Bàn về các loại Mạch

CÁCH XEM MẠCH NAM PHỤ LÃO ẤU
NGƯỜI GẦY KẺ BÉO.

  1. Mạch người già cần hoãn, nhược, vượng quá là có bệnh.
    Nếu mạch vượng mà không vội vàng là hiện tượng sống lâu. Nếu
    mạch chạy vôi vàng chỉ nổi ở ngoài biểu, còn ấn sâu vào không
    thấy gì là sắp chết.
  2. Phép xem mạch phải nên tùy theo người gầy người béo.
    Người béo thì mạch trầm tế; người gầy thì mạch phù trường; trẻ
    em thì mạch nhanh, người già thì nhu, tùy theo từng vóc người
    thấp nhỏ mạch đoản, người cao lớn mạch trường, không nên cho
    là mạch bệnh.
  3. Mạch nam giới ở trên bộ quan mạnh; Mạch nữ giới ở bộ
    xích hay phù hồng; Mạch theo từng mùa, xuân huyền, hạ hồng
    thu mao, đông thạch. Mạch những tháng cuối mùa thì hòa bình là
    vị khí thịnh vượng, (Bốn mùa đều cần phải có vị khí làm căn bản).
    Cứ xem bốn mạch Phù, Trầm, Trì, Sác cũng bao quát được các
    bệnh, không cần phải phân biệt nhiều tên mạch quá. Mạch Phù
    mà sờ thấy tan tác; mạch Trầm mà ấn vào không tìm thấy đâu,
    mạch Trì mà một hơi thở mới động một lần; mạch Sác mà động
    liền liền không thể đếm kịp đều là chứng chết cả. (Người trẻ khỏe
    mạch phải đầy chắc, nếu quá yếu là bệnh).
    XLI. CÁCH NHẬN XÉT MẠCH BÌNH THƯỜNG CỦA CÁC
    LỚP NGƯỜI LỚN, BÉ, CAO, THẤP, NAM, NỮ ĐỂ BIẾT SỰ
    THUẬN NGHỊCH.
    Phép xem mạch nên nhận xem người lớn hay bé; người cao
    hay thấp và tính nết ôn hòa hay nóng nảy. Mạch nhỏ, to, mau,
    chậm, ngắn, dài nếu hợp với hình thể thì tốt, nếu không hợp là
    mạch nghịch. Mạch ba bộ đều nên được thuận. Chỉ có mạch người
    nhỏ bé, đàn bà thì mạch mềm nhỏ. Trẻ em 4, 5 tuổi mạch đập 8
    lần trong một hơi thở là tốt. Sách Thiên Kim nói: “Người bé nhỏ mà
    mạch to, người béo mà mạch hư, người lao lực mà mạch thực,
    người nóng tính mà mạch hoãn, người tính hoãn mà mạch cấp,
    người khỏe mà mạch tế; người yếu đuối mà mạch to, đều là mạch
    nghịch, bệnh rất khó chữa”. Trái với những điểm đó là mạch
    thuận, dễ chữa. Phàm mạch đàn bà thường nên nhu nhược hơn
    mạch đàn ông, trẻ con 4, 5 tuổi thì mạch chạy nhanh, một hơi thở
    mạch đập 8 lần là trung bình.
    XLII. SO SÁNH CÁC LOẠI MẠCH GIỐNG NHAU. (11 điều)
    Những mạch giống nhau:
  • Mạch Hồng với mạch Hư cũng đều đi nổi lên (phù) (Phù hữu
    lực là Hồng, vô lực là Hư)
  • Trầm với Phục đều là mạch đi chìm xuống (trầm) (mạch
    Trầm đi ở khoảng gân, ấn nặng tay vào thì thấy. Mạch Phục đi sát
    trong xương, ấn nặng tay cũng không thấy; phải đẩy gân ra một
    bên, ấn sát vào xương mới thấy).
