấy hiện mạch mùa hè, rất nguy, gặp ngày Bính,
Đinh sẽ chết (Mùa thu thì kim vượng mạch sắc, mùa hạ hỏa vượng
thì mạch hồng; mùa thu gặp mạch mùa hạ là hỏa tới khắc kim, sẽ
chết vào ngày giờ Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ, là những ngày giờ hỏa
vượng).
Mùa đông xem thấy mạch hòa hoãn của 4 mùa thì sẽ chết
vào những ngày Mậu, Kỷ giờ Thìn, Tuất (Mùa đông thủy vượng
mạch thạch, tứ quý thổ vượng thì mạch hòa hoãn. Mùa đông thấy
mạch tứ quý là thổ đến khắc thủy cũng là chứng chết. Mậu, Kỷ,
Thìn, Tuất là những ngày giờ thổ vượng).
Các tháng cuối mùa và tiết trưởng hạ thấy hiện mạch mùa
xuân thì bệnh sẽ gay go vào những ngày Giáp, Ất, giờ Dần, Mão.
Đó là vì theo luật ngũ hành khắc hại lẫn nhau. (Các tháng cuối
mùa là: Thìn, tuất, sửu, mùi. Tháng ba là thìn, tháng sáu là mùi, là
tháng cuối mùa hạ, tháng chín là tuất, tháng 12 là sửu. Các tháng
cuối mùa là những tháng thổ vượng, tháng cuối mùa hạ là lúc ngũ
hành tương sinh, là lúc thổ vượng mà xem thấy mạch mùa xuân là
mộc đến khắc thổ, như vậy là chứng chết. Giáp, Ất, Dần, Mão là
những ngày giờ mộc vượng).
Trên đây đều là nói thời gian mạch khắc với nhau.
BÀI CA MẠCH HƯ THỰC CỦA BỐN MÙA
Xuân hiện mạch đông là hư
Chữa nên bổ thận để trừ bệnh căn
Mạch hạ bệnh thực ở tâm
Bằng khi muốn chữa phải bằng tả con.
Hạ, thu, đông mạch một môn,
Trước sau hư thực tính toan cho vừa.
(Xem mạch hạ, thu và đông cũng tùy theo từng mùa, như
mạch xuân thì huyền, hạ thì hồng, thu mạch sắc, đông mạch
thạch. Nếu thấy trái ngược lại thì xét xem sự sinh khắc như thế
nào. Như tà ở phía trước tới là thực tà, tà ở phía sau tới là hư tà…)
Mạch tứ quý giữa mùa xuân
Mặc dầu có bệnh chẳng cần thuốc thang.
(Giữa mùa xuân là tháng 2, mạch tứ quý là mạch thuộc thổ,
tháng 2 mà thấy mạch tứ quý là vợ tới lấn chồng, gọi là vi tà.
Huống hồ tháng 2 là mộc ở chỗ để vượng, cho nên không chữa
cũng khỏi).
BÀI CA XEM XÉT SẮC CỦA NGŨ TẠNG VÀ MẠCH CỦA TAY
CHÂN.
TẠNG CAN 1:
Mặt sưng đen sạm, lưỡi co xanh
Chân tay mỏi rũ, mắt thông manh.
Chảy nước mắt luôn can đã tuyệt.
Tám ngày sau nữa bệnh khôn lành.
Xanh là sắc của can; Lưỡi co sắc xanh là bộ vị của con hiện
sắc của mẹ. Chân tay mỏi rũ là hiện tượng gân suy không thể duy
trì được. Can không còn huyết để vinh nhuận ra mắt cho nên mắt
mờ thông manh không trông thấy gì. Tân dịch bị tiết ra ngoài cho
nên chảy nước mắt không thôi. Những chứng đó đều do Can tạng
bị tuyệt mà sinh ra. Vì kim khắc mộc, cho nên sẽ chết vào ngày
kim vượng. Tám ngày là kể từ ngày Giáp đến ngày Tân. Nội kinh
nói: “Khí Túc quyết âm bị tuyệt thì gân co, dái thụt, lưỡi rụt”.
Quyết âm là đường kinh mạch của Can, can là chỗ để cho gân
nương tựa. Gân thì tụ ở chỗ bộ phận tiền âm, liên lạc với cuống
lưỡi, cho nên khi mạch không vinh nhuận thì gân co lại, gân co lại
thì làm cho dái thụt, lưỡi rụt. Đó là gân bị chết, đến ngày Canh
bệnh sẽ nặng, ngày Tân sẽ chết.
TẠNG CAN 2:
Mặt xanh, mắt nhắm bệnh can
Rốn bên trái động, giận hờn rút gân.
Mạch thì huyền cấp hoặc trường
Nếu phù, sắc, đoản trăm đường khó khăn.
TẠNG TÂM 1:
Mặt vàng sạm, thở so vai,
Bàn tay sưng húp, chỉ tay nhẵn lì
Nói càn, nói nhảm, nóng mê
Thì trong ngày ấy, hồn lìa thế gian.
Bàn tay sưng húp lấp cả chỉ tay là tâm khí tuyệt hết. Một
ngày tức là số sinh của thủy; thủy khắc hỏa cho nên trong một
ngày sẽ chết. Nội kinh nói: “Khí Thủ thiếu âm bị tuyệt thì mạch
không thông; mạch đã không thông thì huyết không lưu hành
được; huyết không lưu hành được thì, thì sắc trạch bị hết, cho nên
sắc mặt vàng sạm đen”. Đó là huyết bị hỏng trước. Ngày Nhâm thì
bệnh nặng, ngày Quý thì chết).
TẠNG TÂM 2:
Lưỡi cứng, mặt đỏ bệnh tâm,
Táo phiền, tay nóng, nói xàm miệng se.
Mạch hồng, khẩn, sác chưa chi,
Trên rốn động mạnh, trầm vi khó lòng.
TẠNG TỲ 1:
Chân, rốn sưng, mặt bủn vàng,
Ta đi chẳng biết chiếu giường tanh hôi.