  • Sác với Khẩn đều là mạch nhanh (Mạch Sác đi nhanh một
    hơi thở đập 6 lần, nên gọi là sác; mạch Khẩn thì không cứ phải đủ
    6 lần, duy thấy mạch huyền mà cấp bách và đạp chằm chằm bên
    này bên kia giống như chiếc dây xoắn).
  • Trì với Hoãn cũng đều là mạch chậm (Trì thì đập từ từ, một
    hơi thở 3 cái, hoãn thì nhảy thong thả, một hơi thở 4 lần).
  • Thực với Lao cũng đều kiêm cả 4 mạch: huyền, đại, thực và
    trường (Mạch thực tìm ở ba mức phù, trung, trầm đều như nhau,
    nhưng mạch lao thì phải ấn sát tay mới thấy).
  • Hồng với Thực đều là mạch hữu lực (Hồng thì khi ấn nặng
    thấy giảm sút, thực thì dù ấn nặng mạch vẫn mạnh).
  • Cách với Lao cũng đều to và một dạng với mạch huyền
    (Cách thì ấn nhẹ tay là thấy, lao thì ấn nặng tay mới thấy được).
  • Nhu với Nhược đều nhỏ bé cả (Nhu thì ấn nhẹ tay mới thấy,
    ấn nặng tay sẽ không thấy, nhược thì ấn nặng tay mới thấy, ấn
    nhẹ tay sẽ không thấy).
  • Đoản với Động đều là không đầu không đuôi (Đoản là âm
    mạch, đi lại thấy chậm chạp, động là dương mạch, đi lại thấy
    nhanh nhảu).
  • Sác mà thỉnh thoảng ngừng một cái gọi là Xúc; Hoãn mà
    thỉnh thoảng ngừng một cái gọi là Kết; Đi lại vướng mắc tựa như
    muốn ngừng mà không phải ngừng gọi là mạch Sắc.
  • Động mà nửa chừng thấy ngừng rồi không thấy tiếp tục như
    cũ, khi ngừng có số nhất định gọi là mạch Đại.
    XLIII. LỜI BÀN (3 điều)
    Nội kinh nói: “Mạch có sức dồi dào mà thân hình khí lực suy
    kém cũng sống được”. Có chỗ nói: “bắp thịt teo róc hết, thì tuy
    rằng chín hậu mạch vẫn còn điều hòa, cũng chết”. Như thế là chỗ
    trọng về mạch, chỗ trọng về hình trái ngược nhau chăng? Không
    phải như vậy đâu, vì rằng mạch khí hữu dư, phần lý không có
    bệnh nặng, hình khí có suy kém, nhưng bắp thịt chưa đến nỗi teo
    róc hết thì chết sao được? Nếu đến lúc bắp thịt teo róc hết thì tất
    nhiên có bệnh nặng đã lâu, khí huyết suy kém, cho nên chín hậu
    mạch nhỏ bé như sợi tơ, nên tựa như có vẻ hòa hoãn. Song bắp
    thịt đã teo róc hết là tỳ đã tuyệt, thì còn sống sao được?
    Người ta có mạch xích không khác gì như cây có cội rễ, vì
    rằng thủy là sự phát sinh đầu tiên của thiên nhất, là cội rễ sinh
    mệnh của tiên thiên, Vương Thúc Hòa nói: “Mạch bộ thốn, bộ quan
    tuy không thấy nhưng mạch bộ xích vẫn còn chưa hết, như thế thì
    không chết được”. Nội kinh nói: “Các mạch phù [80] không có căn
    đều chết”, là chỉ có biểu mà không có lý, như vậy gọi là một mình
    dương thì không sinh được. Vì hai bộ xích là bộ vị của thận; cả 6
    bộ mạch trầm cũng đều thuộc thận. Mạch 2 bộ Xích vô căn và 6
    bộ ấn trầm đều vô căn, là thuộc về thận thủy bị tuyệt. Cho nên nói
    rằng: Mạch cốt yếu phải có thần, tức là ấn nặng chìm xuống thấy
    có căn gọi là mạch có thần, ví như cái cây khi cội rễ đã bị thối nát
    rồi, dù có vun xới cũng vô ích. Cho nên biết rằng mạch chân tạng
    là mạch không thể chữa được. Bởi vì người ta lấy vị khí là căn bản
    mạch. Vì đập vào tay cảm thấy đều đặn hòa nhã, có ý êm ái du
    dương không thể hình dung được. Thái quá hay bất cập đều có
    bệnh. Nhưng hễ thấy mạch chân tạng, không có vị khí thì chết.
    Mạch Xung dương là mạch của Vị, ở chỗ động mạch trên mu
    bàn chân, cách huyệt Hãm cốc 3 thốn. Bởi vì thổ là gốc sinh ra
    vạn vật, mạch Xung dương không suy kém thì vị khí vẫn còn, tuy
    bệnh có nguy mà có thể cứu sống.
    Mạch Thái khê là mạch của thận ở trên xương gót chân, phía
    sau mắt cá trong có động mạch đập vì thủy là nguồn của thiên
    nhất, mạch Thái khê chưa suy thì thận chưa tuyệt, tuy rằng bệnh
    nguy vẫn còn có cơ sống. Người ta ai cũng biết rằng, dương thực
    thì mạch hồng đại, nhưng thực tới cực độ mạch lại ẩn phục. Đó là
    hiện trạng hào Thượng cửu quẻ Càn găng thịnh quá thì không tốt.
    Người ta ai cũng biết rằng âm hư thì mạch vi tế nhưng hư cực độ
    thì mạch lại nhanh hơn, đó là hiện tượng hào Thượng lục của quẻ
    Khôn găng thịnh quá thì không tốt. Đây là lẽ âm dương lấn át lẫn
    nhau, người nhận định sáng suốt sẽ thấy rõ. Những bệnh mạch
    thuộc âm, có mạch trầm, mạch khẩn, mạch sác, mà Trọng Cảnh
    chỉ nói chung là mạch Vi Tế, bởi vì mạch trầm thì phải ấn nặng tay
    mới tìm thấy, thì Khẩn Sác cũng chỉ nằm trong cái Trầm Tế; nó
    không giống cái Khẩn Sác trong mạch phù đại của dương chứng.
    Tiết Lập Trai nói: “Người ta chỉ biết sác là nhiệt, không biết
    rằng trong Trầm Tế mà thấy sác là rất hàn”. Chứng chân âm chân
    hàn mạch thường đập 7, 8 lần trong một hơi thở nhưng ấn vào vô
    lực mà sác, những chỗ này phải suy xét kỹ. Cho nên nói mạch Sác
    là nhiệt; Phù Sác là biểu nhiệt; Trầm Sác là lý nhiệt. Sác mà hữu
    lực là thực nhiệt, huống hồ mạch tế sác thì còn nhiệt sao được?
    Mạch Thượng ngư là mạch lên ngang tới trấy tay; nhiều người hay
    có thứ mạch ấy. Mạch giống nhau, bệnh khác nhau, thì không thể
    luận trị như nhau được. Có khi mạch ở hai tay đều lên đến trấy
    tay, có khi chỉ một tay lên tới trấy tay. Nếu người bình thường,
    thần khí sung túc mà có loại mạch như vậy là bẩm chất dồi dào,
    nguyên thần đầy đủ, mạnh dần đến trấy tay, là người đó sẽ thọ.
    Nếu người vẫn không có mạch ấy, mà bỗng dưng thấy mạch động
    lên trấy tay là mạch bệnh. Nạn kinh nói: “Trước bộ quan là chỗ
    dương động, mạch chỗ ấy phải phù tới 9 phần, kém như vậy là bất
    cập, quá như vậy là thái quá”. Lên đến trấy tay là mạch dật [81] là
    nội quan ngoại cách, là mạch âm lấn dương.