Thịt da khô sít, vều môi.
Mười hai ngày ắt là rồi còn chi.
(Rốn là huyệt Thần khuyết, chân là mu bàn chân, bủn vàng là
phù thũng và vàng da ra. Nội kinh nói: “Khí ở Túc thái âm hết thì
mạch không vinh nhuận ra môi miệng. Môi miệng là chỗ căn bản
của thịt. Mạch không vinh nhuận thì thịt không trơn nhuận, không
trơn nhuận thì thịt bị đầy lên; Thịt bị đầy lên thì môi quăn vều, môi
quăn vều ra là thịt đã bị chết. Ngày Giáp thì nặng, ngày Ất thì
chết. Từ ngày Giáp đến ngày Ất tính quá đi một vòng là 12 ngày.
Mộc tới khắc thổ cho nên chết).
TẠNG TỲ 2:
Bệnh tỳ vàng mặt, biếng ăn,
Nặng mình, đau mỏi tay chân, hay nằm
Mạch hoãn đại, rốn động ngầm,
Mạch huyền, trường, khẩn khó nhằm chữa thôi.
TẠNG PHẾ 1:
Hơi miệng mũi thở hắt ra,
Môi vều sưng nhẵn đen hóa tựa than,
Móng khô nẻ, da khô khan,
Trong ba ngày nữa có toàn được đâu.
(Hơi thở hắt ra không hít vào được, môi sưng không còn vết
ngấn là thổ không sinh kim, đen như than là kim không sinh thủy,
khí không lưu thông thì ngoài da khô nỏ, hồn phách không liên kết
với nhau thì nóng bị khô nẻ. Từ ngày Giáp đến ngày Bính là 3
ngày. Bính thuộc hỏa, hỏa khắc kim cho nên chết vào ngày thứ 3.
Nội kinh nói: “Khí Thủ thái âm tuyệt thì lông da khô sém”. Thái âm
là phế, có trách nhiệm hành khí để làm cho ấm lông da. Khi khí
không dinh dưỡng được thì lông da bị héo, héo là hết tân dịch, hết
tân dịch thì lông da khô, là ngoài da bị chết. Bệnh đến ngày Bính
sẽ nặng, ngày Đinh thì chết).
TẠNG PHẾ 2:
Bệnh phế mặt trắng lo sầu.
Thổ huyết nóng rét, miệng hầu sinh ho.
Trầm, tế, sắc, rốn động to (động khí ở bên phải rốn)
Đại mà mệt mỏi cơ hồ sắp nguy.
TẠNG THẬN 1:
Mặt đen răng buốt mắt mờ,
Lưng đau như gãy, mướt mồ hôi ra.
Tóc khô lại nhão thịt da
Bốn ngày sau nữa ắt là còn đâu.
(Mắt mờ, con ngươi bị đảo lộn; đổ mồ hôi dầm dề là thủy suy,
riêng còn hỏa nung đốt. Lưng là phủ của thận. Thận bị tuyệt thì
lưng đau như gãy, vì không vinh nhuận cho xương tủy được nữa,
cho nên xương và thịt không còn bám víu với nhau, thịt không còn
tân dịch để tưới nhuần cho nên tóc không mướt. Từ Giáp đến Mậu
là 5 ngày. Mậu thuộc thổ, thổ khắc thủy nên sẽ chết. Nội kinh nói:
“Khí của Túc thiếu âm bị hết thì xương khô”, Thiếu âm là mạch
của mùa đông, nó đi ngầm ở trong làm ấm cho xương tủy, cho
nên khi xương tủy không được ấm thì thịt không bám víu vào với
xương, nên thịt nhão mà kết lại. Thịt nhão mà kết lại cho nên răng
trơ ra mà khô, tóc không mướt. Đó là thận đã bị hỏng. Ngày Mậu
bệnh sẽ nguy, ngày Kỷ thì chết).
TẠNG THẬN 2:
Bệnh thận móng xanh, mặt đen
Nặng tai, ỉa lỏng, bụng hàn lạnh đau.
Động dưới rốn, mạch trầm mau,
Hoãn mà kiêm đại ắt hầu chẳng yên.
BÀI CA HÌNH VÀ CHỨNG TRÁI NHAU
Người khỏe mạch bệnh gọi hành thi [76]
Người bệnh mạch khỏe chẳng hơn chi.
Gày trường, béo đoản cũng như vậy
Xét kỹ suy cùng chẳng có nghi.
Người khỏe mạch bệnh. Ví như 5 lần động mạch thay (đại)
một lần thì sau một năm sẽ chết. Người ta sinh trong vũ trụ khi
còn sống thì là người, khi chết chỉ còn là cái thây ma. Gần đến thời
kỳ chết mà vẫn đi lại làm lụng như thường gọi là hành thi (thây
ma đi).
Người bệnh mạch khỏe. Ví như người bị bệnh ỉa chảy hay mất
máu, hình thể gày yếu mà thấy mạch hồng đại và sác có vẻ mạnh
mẽ, cũng gọi là hành thi. Người cao mạch đoản; người lùn mạch
trường. Người béo mạch tiểu, người gày mạch đại đều là chứng
chết.
Mạch phản quan.
Như người bệnh 6 bộ đều không có mạch; như vậy không
phải là không có mạch. Nên lật sau cổ bàn tay để xem, thấy mạch
động là mạch phản quan.
Mạch quỷ (quái mạch).
Khi mới mắc bệnh, đã nói nhảm phát điên, 6 bộ đều không có
mạch, mà dưới ngón tay cái, ở trên thốn khẩu có động mạch, tức
là mạh quỷ.
ĐỊNH VỊ TRÍ CỦA TẠNG PHỦ
Ấn nhẹ vào 3 bộ thấy mạch, là mạch của phủ ở ngoài da. Ấn
nặng tay xuống thấy mạch, là mạch của tạng, ở trong gần gân
xương. Ấn tay vừa vừa, là mạch vị khí, ở vào quãng giữa.