    XLIV. MẠCH NỘI NHÂN
    Mừng hại tâm thì mạch hư.
    Nghĩ hại tỳ thì mạch kết
    Lo hại phế mạch thường sắc
    Giận hại can thì mạch nhu
    Sợ hại thận thì mạch trầm
    Kinh hãi hại đởm thì mạch trì trệ
    Xót thương quá tổn thương bào lạc thì mạch khẩn.
    Đó là các mạch nội nhân vì thất tình báo hiệu ở khí khẩu.
    XLV. MẠCH NGOẠI NHÂN
    Mạch khẩn thấy ở bộ thận là thương hàn. Mạch hư tìm thấy ở
    bộ tâm bào là thương thử. Mạch sắc thấy ở bộ phế là thương táo.
    Mạch hoãn thấy ở bộ tỳ tế hoãn là thương thấp. Bộ can phù thì
    thương phong. Bộ tâm nhược thì thương hỏa. Muốn xét tà lục dâm
    cảm vào người, thì nên nhận định như trên, để tránh khỏi sự nhận
    định hàn nhiệt lẫn lộn.
    XLVI. CÁC MẠCH THÍCH HỢP VÀ KHÔNG THÍCH HỢP VỚI
    BỆNH.
  1. Trúng phong nên phù trì không nên cấp sác.
  2. Thương hàn bệnh sốt nên hồng đại không nên trầm tế.
  3. Thương hàn đã phát hãn rồi mạch trầm tế thì sống, phù đại
    thì chết.
  4. Ho mạch nên phù sác, không nên trầm phục.
  5. Đau bụng đau dạ mạch nên trầm tế không nên phù, đại,
    huyền trường.
  6. Đầy bụng nên phù đại không nên hư tiểu.
  7. Nhức đầu nên phù hoạt không nên đoản sắc.
  8. Ỉa chảy nên vi tiểu không nên phù đại, sác.
  9. Hen suyễn nên phù hoạt không nên sắc.
  10. Ôn bệnh nóng hừng hực mạch tế tiểu thì chết, có chỗ nói:
    trầm thực thì sống, trầm tế tiểu thì chết.
  11. Bệnh tích ở ngực bụng mạch kiến thực và cấp thì sống,
    mạch nhược thì chết.
  12. Điên mạch hư có thể chữa được.
  13. Cuồng nên thực đại, không nên trầm tế.
  14. Thổ huyết nên trầm nhược, không nên thực đại.
  15. Hoắc loạn nên phù đại, không nên vi trì.
  16. Thủy thũng nên trầm hoạt, không nên vi tế.
  17. Chảy máu cam nên trầm tế, không nên phù đại.
  18. Các chứng trúng ác nên khẩn tế, không nên phù đại.
  19. Các vết thương đâm chém nên hồng đại, không nên vi tế.
  20. Ngộ độc nên hồng đại, không nên vi tế.
  21. Kiết lỵ ra máu mũi nên trầm trì, không nên sác thực.
  22. Thổ huyết nên trầm tiểu, không nên thực đại.
  23. Té ngã bị thương bên trong nên khẩn cấp, không nên
    nhược tiểu.
  24. Phong tê bại xụi nên hư nhuyễn, không nên sắc.
  25. Có tích trong ruột kỵ mạch hư nhược.
  26. Xuất huyết mạch thực là rất nguy.
  27. Bệnh sốt mạch trầm tế thì nguy.
  28. Tháo dạ mạch đại thì nguy.
  29. Bệnh ở trong mạch hư thì nguy.
  30. Bệnh ở ngoài mạch sắc thì nguy.
  31. Ung nhọt ra nhiều máu mủ mạch hoạt sắc thì nguy.
  32. Đàn bà khí hư bạch đới nên trì hoạt, không nên phù hồng
    và cấp sác.
  33. Có thai 5, 6 tháng, mạch nên thực đại, huyền khẩn,
    không nên trầm tế hư nhiệt.
  34. Đàn bà trước khi đẻ, mạch tế tiểu thì nguy.
  35. Đàn bà có chứng hư lao, mạch sác thì nguy.
  36. Sau khi đẻ mạch nên tiểu thực, trầm, tế, hoạt, vi, không
    nên phù, hư, huyền, cấp, thực, đại, lao, khẩn.
  37. Đau nhức đầu mắt bỗng không trông thấy gì thì chết.
  38. Ỉa ra máu, mình nóng thì chết, mình lạnh thì sống.
  39. Chứng ho gầy guộc, mạch kiện đại thì chết.
  40. Chứng tiêu khát (đái đường) mạch sác đại thì sống, tế
    tiểu phù đoản thì chết.
  41. Bệnh thuộc thủy khí, mạch hồng đại có thể chữa được, tế
    tiểu không chữa được.
  42. Chứng quyết nghịch ra mồ hôi, mạch mạnh mẽ thì sống;
    mạch hư nhược thì chết.
  43. Bệnh phong không cảm giác rũ liệt mạch hư thì sống,
    mạch cứng và mau gấp quá thì chết.
  44. Chứng đi ỉa chảy sống phân (đi ỉa ra máu mủ) mạch vi
    tiểu thì sống, khẩn quá thì chết.
  45. Chứng suyễn thở dốc lên, mạch hoạt, chân tay ấm thì
    sống, mạch sáp chân tay lạnh thì chết.
    XLVII. CÁCH DỰA VÀO MẠCH ĐỂ CHẨN BỆNH
    Tạp bệnh thì mạch huyền là dương, thương hàn thì mạch
    huyền là âm. Tạp bệnh thì mạch hoãn là yếu. Thương hàn thì
    mạch hoãn là bình hòa. Hai tay không có mạch là song phục; một
    tay không có mạch là đơn phục, thấy vậy là sắp muốn ra mồ hôi.
    Trong mạch dương trên thốn khẩu hoặc thấy trầm tế nhưng vô lực
    là âm phục trong dương, trong mạch âm ở bộ xích hoặc thấy hiện
    trầm sác là dương phục trong âm. Mạch thốn sác đại hữu lực là
    trùng dương, mạch xích trầm tế vô lực là trùng âm.
    Mạch thốn phù mà hữu lực, chủ hàn tà, ngoài biểu thực nên
    phát hãn. Phù mà vô lực chủ phong, là biểu hư, nên phải thực
    biểu. Mạch bộ xích trầm mà hữu lực, chủ dương tà ở lý là thực,
    nên hạ. Mạch vô lực chủ âm tà ở phần lý là hư, phải nên ôn. Mạch
    thốn nhược vô lực, thì rất kiêng gây nôn; mạch xích nhược mà vô
    lực thì kiêng phát hãn và công hạ. Mới ấn tay thấy mạch tới thì
    mau, mạch đi thì chậm, gọi là trong thực ngoài hư; Đi mau tới
    chậm gọi là ngoài thực trong hư. Mạch bộ xích và bộ thốn đều đặn
    ngang nhau gọi là hoãn; Hoãn là điều hòa là sống. Sau khi hãn hạ
    rồi, mạch yên tĩnh là sống, đó là chính khí trở lại; mạch rối loạn
    lên, mình nóng thì chết là vì tà khí thắng. Sau khi ấm rồi, mà
    mạch tới thỉnh thoảng lại ngừng, là chính khí đã thoát rồi không
    trở lại được. Mạch hiện chỉ có huyền là phụ; phụ thì chết, ấn vào
    hình như tháo dây thừng, gọi là âm dương ly, ly thì chết. Bệnh
    thuộc âm chứng, hiện ra dương mạch thì sống. Bệnh thuộc dương
    chứng, hiện ra dương mạch thì sống. Bệnh thuộc dương chứng,
    hiện ra âm mạch thì chết. Mạch hai tay trái phải đều khẩn quá và
    cấp là thương hàn ghé có chứng thương thực. Mạch tay trái đập
    khẩn thịnh, là chứng lao lực bị thương hàn. Mạch bên trái khẩn
    thịnh, hồng hoạt, hoặc thốn trầm phục, mình nóng, sợ lạnh, đầu
    nhức âm ỉ, ho và buồn phiền, sườn ngực và thân thể đau là chứng
    thương hàn kèm có chứng đàm. Mạch tay trái khẩn sác tay phải
    trầm sác, ở dưới chấn thủy, ngực sườn, bụng dưới có chỗ đau, là
    huyết kết, chứng nội thương kiêm cả ngoại cảm.