Bộ Thốn là dương, là ở trên, ví như trời; thuộc tâm với phế,
ứng vào với thượng tiêu, chủ về bệnh từ lồng ngực lên đến đầu.
Bộ Quan là quãng giữa của âm dương, ở vào chính giữa, ví
như người; thuộc can với tỳ, ứng với trung tiêu. Chủ bệnh từ chẻn
dừng xuống tới rốn.
Bộ Xích là âm, là ở dưới, ví như đất. thuộc thận và mệnh môn
ứng hạ tiêu, chủ về bệnh từ rốn trở xuống.
XXIX. ĐỊNH VỊ TRÍ CỦA BA BỘ BÊN PHẢI VÀ BÊN TRÁI
Từ chỗ trấy tay (Ngư tế) đến chỗ lồi xương quay dài một tấc
nên gọi là thốn khẩu. Từ chỗ thốn khẩu đến huyệt Xích trạch dài
một thước cho nên gọi là xích. Ở sau bộ thốn, trước bộ xích là
quan. Dương đi ra, âm đi vào lấy bộ quan làm ranh giới. Dương
đưa ra 3 phân, âm chuyển vào 3 phân cho nên gọi là tam âm, tam
dương. Dương mạch sinh ra ở xích, động ở thốn. Âm mạch sinh ra
ở thốn, động ở xích. (Bộ thốn chủ từ thượng tiêu lên đầu, quan chủ
về trung tiêu, xích chủ về hạ tiêu đến chân).
Mạch tay trái.
1) Bộ Thốn thuộc hỏa, đại biểu cho tâm và tiểu trường. Đây là
chỗ thể hiện của mạch tâm và tiểu trường, là quân hỏa liên tiếp
với hỏa ở bộ xích bên phải.
2) Bộ Quan thuộc mộc, đại biểu cho đởm và can. Đây là chỗ
thể hiện của mạch can và đởm, là phong mộc, nó sinh ra hỏa của
bộ thốn tay trái.
3) Bộ xích thuộc thủy, đại biểu cho thận và bàng quang. Chỗ
này là nơi thể hiện của mạch thận và bàng quang, thuộc vào hàn
thủy, nó sinh ra mộc của bộ quan tay trái.
Mạch tay phải.
1) Bộ thốn thuộc kim, đại biểu cho phế đại tràng. Bộ này là
chỗ thể hiện của mạch phế và đại tràng, thuộc táo kim, nó sinh ra
thủy ở bộ xích tay trái.
2) Bộ quan thuộc thổ, đại biểu cho tỳ, vị. Bộ này là chỗ xuất
hiện của mạch tỳ và vị thuộc thấp thổ, nó sinh ra kim ở bộ thốn
tay phải.
3) Bộ xích thuộc hỏa, đại biểu cho mệnh môn, tam tiêu. Chỗ
này là chỗ thể hiện của mạch mệnh môn, tam tiêu. Nó là tướng
hỏa, sinh ra thổ ở bộ quan tay phải.
Nhận xét thấy 2 quả thận thuộc thủy nhưng có chia ra âm
dương. Mệnh môn thuộc hỏa ở giữa hai hào âm. Trong mạch kinh
đem mạch thận xếp vào hai bộ xích. Nhưng cần phải nói rõ rằng
bộ xích bên trái chủ chân âm, bên phải chủ chân dương mà mệnh
môn là căn bản của dương khí, nó cùng với tam tiêu tướng hỏa
đều ở vào bộ xích bên hữu thì mới đúng. Nội kinh nói: bên cạnh
đốt xương sống thứ 7, ở giữa có một tiểu tâm [77] là mệnh môn
tướng hỏa, bộ phận dưới thì chủ ở dưới như vậy chẳng phải là
mệnh môn ở bộ xích bên hữu hay sao. Thử xét xem khi bộ xích
bên tả hiện mạch hồng thì tất nhiên chân âm bị suy thiếu, mạch
xích bên hữu yếu thì dương khí bị hao tổn, thế thì chẳng đủ chứng
minh đó là do tướng hỏa suy hay sao? Nhưng phải nói là mệnh
môn tướng hỏa gá địa vị ở bộ xích bên hữu thì được. Nếu bảo thận
bên hữu là mệnh môn, thì còn cái quả tâm nhỏ ở giữa kia lại là vật
gì? Nếu lấy mệnh môn là ở giữa và không đem gá địa vị của nó
vào với tướng hỏa thì lấy gì để sinh thổ, sinh kim. Một điểm dương
nằm giữa hai điểm âm là chỉ vào mệnh môn mà nói; một điểm
thủy xen kẽ vào hai điểm hỏa là chỉ vào hai thứ quân hỏa, tướng
hỏa mà nói. Một lần thở ra mạch đi ba tấc, một lần hít vào mạch
đi ba tấc; Một hơi thở ra hít vào mạch đi sáu tấc, trong một ngày
đêm có 13.500 hơi thở thì mạch đi 50 độ khắp thân thể và hết 100
khắc. Vinh và vệ lưu hành ở phần dương 25 độ, ở phần âm 25 độ
là một vòng, cho nên hết 50 độ lại tụ hội ở chỗ Thủ thái âm, tức là
ở thốn khẩu, là chỗ đầu chót và cuối cùng của ngũ tạng, lục phủ.
Vậy nên xem mạch căn cứ ở thốn khẩu.
XXX. BỐN MẠCH GỐC (5 điều)
Trong 12 kinh đều có động mạch, mà tại sao lại chỉ căn cứ
vào thốn khẩu để quyết đoán sống chết lành dữ của ngũ tạng lục
phủ. Bởi vì thốn khẩu là nơi các mạch tụ hội, là chỗ động mạch
của kinh Thủ thái âm phế.
- Mỗi bên mạch có 3 bộ là Thốn, Quan, Xích; mỗi bực có 3
bộ là phù, trung và trầm; 3 nhân với 3 thành 9 bậc. Phù là chủ về
ngoài da để xem biểu và phủ. Trung là chủ về phần thịt và xét vị
khí; Trầm là chủ về gân xương để xem phần lý và tạng. Song các
tạng không thể tự dồn đến được Thái âm nên phải nhờ có Vị khí
làm trung gian mới đến được. Lại nói: Thốn, Quan tuy không có
mạch, nhưng mạch Xích vẫn còn đi lại điều hòa thì không lo ngại
gì. Lấy điểm đó mà suy xét, thì phế là chủ khí, mạch là thể chất
của khí, mà vị là tác dụng của khí, thận là cơ bản của khí, có lẽ
nào lại chỉ quý trọng riêng một tạng phế hay sao. Phù thái quá là
mạch đại, là trường, là thực, là khẩn, là huyền, là khâu, là hoạt.
Trung là Vị khí; những mạch không đại, không tế, không trường,
không đoản, không trầm, không phù, không hoạt, không sác, sờ
tay vào thấy trung bình điều hòa, cảm thấy rất là đều đều êm ái,
như vậy là có vị khí. Mạch trầm mà không đủ là mạch tế đoản,
nhu, nhược, trầm, sắc, phục. Song phù với khâu, khâu với hồng,
huyền với khâu, hoạt với sắc, cách với lao, lao với thực, trầm với
phục, vi với sắc, nhuyễn với nhược giống nhau; nay đem tóm lại
thì chỉ có 4 mạch phù, trầm, trì, sác là 4 mạch gốc (7 mạch biểu, 8
mạch lý đều bao gồm ở 4 mạch này).
Muốn biết được chủ mệnh của phong hàn, lạnh nhiệt thì
mạch phù mà hữu lực là phong, vô lực là hư. Trầm mà hữu lực là
tích, vô lực là khí. Trì mà hữu lực là đau, vô lực là lạnh. Sác mà hữu
lực là nhiệt, vô lực là mụn nhọt.
Sau lại chia ra làm 3 bộ, để xem mạch thấy hiện ở bộ nào.
Như thấy ở bộ thốn là chủ về bệnh ở thượng tiêu, trên lồng ngực
và trên đầu mặt. Thấy ở bộ quan là chủ về bệnh ở trung tiêu, tỳ vị
và quãng bụng. Thấy ở xích thì chủ về bệnh ở hạ tiêu, bụng dưới
và lưng chân. Như vậy để biết trong khắp ngũ tạng, lục phủ, chỗ
nào bị bệnh. - Mạch Phù là ấn nhẹ đã thấy: mạch nổi mà hoãn là
mạch phù; phù mà ở giữa trống rỗng là mạch khâu. Phù mà hữu
lực là mạch thực. Phù mà thấy cuồn cuộn như sóng cồn là mạch
hồng, phù mà dài vằng vặc mà to là mạch trường. - Mạch Trầm ấn mạnh tay mới thấy: Mạch chìm sâu
xuống hữu lực là mạch trầm; Trầm mà rất nhỏ bé là mạch vi, yếu
hơn mạch vi là mạch nhược. Để tận xương mới thấy là mạch phục
(vô lực nhưng to hơn mạch vi mạch nhược, mạch phục là hư). - Mạch Trì là ấn trung bình sẽ tìm thấy: Một hơi thở
mạch đập 3 lần là mạch trì, tuy rằng vô lực nhưng vẫn còn chịu
sức ấn tay. Nếu không chịu sức ấn tay là mạch nhu. Nhanh hơn
mạch trì một chút là mạch hoãn. Mạch đi không lưu lợi là mạch
sắc. Nếu đã là mạch hoãn lại thấy 3 lần động, hoặc 5,7,9 lần động
rồi lại ngừng, lại có số nhất định gọi là mạch kết. Nếu ngừng lại
không có số nhất định gọi là mạch đại. - Mạch sác là ấn cả 3 bậc (phù, trung, trầm) đều như
nhau: Cứ một hơi thở đập 6,7 lần và tùy theo hữu lực hay vô lực
mà định là hư hay thực; Mạch sác hữu lực mà cứng thẳng là mạch
huyền. Tựa như giằng dây thừng từ hai bên vặn lại là mạch khẩn;
Đi lại trơn tru là mạch hoạt. To là mạch đại.
XXXI – BÀI CA TÓM TẮT CÁCH XEM MẠCH
Tinh vi mạch lý khôn lường,
Bảy biểu, tám lý mọi đường phải tinh.
Ấy ai xem mạch phải rành,
Nên tường bốn chữ phân minh rõ ràng.
Đó là mạch yếu đại cương.
Phù, trầm, trì, sác, bốn đường phải phân.
Trầm chủ lý, trì chủ hàn,
Phù bệnh biểu, sác nóng ran trong lòng.
Lại xem hữu lực hay không,
Chia ra hư thực đôi dòng khác xa.
Biểu, lý, hàn, nhiệt, thực, hư.
Suy ra bốn chữ đều từ ở trong,
Phù mà hữu lực là phong,
Phù mà vô lực thuộc giòng khí hư.
Sác hữu lực, nóng đó mà,
Huyết hư vô lực mới là ung sang,
Trầm hữu lực tích rõ ràng,
Khí hư vô lực hoặc thường bốc xông.
Trì hữu lực đau khó dong,
Trì mà vô lực trong lòng lạnh thay. - Chủ bệnh của mạch phù ở sáu bộ.
Bộ tâm phù, thần chằng yên,
Nói năng lẫn lộn liên miên kinh hoàng.
Can phù tê dệt không an,
Quắp co, tức ngực, đau ran trong mình.
Tỳ phù bệnh lỵ, suyễn sinh,
Luôn luôn tiết tả, bệnh tình kém ăn.
Phế phù ho suyễn khó khăn,
Trường phong, nặng mặt, phế ung máu trào.
Thận phù thì thổ huyết nhiều,
Lưng đau răng nhức, trăm chiều gian truân,
Phù vô lực, nhọt gối chân,
Độc phù chủ bệnh phong hàn khí hư. - Chủ bệnh của mạch trầm ở sáu bộ.
Bệnh khí mạch bộ tâm trầm,
Là chứng băng đới, huyết bầm chảy ra.
Khạc ra huyết khí kết tà,
Đêm đêm khó ngủ mắt đà chăm chăm.
Giận thương can, mạch can trầm,
Đau gân, con mắt tối xâm nặng nề.
Bụng đầy trầm ở bộ tỳ,
Da vàng thổ tả, da tê dại dần.
Phế ung, nôn mửa mạch trầm,
Suyễn đờm mất tiếng gian truân quá chừng.
Bộ thận trầm, bệnh đau lưng,
Âm hao kinh bế bụng sưng trường bành. - Chủ bệnh của mạch trì ở sáu bộ
Tâm trì đái vặt luôn luôn.
Bồi hồi, nôn mửa, đau buồn buốt ê.
Sán và tích, mạch can trì,
Đó là mộc khí đau về bên hông.
Tỳ trì là lạnh tổn thương,
Sôi vang trong bụng tả thường luôn luôn.
Phế trì khí ngắn hàn đờm,
Khí suy, ăn uống thường làm khó tiêu.
Hoạt tinh tiểu tiện đi nhiều,
Lưng đau gối mỏi, chiêm bao lội dòng.
Mồ hôi tự chảy ròng ròng,
Ấy là bộ thận ở trong mạch trì. - Chủ bệnh của mạch sác ở sáu bộ.
Bộ tâm mạch sác nói cuồng,
Lưỡi mồm lở nứt, đái thường không thông.
Mắt mờ đầu choáng nhiệt phong,
Vì can mạch sác phải thông chớ lầm.
Bộ tỳ mạch sác muốn nằm,
Miệng hôi, bụng xốn, chân răng sưng vều.
Bộ phế sác nhiệt thượng tiêu,
Đờm tanh ho hắng, tiện nhiều khó khăn.
Tướng hỏa vượng ráo chân âm,
Bàng quang bế tắc, đái dầm són ra,
Chỉ vì thận mạch nhanh mà,
Nữ nhi mạch ấy hẳn là có thai.
XXXII – MẠCH THẤT BIỂU (7 điều)
1) Mạch phù ấn tay xuống thì thấy mạch chạy yếu, nâng tay
lên thì thấy mạch chạy nhanh (là bệnh ở biểu. Phù là mạch dương,
khi ấn nhẹ tay thì thấy đập ở đầu ngón tay rất rõ ràng đầy đủ; ấn
nặng tay thì kém hẳn, Lại có chỗ nói: mạch phù sờ là thấy ngay).
Bộ thốn phù chủ cảm phong tà và bị đau vì nóng. Mạch quan
phù chủ về vị khí hư yếu, trong bụng trướng đầy. Bộ xích phù, là tà
phong vào phế kinh, đại trường khô táo khó đi đại tiện.
2) Mạch khâu là mạch rỗng ở giữa chỉ thấy động ở chung
quanh (là bệnh huyết, khâu thuộc dương, mạch này nổi to mà
mềm, ở giữa rỗng, 2 bên chắc, ấn ngón tay xuống thì thấy động ở
hai bên còn giữa thì không có gì).
Mạch bộ thốn khâu là trong bụng có tích huyết hoặc là chứng
thổ huyết, chảy máu cam. Bộ quan khâu, chỉ về đường ruột có
nhọt máu mủ, đại tiện ra máu. Bộ xích khâu, chủ về thận hư tiểu
tiện ra máu.
3) Mạch hoạt hình thể nó cảm thấy tròn tròn như hạt châu ở
giữa có lực (là bệnh thổ, mạch hoạt thuộc dương, mạch đi trơn tru
lanh lẹ như hạt châu lăn trên mâm, ấn vào không thấy sít, không
tiến, không thoái, chạy rất đều. Một thuyết nói rằng mạch chạy
bon bon hơi giống với mạch sác. Một thuyết nói tựa như mạch phù
mà hữu lực. Một thuyết nói mạch vun vút như sắp thoát).
Bộ thốn hoạt, chủ về chứng mửa xốc có đờm ẩm. Bộ quan
hoạt, chủ về vị nhiệt không ăn uống được, ăn vào sẽ mửa. Bộ xích
hoạt, là chủ về tiểu tiện đỏ ít khó đi, đau buốt trong ngọc hành. - Mạch thực cuồn cuộn như mạch trường và chắc (là bệnh
nhiệt, thực thuộc dương, mạch tới đẫy đà, mạch hữu lực mà có vẻ
dài. Một thuyết nói: Phù trầm mà đều hữu lực là tà khí thực, chính
khí hư nên cần phải cho giải tà khí ra).
Mạch thực ở thốn, chủ về bệnh lồng ngực đầy tức khó chịu.
Thực ở quan, là trường vị trung tiêu đau nhói. Thực ở xích, chủ về
bụng dưới đầy, đái gắt, đau buốt. - Mạch huyền như sờ vào dây cung là thuộc hàn
Mạch huyền là dương, ấn vào căng thẳng như ấn vào dây
cung, thỉnh thoảng kèm thấy sác. Một thuyết nói: mạch huyền ấn
nhẹ không thấy gì. Lại có thuyết nói: Phù khẩn là mạch huyền; khí
huyết bị thu liễm, trong dương có phục âm. Bộ thốn huyền, chủ về
nhức đầu, trong bụng đau gấp. Bộ quan huyền, chủ về vị hàn đau
bụng. Bộ xích huyền, chủ về đau ruột và đau gò dưới rốn. - Mạch khẩn như xoắn dây thừng chằng chéo, là hàn, là
thuộc dương, ấn vào thấy trường, mới đặt tay vào thấy tựa như
xoắn dây thừng chằng chéo. (Một thuyết nói: tựa như xoắn dây
thừng từng lúc, đó là tà khí va chạm, ẩn náu ở khoảng vinh vệ làm
cho bị kích động).
Bộ thốn khẩn, chủ về phong tà công lên đầu mắt làm đau
nhức. Bộ quan khẩn, chủ về lồng ngực đau. Bộ xích khẩn, chủ về
dưới rốn trướng đầy và đau. - Mạch hồng: ấn nhẹ hay ấn nặng đều rất to (là bệnh
trướng, mạch hồng thuộc dương, thuộc loại mạch đại (to) ấn vào
rất to, nhẹ tay thì sức dồi dào, mạch tới thì trường. Một thuyết nói:
mạch phù đại là hồng. Đó là cả vinh lẫn vệ đều rất nóng, khí huyết
bị nung đốt, nóng ở cả biểu và lý).
Bộ thốn hồng, chủ về thượng tiêu, trong lồng ngực có nhiệt.
Bộ quan hồng, chủ vị nhiệt nôn mửa và phiên vị. Bộ xích hồng,
chủ về nhiệt ở hạ bán thân, đại tiện khó và đi ra huyết.
XXXIII – MẠCH BÁT LÝ - Mạch vi lờ mờ tựa như có, như không. Đó là chứng hư,
mạch vi thuộc âm là loại mạch tiểu, đặt tay vào tìm thấy mạch
chạy rất nhỏ, tìm thật kỹ thì thấy tựa như có tựa như không. Lại
nói: mạch vi là mạch rất mềm nhỏ, phù, trầm đều như nhau. Lại
có thuyết nói: đặt tay xuống thấy mạch động lăn tăn nhanh. Có
thuyết nói: Phù mà mong manh. Có thuyết nói: ấn nặng tay vào
như muốn hết. Đó là ra huyết không chỉ, mặt đỏ không có sắc
sáng, nhuận, đều về loại bệnh khí huyết cùng hư.
Bộ thốn mạch vi, chủ về vinh khí suy kém, thiếu huyết. Bộ
quan mạch vi, chủ về khí kết, tỳ vị hư yếu đau bụng. Bộ xích mạch
vi, chủ về dưới ruột có tích, thân thể lạnh, đau ngầm ở bụng dưới. - Mạch trầm ấn nhẹ không thấy gì, ấn nặng tay mới thấy
(đó là bệnh ở lý, trầm thuộc âm, mạch lẫn ở dưới thịt, ấn nhẹ
không thấy gì, ấn nặng tay mới thấy. Có chỗ nói: ấn nặng tay vào
mới thấy mạch, chủ về khí trướng đầy và đau sườn, chân tay lạnh,
là chứng bệnh dương nghịch âm uất).
Bộ thốn trầm, chủ về trong lồng ngực có đàm. Bộ quan trầm,
chủ về bụng trên có khí lạnh, trung tiêu bị đầy và đau. Bộ xích
trầm, chủ về lưng gối nặng mỏi đau, đái gắt, hay đi vặt. - Mạch trì là một hơi thở mạch đập 3 lần (trì là có hàn đau;
mạch trì là thuộc âm, mạch đến chậm chạp không mau, mỗi hơi
thở mạch đập 3 lần. Một thuyết nói: cất nhẹ tay thì thấy mạch
yếu. Ấn mạnh vào thì rất chắc, là chứng hậu âm thịnh dương hư,
hoặc tỳ hư, hoặc vị hàn, là chứng hư yếu. Mạch Phù Trì là ở biểu có
hàn. Trầm Trì là lý có hàn).
Bộ thốn trì là ở quãng lồng ngực có hàn. Bộ quan trì là trong
vị có hàn, đau bụng chân tay lạnh. Bộ xích trì chủ về nguyên
dương ở hạ bán thân hư lạnh. - Mạch hoãn là trong một hơi thở mạch đập thong thả (là
bệnh hư yếu; hoãn là thuộc âm, mạch đi lại thong thả, hơi thở từ
từ không gấp lắm. Một thuyết nói: Mạch hoãn nhỏ hơn mạch trì.
Lại nói: to hơn mạch nhuyễn. Đó là khí huyết đều hư cho nên
mạch tới thong thả. Hoãn là chủ về thận hư. Tai ù; phong tà tích
khí ở sau lưng là bệnh tê thấp, bệnh tê dại không có cảm giác, yếu
sức đau nhức là khí không đầy đủ, là bệnh chóng mặt, phần ở trên
thì cứng gáy, phần ở dưới thì yếu chân. Mạch phù hoãn, trầm hoãn
quá là khí hư yếu).
Bộ thốn hoãn, chủ về phong tà công hại lên trên làm chứng
co quắp gân gáy đau cứng. Bộ quan hoãn, chủ về khí kết ở tỳ vị,
đau bụng trướng đầy khó co duỗi. Bộ xích hoãn, chủ về có chứng
lạnh kết tụ lại, thận bị hư, hạ nguyên lạnh. - Mạch sắc tựa như dao cạo nhẹ lên ống tre. (Là bệnh)
thiếu máu, mạch sắc là mạch thuộc âm; không lưu lợi trơn tru tròn
trịa. Mạch chạy hư nhỏ mà chậm, đi lại rất khó khăn, khi 5 khi 3
không đều, gọi là mạch rít sắc, hình trạng như hạt mưa thấm trên
cát, như dao cạo ống tre. Một thuyết nói: một lần ngừng rồi lại
đến. Lại thuyết nữa nói: mạch phù mà đoản. Lại nói: mạch đi đoản
mà tựa như muốn ngừng lại. Lại nói là mạch tán. Đó là khí nhiều
huyết ít, là chứng tinh huyết bị thiếu thốn.
Bộ thốn mạch sắc chủ về khí hư huyết ít. Bộ quan mạch sắc
chủ về can huyết hư thiếu bị tán loạn. Bộ xích sắc chủ về tinh
huyết suy kém; thận hư sôi bụng, ở dưới lạnh có chứng hư lao rất
nguy. - Mạch phục ở sâu tận trong xương, sâu hơn mạch trầm (là
có chứng hoắc loạn, tích tụ, âm độc [78]. Mạch phục thuộc âm
thuộc tạng; mạch phục lẫn ở dưới thận không hiện lên trên, ấn
nhẹ tay không thấy gì cả, ấn nặng tay vào thì thấy sát ở tận
xương. Một thuyết nói: ấn vào thì không thấy rõ, ấn nhẹ thì không
thấy gì. Một thuyết nói: Trên bộ quan mạch trầm không nổi ra, gọi
là mạch phục. Một thuyết nói: ấn tay xuống mới thấy động, đó là ở
phần âm, phần dương có khí độc ẩn nấp, là chứng trạng bệnh
quan cách bế tắc.
Bộ thốn phục chủ về có tích tụ trong lồng ngực. Bộ quan phục
chủ về chứng trường tịch, chỉ muốn nhắm mắt lim dim. Bộ xích
phục là có thức ăn ứ đọng không tiêu, bệnh trưng hà đau đớn và
tiết tả. - Mạch nhu: ấn nhẹ thì thấy, ấn nặng thì tan mất đó là
mạch hư, nhu là thuộc âm, mạch không có lực mà mềm nhỏ, ấn
vào không thấy gì, để nhẹ tay thì thấy phù nhỏ bé mà mềm, phải
đặt nhẹ tay mới thấy, như bông ngâm trong nước và nổi vật vờ
trên mặt nước. Nếu lấy tay ấn xuống thì sẽ theo tay mềm tan
ngay, sức đập không được thấy rõ ở tay, đó là tượng mạch nhu.
Nội kinh gọi mạch này là mạch phù mà nhuyễn. Họ Vương nói:
Mạch này là mạch không có dương, là chứng khí huyết không điều
hòa.
Bộ thốn nhu chủ về váng đầu, đổ mồ hôi. Bộ quan nhu chủ về
khí suy ít, tinh thần bị tan tác. Bộ xích nhu chủ về khí ở hạ nguyên
hư lạnh, sợ lạnh, đi ỉa chảy. - Mạch nhược: là mạch trầm vi, nhẹ tay thì không thấy,
mạch này thuộc hư. Nhược là mạch âm, là không khỏe mạnh,
mạch đập rất nhỏ và mềm, ấn vào còn có thể tìm thấy, nhẹ tay
không thấy gì, như sờ vào bông nát, nhẹ tay thì không thấy, do
chứng khí huyết thiếu thốn, cho nên mạch yếu đuối không dậy lên
được. Đó là chứng ở hạ nguyên bị hư hao khô lạnh gây nên.
Bộ thốn nhược chủ về dương khí suy kém. Bộ quan nhược chủ
về chứng khí hư suyễn gấp. Bộ xích nhược chủ về âm khí kết tụ,
dương khí thiếu kém và nóng trong xương. Lại có thuyết nói là
chứng huyết ít, khí ở hạ nguyên bị quá hư, trong xương thịt đau
buốt.
XXXIV. MẠCH CỬU ĐẠO (9 điều) - Mạch trường: chạy trơn tru đẫy suốt cả 3 bộ ra ngoài bản
vị, mạch trường có vẻ dài dằng dặc vượt ra ngoài bộ vị, chủ về
bệnh dương độc [79] tam tiêu nhiệt. - Mạch xúc: Tới mau hình như vội vàng, hấp tấp. Chủ về
dương bị che lấp, kiêm có khí trệ. - Mạch đoản: chạy chưa đầy hết trong bản vị. Chủ về bệnh
thiếu hơi, uất ức, khó chịu. - Mạch kết: là mạch đi trì hoãn mà thỉnh thoảng ngừng lại.
Chủ về bệnh tích, khí đầy và đau thuộc khí. - Mạch hư: là mạch trì đại mà mềm không có lực. Chủ về
bệnh thiếu máu. Nếu hư yếu quá sẽ thành bệnh động kinh. - Mạch đại: là khi ngừng rồi không trở về được như cũ, chủ
về khí bị hao tổn. - Mạch lao: giống như mạch huyền, càng ấn nặng tay lại
càng chắc. Chủ về bệnh đầy. - Mạch động: chạy như có vẻ lắc lư không ở hẳn một chỗ.
Chủ về bệnh hư lao, đi lỵ ra máu, chứng băng huyết. - Mạch tế: sờ tuy thấy có mạch nhưng bé như sợi tơ. Chủ
về bệnh khí thiếu kém.
BẢNG XEM MẠCH CỬU ĐẠO Ở TAY TRÁI
(Xem tay phải thì hai bên trong ngoài đảo ngược lại)
Từ Thái âm châm
đến Thái dương là
mạch Dương duy
Từ Thiếu dương châm
đến Quyết âm là
mạch Âm duy
Bên
ngoài là
Túc Thái
dương,
đập ra hai
bên là
mạch
Dương
Kiểu
Thẳng ở chính giữa Thủ Thái âm, Thái
dương. Ngang với Thốn khẩu là Nhâm mạch
Bên
trong là
Túc Quyết
âm, đập
ra 2 bên
là mạch
Âm Kiểu.
TIỀN TIỀN TIỀN
Bên
ngoài là
Túc Dương
minh, đập
ra 2 bên là
mạch Đới
BỘ Bên
trong là
Túc Thái
âm, đập
ra 2 bên
là mạch
Đới
TRUNG TRUNG TRUNG
BỘ
Ngay chính giữa
Thủ tâm thủ
HẬU HẬU HẬU
Bên
trong là
Túc Thiếu
âm, đập
ra 2 bên
là mạch
Âm Kiểu
Bên
ngoài là
Túc Thiếu
dương,
đập ra 2
bên là
mạch
Dương
Kiểu
BỘ
Thẳng ở chính giữa Thủ Dương minh
Thái âm
XXXV. MẠCH THẤT TUYỆT (7 mạch chết) - Mạch tước trác: mạch đập liền 5, 3 cái lại nghỉ. Mạch này
tựa như chim sẻ mổ thóc, mổ liền liền bỗng nhiên ngừng lại, lâu
lâu rồi lại động, đó là can tuyệt. - Mạch ngư tường: tựa như có tựa như không. Tựa như cá
lượn dưới nước, đầu thì yên lặng mà đuôi sẽ vẫy mạnh như có như
không, đó là tâm tuyệt. - Mạch ốc lậu: lâu lâu mới nhỏ xuống một giọt. Tựa như
nhà nát dột xuống, thỉnh thoảng mới nhỏ xuống một giọt rất nhẹ,
đó là vị tuyệt. - Mạch hà du: là đương yên lặng bỗng dưng nhảy lên một
cái. Tựa như tôm bơi, mạch ở trong da, lúc đầu thì lẳng lặng không
thấy gì rồi khẽ động một cái lại mất, lâu lâu lại động một cái, đó là
khí đại tràng tuyệt. - Mạch đàn thạch: sờ vào thấy cứng rắn, ấn nặng tay thì
mạch lại tan đi mất. Mạch chạy sờ vào rắn chắc tựa như tay đụng
vào đá ở sát trong gân xương, nhưng ấn nặng tay hơn để tìm thì
tan đi mất, đó là thận tuyệt. - Mạch giải sách: đặt tay vào thì tán loạn lờ mờ. Tựa như
sợi dây thừng đương bị tháo ra, sờ thấy dưới tay có vẻ tan tác rối
loạn, không trở lại thứ tự, khi thưa, khi nhặt, đó là tỳ tuyệt. - Mạch Phũ khí: mạch này cảm thấy như nước sôi trong
nồi, mạch nổi ở trên da, chỉ thấy cái tượng đùn ra mà không thấy
lặn vào, đùn lên tựa như nồi canh sôi, sủi màng ở trên, đó là phế
tuyệt.
Mạch này nếu xem thấy buổi sáng thì chiều sẽ chết, buổi
chiều nếu xem thấy thì sớm sau chết không thể chữa được. (Cũng
có những thứ mạch vẫn còn mạch khí, mà mạch chạy 3, 4 cái
hoặc 5, 6 cái lại ngừng một lần, như vậy tất nhiên có bị thương tổn
về tinh huyết, bởi sự phòng dục quá độ mà gây ra; hoặc trong
người có chất đàm dính đặc làm ngăn trở cho khí nghịch lên,
không nên công kích. Nếu không phải vì sự trác táng thì do sự trèo
cao bị ngã, hoặc đòn đánh bị thương, làm cho huyết ứ tích lại
không tan đi được mà sinh ra như vậy. Hoặc vì thất tình lo nghĩ
làm ra hư, hoặc vì hay ăn chất cao lương để bổ làm cho tích thực
hóa đờm, bế tắc các kinh lạc tạng phủ mà có thứ mạch này; như
vậy thì chưa có thể xếp vào loại mạch chết. Nhưng cũng là cái dấu
hiệu không còn được hưởng thọ lâu dài nữa.
Nếu mạch bộ thốn có, bộ xích không có; bộ xích có, bộ thốn
không có là sẽ chết. Mạch đại sẽ chết. Ba thứ mạch kết, xúc, đại
cũng đều có ngừng. Song mạch xúc, mạch kết tuy có ngừng
nhưng sau trở lại như cũ thì sống. Mạch đại ngừng rồi không trở về
được như cũ cho nên chết.
XXXVI. CÁCH NHẬN MẠCH SỐNG (sinh mạch)
Một hơi thở ra mạch đập 2 lần là mạch bình. Ba lần đập là
mạch ly kinh. Bốn lần đập là mạch đoạt tinh. Năm, sáu lần thì
chết.
XXXVII. CÁCH XEM MẠCH TỔN (tổn mạch)
Một lần thở ra hít vào là một hơi thở mạch đập 4 lần là mạch
Bình, đập 3 lần là Trì, 6 lần là Sác. Nếu đến có 2 lần là tổn, đến 1
lần là bại, như vậy là sẽ chết.
XXXVIII. CÁCH BIỆN VỀ MẠCH HỮU LỰC VÀ VÔ LỰC. - Ấn nhẹ tay vào thấy có mạch phù, lại ấn trung bình vẫn
còn mạch y như trước là mạch hữu lực; tức là ấn nhẹ tay vào thấy
mạch to, ấn vào trung bình cũng thấy to như vậy. Nếu ấn trung
bình lại kém đi, như thế là mạch vô lực, đó là xét theo sức đập ở
đầu ngón tay từ trên xuống dưới. - Ấn nặng sâu tay xuống thấy có mạch trầm, ấn trung bình
cũng thấy mạch nguyên như thế là hữu lực, tức là ấn nặng tay thì
mạch to, khi ấn trung bình cũng thấy to như trước, nếu ấn trung
bình thấy kém trước là mạch vô lực. Đó là xét theo sức mạch đập
từ dưới lên trên.
XXXIX. CÁCH XEM MẠCH NHÂN NGHINH, KHÍ KHẨU.
Ba bộ bên tay trái là bộ vị của tâm và tiểu trường, can và
đởm, thận và bàng quang. Trước bộ quan tay trái một phân là
nhân nghinh, chỗ đó là bộ vị của can đởm để xem xét mức độ
nhiễm vì lục dâm, sự sinh hoạt mất bình thường hay cảm phải thời
khí trái mùa. Nơi đó thấy hiện mạch khẩn quá là thương hàn, đều
thuộc về chứng ngoại cảm, là tà khí hữu dư.
Ba bộ bên tay phải là bộ vị của phế, đại tràng, tỳ vị mạch
môn, tam tiêu, trước bộ quan tay phải một phân là khí khẩu là bộ
vị của tỳ vị, để xem xét sự thương tổn vì thất tình, phòng dục, làm
việc mệt nhọc, hoặc ăn uống mất điều độ. Mạch chỗ này thấy
khẩn quá là do thương thực, đều là chứng nội thương hay suy
kém.