    XLVIII. TÁM MẠCH KỲ KINH ( 8 điều)
  46. Mạch Đốc: khởi đầu từ huyệt Hạ cực, theo trong xương
    sống lên đến huyệt Phong phủ, vào thuộc trong óc. Đốc nghĩa là
    đô hội, chỗ đô hội của các mạch dương, chủ về nam giới.
  47. Mạch Nhâm: khởi đầu ở dưới huyệt Trung cực, đi lên đến
    chòm lông mu, theo vào trong bụng lên qua huyệt Quan nguyên
    tới yết hầu, lên tới cằm vào mắt, liên lạc vào lưỡi, nó là cái bể để
    chứa các mạch âm, nguồn gốc sinh đẻ ở đó, chủ về nữ giới.
  48. Mạch xung: khởi đầu từ huyệt Khí nhai (khí xung) nơi
    phát nguyên của vị kinh cùng với Túc dương minh đi kèm bên rốn
    đến giữa ngực rồi tản ra.
  49. Mạch Đới: khởi đầu từ dưới mạng sườn, vòng ngang lưng
    một vòng như cái dây nịt.
  50. Mạch Dương kiểu: khởi đầu ở giữa gót chân, đi quanh ra
    mắt cá ngoài lên đến huyệt Phong trì, mạch đi đằng sau lưng,
    thuộc dương.
  51. Mạch Âm kiểu: khởi đầu ở giữa gót chân đi lên mắt cá
    đến yết hầu giao với mạch xung. Mạch đi ở phía trước bụng, là
    thuộc âm.
  52. Mạch Dương duy: khởi đầu ở nơi hội họp của các mạch
    dương.
  53. Mạch Âm duy: khởi đầu chỗ giao nhau của các mạch âm,
    duy nghĩa là giằng giữ, vì âm dương không giằng giữ lấy nhau, cho
    nên phát ra bệnh. Song bệnh ở kỳ kinh không phải tự nó sinh ra,
    đều do các kinh kia tràn tới.
    XLIX. CHỦ BỆNH CỦA KỲ KINH
  54. Bệnh của Dương duy hay có chứng nóng lạnh.
  55. Bệnh của Âm duy hay có chứng đau trong ngực.
  56. Bệnh của Dương kiểu thì dương khí cấp bách sinh ra mê
    cuồng chạy bậy [82].
  57. Bệnh của Âm kiểu thì âm khí cấp bách hay chạy [83].
  58. Bệnh của mạch Xung thì khí từ dạ dưới nghịch lên mà
    trong bụng trướng lên đau đớn.
  59. Bệnh của mạch Đốc thì xương sống lạnh cứng, đau như
    gãy.
  60. Bệnh của mạch Nhâm, về nam giới thì sinh chứng sán
    khí, về nữ giới thì sinh bệnh bạch đới hạ.
  61. Bệnh của mạch Đới thì trong bụng đầy ăm ắp như trong
    có nước. Hai kinh mạch Xung, Nhâm của phụ nữ lại là nơi sinh ra
    sữa, huyết và kinh nguyệt, nam và nữ chỉ khác nhau chỗ đó.

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc