Tử năm 1280 đến năm 1367, trong gần một thế kỷ, nòi giống Hản lần đầu tiên nếm cải nhục bị đặt dưới ách cai- trị của một sắc dân dị tộc. Nhà Nguyên làm chúa-tề Trung-Hoa, nhưng tuy thống lĩnh nòi Hản, mà người Mông cô lại bị dân tộc bị-trị khai hóa và đồng- hóa.
Chu-nguyên-Chương khởi nghĩa, diệt nhà Nguyên, dựng nhà Minh tử năm 1368. Miêu duệ của người anh- hùng áo vải đất Hào-châu liên-tiếp truyền được mười bầy đời vua, trị quốc được 275 năm, đến năm 1613, dưới đời Sùng Trinh Hoàng-đế thì Lý-tự- Thành tiếm vị.
Thời kỳ huy hoàng nhất của nhà Mình là thế-kỷ thứ mười sảu, và triều- đại Gia Tĩnh (1522-1566) là buồi hoàng- kim, bởi lúc bấy giờ Trung Quốc thải bình thịnh trị, bốn phương phẳng lặng, hai kinh vũng-vàng, văn-hóa, thương mại và kỹ nghệ (1) phát triền cao-độ.
Trong phạm-vi y-học và dược học, thế kỷ thứ mười sáu cũng là thế-kỷ thâu-đạt nhiều thành quả nhất của nền vương-thống. Trong bài nầy, chúng tôi chỉ đề cập đến khía cạnh trước-tác các bản thảo (2) ở Trung-Hoa, suốt
trong thời gian gần ba thế kỷ, từ triều- đại Minh-Thái-tô đến triều đại Minh Sung-trinh.
Π
Tử đầu thế kỷ thứ mười lăm, nghè hải-hành bắt đầu phát triền ở
Trung- Hoa. Vua Minh Thành-tô (Vĩnh-lạc) sau khi phả Mông-cô, bình Việt-nam (diệt nhà Hồ), liền sai sử ra hải ngoại đề tuyên-dương uy đức của mình. Trong các sử thần xuất-dương, thải-giảm Trịnh Hòa đã thành công mỹ-mẫn hơn hết. Sử chép rằng năm 1405, Trịnh-Hỏa đốc- xuất 62 chiến-thuyền lớn, thống lĩnh 37 000 thủy thủ, đem theo nhiều ngọc ngà châu bảu lụa là tử của khẩu Lưu- gia-cảng ở Tô Châu vượt bề qua Phúc- Kiến đến Annam, Qua oa (Java), Tich lan, ghé các nước Tây dương, tức Nam dương, Ấn độ. Rồi liên tiếp trong ba
mươi năm, từ 1405 đến 1433, họ Trịnh đi sử nước ngoài bầy lần, trải qua hơn bốn mươi quốc gia: mười lăm nước ở phía đồng bản đảo Mã lai, bầy nước ở chung quanh Tô môn đắp lạp (Suma tra), sấu nước ở vùng Ấn độ, năm nước thuộc A-lạp-bả (Arabie), ba nước ở châu Phi. Nghĩa là, ghẻ bến Đài-loan, Phi-luật-tân, Trịnh Hóa phía nam đến tận Java, phía tây bỏ neo nơi Hồng- hải, phía tây-nam đặt chân lên đông ngạn Phi-châu và Mã-đảo.
Thủy thủ đoàn, trong những lần tầu ghé bến, chắc chắn đã có dịp học- hỏi về thế giới động vật và thực vật của những miền đất lạ cũng kỹ-thuật sử-dụng cỏ cây trong điều trị bởi các sắc dân ngoại quốc. Nhiều tác giả đã tường thuật những điều mắt thấy tai nghe nơi quê người, nhất là tại những vùng đất khô cần nhiệt đới. Những tư- iệu như bộ Hải Trà Dư Lục của Có- Giới, bộ Tây Dương Phiên Quốc Chí của Công-Trân và những thư tịch khắc nữa đã đóng góp không nhỏ vào kho tàng dược liệu học Minh-triều.
Mặt khác, mối giao lưu Đông-Tây, manh-nha từ các đời Hân, Đường, đã trở nên căng chặt chẽ hơn dưới đời Minh. Triều vua Minh Hiếu-tông, dân Bồ-đão-nha vượt Ấn độ dương qua Trung-Hoa buôn-bản và truyền-giáo. Tiếp theo là các chủng tộc Hòa-lan, Anh-cát lợi, Tây-ban-nha. Triều đại Minh Thế-tông, vào khoảng năm 1535, người Bồ xuất tiền thuê đất Áo-môn làm căn cứ chính thức. Đời Minh Thần,
tông, Manille là thị trường mậu dịch
chủ yếu của Hán tộc. Đấy là bối cảnh
kinh-tế, thương mại và giao thông.
Về mặt y học thì vào thế kỷ thứ mười ba, Lý Cảo lức Lý Đông Viên, một khuôn mặt lớn của Trung-Y thời Nam-Tống, chủ xưởng rằng tỷ vị vận- hỏa bình thưởng là yếu tố mấu chốt của tình trạng mạnh khỏe và bệnh tật luôn luôn xây ra sau khi chức năng tỷ vị bị tồn thương. Đến thế kỷ thứ mười bồn, Chu-chấn-Hanh tức Chu-Dan-Khô trong Đan Khê tâm pháp nhấn mạnh đến tầm quan trọng của dinh dưỡng và tiết thực trong điều trị bệnh tật. Ảnh hưởng của hai vị tiên-y ấy còn in đậm dấu ấn lên y-học đời Minh, và vì vậy các tác giả Minh-triều đặc biệt lưu tâm nghiên cứu phương pháp vệ sinh ẩm thực và sảng-tác nhiều sách mà đối tượng là môn dược liệu học dưỡng sinh.
Đồng thời, trong những năm dài gian-khô chống lại ngoại xâm Mông-cò, và ngay cả khi đã thâu hồi chủ quyền, nhiều vùng đất rộng lớn vẫn làm cảnh cơ hẳn, đôi kém. Quần chúng đã đói khồ mà nhà vua, vì nuôi binh lính quá nhiều đề phục vụ cho bộ máy chiến- tranh, phải tăng thuế ruộng. Bon quan lại thi hành chính sách thì tham-ngược những nhiễu, thiên hạ căng làm-than thêm. Cho nên Trương-hiếu-Trung dấy binh ở Diên-an, Lý-tự-Thành nổi lên ở Mễ-chi, tuy chỉ biết chuyên việc cướp bóc, mà cũng quy tụ được một số rất đồng dân chúng. Đối trước những thảm cảnh như thế, người nông dân Trung-Hoa đã tự lực phát kiến một số cây cỏ khả dĩ thay thế thự – phầm. Các loài thực vật này cũng được các
nhà – trước thư lập ngôn » ghi nhận.
Những cuốn như Cứu Hoang Bản Thảo
và Dã Thái Bác Lục chẳng hạn đều thuộc loại này.
Văn học và y học nhà Mình còn chịu ảnh hưởng nặng nề của Chu-Hy, danh – nho đời Tống, trước-tác rất nhiều, kề cả chú thích bộ Tử Thư. Như những giòng nước chày trở về nguồn, các tác giả đời Minh luôn luôn tham-khảo, học hỏi Chu-Hy, nhà học- giả uyên bác đã sáng suốt đề cao những lề lối làm việc rất khoa học nhắm chủ trương mở rộng kiến thức, khảo sát vạn vật. Và do nơi sự kiện trị liệu bằng thực vật chính là một khía cạnh của khoa khảo sát sự vật nên dược liệu học trở thành một môn học thời thức lúc bấy giờ. Hậu quả là rất nhiều sách bàn về lý thuyết dụng dược ra đời như Bản Thảo Phát Huy, Bản Thảo Tập Yếu, và Bản Thảo Cương Mục Vựng Ngôn.
Thành ra một số lượng không-lồ những dữ kiện dược học đã xuất-sinh liên tiếp, và vấn đề cấp bách đặt ra cho giới nghiên cứu đương thời là phải tồng-hợp tất cả những tri thức tần mạn, rải rác lại trong một công trình sưu-khảo chung-nhất. Chính bộ Bản Thảo Cương Mục của Lý-thời-Trân đã đáp ứng nhu cầu khẩn thiết ấy, khi sách xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ mười sáu.
Trong những trang sau đây, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát những bản. thảo xuất hiện trước và sau tác-phầm của Lý-thời-Trân, nghĩa là chúng tôi sẽ lấy Bản Thảo Cương Mục làm mốc chia thời gian, do tầm mức quan trọng đặc- biệt của bộ dược liệu-học vĩ đại ấy.
Cuối bài, chúng tôi sẽ có một biều
nhất lầm sơ lược để độc giả tiện đối chiếu.
THƯ – TỊCH ĐỜI MINH VỀ DƯỢC – LIỆU – HỌC TRƯỚC BẢN – THẢO CƯƠNG – MỤC
Cũng với sự chấm dứt triều-đại nhà Tổng vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười ba, y-học Trung Hoa rẽ theo một khúc quanh quan trọng, nhất là trong phạm vi nghiên-cuu. Trương.nguyên- Tố, Lưu-hoàn-Tố, Lý-Cảo, Chu-chấn- Hanh và nhiều tác giả khác nữa đã đề xưởng những lý thuyết mới trong linh. vực sinh lý bệnh-lỷ, song song với những phát giác tân tiến về cơ chế tác dụng của các dược liệu.
Trương-nguyên Tổ chẳng hạn, qua cuốn Khiết Cổ Gia Trân, chủ trương thuyết tùy kinh dụng được, nghĩa là dùng thuốc phải phụ thuộc vào chứng- trạng của từng kinh mạch trong cơ- thề, bệnh tật ở kinh nào ắt phải nhờ đến thuốc của kinh ấy. Đây là một đường hưởng trị liệu mới mẻ và độc- đảo, có thể xem gần như khai sinh ra thuyết quy kinh trong trị-pháp hiện- đại của Đông-Y.
Lý-Cảo, trong Dụng Dược Pháp Tượng, bằng vào công năng, tác dụng của thuốc lên cơ thề, phân chia được liệu thành bốn loại minh bạch: thăng (thuốc có khả năng đi lên), giáng (huốc có khả năng đi xuống), phù (thuốc có tác dụng nồi) và trầm (thuốc có tác- dụng chìm).
Cho nên các tác giả đời Nguyên và đời Minh, dựa phần nào vào đưởng- lối căn bản các tiên-y vừa nêu tên đã
- vạch sẵn, đi đến kết luận rằng những
bộ sách như Chứng Loại Bản Thảo, đã được trước tác và từng nồi danh dưới triều nhà Tống, không còn hợp thời nữa. Vì vậy, đề cập nhật hóa các tri- thức về dược học đang bành trưởng, Vương hiếu Cổ trước lắc Thang Dịch Bản Thảo vào buổi khai nguyên triều Nguyên, và Từ ngạn-Thuần soạn bộ Bản Thảo Phát Huy lúc nhà Minh mới đặc vững nền để chế. Bản Thảo Hội Biên của Uông Cơ cũng là một dược- thư đồng loại. Cuốn này về sau bị Lý- thời-Trân cho là có nhiều lầm-lẫn.
Cho đến Vương hiếu Cổ và Từ ngạn -Thuần, lề lối sắp xếp dược liệu vẫn là lè-lối kinh-điền, nghĩa là dựa vào nguồn gốc vị thuốc, như phân-chia thuốc thành từng loại cây, cỏ, rau, chim, hủ, kim-khí, khoảng chấtv.v… Năm 1492, Vương Luân viết Bản Thảo Tập Yếu với một quan niệm sắp-xếp thuốc mới mẻ, đấy là sắp xếp dược- liệu dựa vào công năng, tác dụng. Tuy vậy, bồ này vẫn còn nhiều sai-lam. Chẳng hạn vị Huyền-hồ sách (Corydalis ambigua Cham. et Schlecht.) vốn là một vị an thần chỉ thống; và Ba đậu (Croton Tiglium L.), vốn là một vị thuốc xồ, đều được xếp vào hạng các dược- liệu phả huyết. Tuy nhiên, dẫu có khiếm khuyết, đây vẫn là một bước tiến lớn trên đường nghiên cứu và sắp xếp các thành phần cấu tạo kho tàng dược liệu Trung-Y.
Nếu các vị thuốc được phân-loại lai một cách khoa học hơn trong một số bản thảo, thì cũng có những được-
thư đời Minh lấy nghiên cứu xuất xứ
dược liệu làm căn bản cho sự tu-chinh,
bồ-túc. Đai-biều cho đường-hường này
là Trần-gia-Mô, tác giả bộ Bản Thảo Mông Thuyên. Sách ấn hành năm 1565, – nghĩa là 73 năm sau tác phẩm của
Vương Luân. Họ Trần cho rằng mình đã mất bầy năm đề hoàn thành cuốn dược-thư và sách đã được chỉnh-lý năm lần. Thề thức phân loại vẫn phỏng theo hệ thống của Vương Luân. Tác giả thống kê được 742 vị thuốc –
nhưng chỉ đề cập với ít nhiều chi-tiết – đến 447 vị. Xuất xứ của dược liệu – được minh xác cần thận. Chẳng hạn vị Bạch truật (Actractylis ovata Thunb.) được phân chia thành Tích mộc là thử Bạch truật sản-xuất ở Tích-giang và Hấp mộc có nguồn gốc ở An-huy; vị Khung cùng (Conioselinum univillalum Turcz.) có đến ba thử: Kinh khung mọc ở Quảng-Đông, Phủ khung là thồ- sản của trấn Phúc-châu tỉnh Phúc-kiến và Đài khung thu-hải tận Đài-trung. Trần-gia-Mô cũng tế phân nhiều dược- liệu dựa vào phẩm chất. Hoàng cầm (Scutellaria baicalensis Georg.) chẳng hạn bao gồm Túc cầm và Tử càn, loại thứ nhất có hạt rời, loại thứ hai có hạt dinh. Phòng phong (Siler divaricatum Benth) chiếm hai tiết mục: một dành cho rễ lớn, một dành cho rễ nhỏ. Ngoài ra, một ưu điểm khác của bộ sách là minh-định cách bào chế của rất nhiều vị thuộc. Chính Trần gia Mô đã phát- biều một câu bất hủ, đến nay vẫn còn là kim chỉ nam cho nghệ thuật dao cầu thuyền tăn: « Bao-chế cốt ở chỗ vửa chừng, non quả thì khó kiến-hiệu, già quả thì mắt khi vị ».
Bệnh tật thường đi đôi với cơ-hân,
nhất là đối với một dân tộc mà nạn
nhân mẫn hầu như là một mối đe dọa
thường xuyên như Hản tộc, huống hồ
khi dân tộc ấy vừa qua một cuộc chiến- đấu giành độc lập. Cho nên một giác độ khác của công trình nghiên cứu được học triều Minh là đi tìm các cổ cây có thề thay thế cho thực phẩm, hoặc nếu không được vậy đi nữa, thì cũng phải gắng phát giác những biện- pháp giúp canh-tân nghề trồng tỉa, cải thiện mức sản-xuất. Trong phạm-vi nầy, sự đóng góp của bộ môn bản- thảo học thực là to lớn và nhất là thiết dụng, thực tiễn.
Dược Dụng Bản Thảo là thư liệu đầu tiên đảng được đan cử trong đội ngũ các dược điền đề cập đến những phầm vật tư dưỡng. Tác giả là Ngô- Thụy và sách chào đời năm 1329. Ngô- Thụy chia thực phẩm thành chín loài: lúa, hạt, rau, trái, chim, thủ, cả, côn. trùng và gia vị. Mục tiêu của họ Ngô là tìm xem trong số những thức ăn được, có những thức gì có thể dùng đề bảo vệ sức khỏe và / hoặc chữa trị bệnh tật.
Sau Ngô Thụy, vào thế kỷ thứ mười sáu, Lư Hòa vẫn áp dụng cùng một phương thức xếp-loại dược-vật như Ngô-thị, trong cuốn Thực Vật Bản Thảo. Tuy nhiên họ Lư xếp gạo và hạt vào cùng một loài, và, đề cho vẫn đủ cửu loại, đã thêm nước vào bảng tồng- kê. Nếu so sánh về số lượng vị thuốc, thì công trình của Lư Hòa góp nhặt được nh ều hơn, đến gấp đôi số lượng vị thuốc trong Dược Dụng Bản Thảo, nhưng cuốn sau này lại có nhiều phương thang điều trị bệnh tật hơn.
Đối với Lư-Hòa, có một đặc-điềm
đáng được nhấn manh: họ Lư đã
lưu-tâm bình-phầm từng loại thực-
phầm một. Chẳng hạn gạo, nếp và các thử hạt : họ Lư nhận định rằng loại hạt màu vàng có nhiều giá trị dinh- dưỡng hơn và vì thế, giới canh-tác cần được khuyến khích gia-tăng mức sản-xuất. Trong chương dành cho các loại rau cải (thải bộ), họ Lư minh- giải chi tiết về tác dụng nhuận-trường của một số rau và nhấn mạnh đến tầm quan-trọng của hoa quả trong phạm- vi bảo vệ sức khoẻ cho đại chúng. Những luận cử ấy của họ Lư, mãi đến nay, vẫn còn ảnh hưởng vào chế độ ầm thực của người Trung Hoa. Lư-Hòa rất đề cao rau dưa thanh đạm, và chủ xưởng rằng không nên ăn thịt cá nhiều, vì đấy là những thức ăn nông Và về khía cạnh này thì Lư thị theo đúng học thuyết của Chu-chấn-Hanh ở thế kỷ thứ mười bốn, vốn vẫn chủ trương lấy thảo mộc chay tịnh làm căn bản cho chế độ ẩm thực, họa hoằn lắm mới dùng đến thịt cá. Vả chăng, các lương y đời Minh phần lớn cũng chia xẻ quan điểm này.
Dưới triều Minh Vũ-tông (1506- 1521), Uông Dĩnh tu chỉnh chút đỉnh công trình của Lư Hòa và cho tải-bản nhưng với tên mình là tác giả. Mà những điềm bồ-sung tu-chỉnh do họ Uông thực hiện cũng chẳng có gì đáng kề, bắt quả chỉ bỏ bớt chừng mươi dược-phầm thuộc loại thủy và thêm vào vài vị thuộc hai loại thái và thú.
Về sau, cũng cũng sách ấy lại mang tên là Thực Vật Bản Thảo, với tác giả là Lý Đông Viên ! Rồi đến bộ Thực Vật Bản Thảo Ước Ngôn, gắn cho Tiết-Kỳ cũng vẫn là tác phẩm của Lư Hòa nối !
Thành ra và tóm lại, bốn cuốn sách
về dược liệu học chào đời vào thế kỷ thứ mười sáu, với những tên tác giả Lư-Hòa, Uông Dình, Lý Đông Viên và Tiết Kỳ đều chỉ là bộ Thực Vật Bản Thảo của Lư Hòa xào xáo lại !
Cuốn Thực Giám Bản Thảo, do Ninh-Nguyên biên tập cũng là một tác- phầm đồng loại quan-trọng, lấy khảo. sát đồ ăn thức uống làm đối tượng. Ấn bản 1592 hiện nay vẫn còn. Sách xếp
Một trang trong tác ph
loại được vật khác với các công trình đời trước, và lề lối phân chia chủ yếu dựa vào công dụng thường nhật của các thức ăn, được liệt kê rất đầy đủ và chi tiết. Hành văn ngắn, gọn, súc tích. Bố cục sách khả phân minh, khoa học, từng chương, từng tiết rõ ràng. Trong mục lộc (hươu) chẳng hạn, ta có những tiều mục cao (mở), huyết (máu), thận (trải cật), nhung (sửng non) và giác (gạc). Phương thức phân chia ấy sẽ ảnh hưởng khá nhiều vào đường lối sắp xếp dược liệu trong Bản Thảo Cương Mục của Lý-thời-Trân sau này.
Bên cạnh những được thư chuyên nghiên cứu thực phẩm, còn có nhiều tài liệu khác nhắm mục đích tìm kiếm, phát giác những nguồn lợi thực liệu mới cho đại chúng. Năm 1406, Chu- hiến Vương tức Chu Túc viết Cứu
phầm của Uông Dĩnh
Hoang Bản Thảo. Theo phần đề tựa, ta biết rằng tác giả và thân hữu đã tự mình trồng lấy các loại cây cần khảo cứu trong những mảnh vườn của mình, rồi nhờ các họa sĩ vẽ lại hoa, lả, quả, rễ, thân và võ của từng cây đã này mầm và phát triển. Kèm theo mỗi loại cây đều có phần chủ giải, ghi rõ danh tỉnh, nguồn gốc, đặc tích và phương pháp nấu nướng. Công trình của Chu Túc quy tụ được 414 cây khả dụng trong các trường hợp đói kém. Trong số 411 cây ấy thì 138 cây đã từng được đề cập đến trong thư tịch dược liệu học cũ, còn 276 cây là mới thêm vào. Đây thực là một đồng góp quan trọng cho khoa thực vật học Đông-phương.
Cuối cùng, một thể loại tư liệu về dược liệu học sáng tác dưới đời Minh đả ng được nói đến nữa là những bộ dược liệu học viết theo thề văn vần. Nếu xét về khía cạnh hợp lực đào sâu được học thì những sách thuốc loại này công trạng không có là bao, nhưng phần bồ ích của chúng là ở điềm chúng tiếp trợ quảng bá rộng rãi các trí thức về thuốc men trong đại chúng, và nhìn dưới góc độ này thì tầm vóc ảnh hưởng của các bộ dược thư ấy rất sâu rộng. Sách rõ ràng và hữu dụng nhất trong tập thể các bản thảo đồng loại, vì vậy được phồ cập nhất là bộ Chú Giải Dược Tính Phú, thường được gắn cho Lý Cảo, nhưng theo nhận định của giới nghiên cứu thì tác giả có nhiều phần chắc là Lưu-toàn-Bj. Một cuốn khác, cũng viết theo the thơ, nhưng tương đối ít được biết đến hơn, là bộ Trân Chu Nang Dược Tính Phú của Hùng-tông Lập.
27.08.73
Kỳ tới : Bản Thảo Cương Mục.
Từ ngày cuốn Chứng Loại Bản Thảo của Đường thận-Vi ăn hành, vào năm thứ hai đời vua Huy-Tổng nhà Bắc Tống (108) cho đến giữa triều đai nhà Minh, nghĩa là trong thời gian bốn thế kỷ, y giỏi Trung-Hoa liên tiếp phát kiến nhiều dược liệu mới, đồng thời, cũng có dịp kiềm-nghiệm công năng điều trị cùng quy định lề lối sử-dụng các vị thuốc ấy qua thời gian và không gian, trong khi các học thuyết y-khoa cũng song song tiến lên qua năm tháng Do nhu cầu học hỏi thúc bách của các lương-y đương thời, một cuốn sách về dược liệu-học, đi kịp trào lưu tiến- bộ của nghiệp y, trở nên một đôi hỏi cấp-thiết.
Năm 1505, tức là năm thứ mười bày niên hiệu Hoàng-trị, đời Minh Hiếu-tông theo niên-lịch Trung-Quốc, triều đình đứng ra khuyến khích việc biên tập một bộ bản thảo mới, và nhóm Lưu-văn-Thái được ủy thác công tác nầy. Sau một thời gian thai-nghen, cuốn Bản Thảo Phẩm Vựng Tinh Yếu ra đời, nhưng không được ẩn-hành ngay. Vả lại trong sách cũng chỉ có bốn mươi sáu vị thuốc mới đến tăng- cưởng cho lực lượng dược liệu kinh- điền.
Phải đợi đến Lý-thời-Trân, hảo- quang mới chói lòa trên lĩnh-địa dược liệu-học.
Lý-thời-Trân tự Đông Bích, chèo đời năm 1513 trong miền ngoại ô phía đồng Kỷ-châu, một quận huyện thuộc tỉnh Hồ Bắc, vào năm thứ mươi ba niên hiệu Chính-Đức dười đời vua Minh Vũ-tông (1506-1521).
Kỷ-châu nằm trên hữu ngạn sông Dương tử và ở về phía đông tỉnh Hồ bắc, Thị xã là Vũ Hân. Hiện nay, dân số Hồ Bắc vào khoảng ba mươi triệu người (1). Ở trên đường giao lưu Bắc. Kinh-Quảng-Châu, Hồ bắc, đũng như tên gọi, là một miền có nhiều hồ, sản- xuất những giống cả được toàn quốc Trung-Hoa ải mộ. Đất đai phì nhiêu (2), non sông cầm tủ, với một quả khír giàu huyền-thoại, đây là quê hương của nhiều thế hệ lương-y.
Họ Lý cũng là thầy thuốc cha truyền con nối. Nội tổ là một đoàn- viên thuộc Hiệp hội các Linh-y (3), một đoàn-thề quy tụ những môn đệ Hiên Kỷ hành nghề theo một lề lối khả độc-đảo : họ là những thầy thuốc rong, đi từ vùng này qua vùng khác, nhất là dọc hai bở sông, tự tìm đến với bệnh nhân, và « rao hàng » bằng cách sử- dụng một cái chuông nhỏ.
Thân – phụ, Lý – ngôn Văn, hiệu Nguyệt Trì, làm chức Thái-y, cũng được y-giời biết đến qua những tác phầm như Nhân sâm luận, Ngài diệp luận, Tứ chẩn pháp minh, Đậu chẩn thông trị V.V…
Con út của một gia đình chỉ có ba anh em, Lý-thời-Trân thuở thiếu thời là một đứa trẻ khó nuôi.
Lên mười tuổi, Lý-thời-Trân bắt đầu phát giác tự nhiên giới quanh mình và khởi sự lưu tâm học hỏi ngoai-cảnh. Học một mình, bằng quan- chiêm, bằng suy-tr. Lý say-mê tim hiều thế giời thực vật và đông vật vùng quê cha đất tổ. Cậu bé miệt mài theo những đân thỏ, bầy cả, đám tôm tép, lũ vịt rừng. Lý hải hoa sen, nhặt rau từ cổ, sưu tập những giống thủy thảo hoang dã. Người thiếu niên học hỏi các ngư phủ, chuyện trò với các thờ dân, trao-đồi tri thức cũng những nông-phu về đức tính của vị Phục linh của chim Ngư cầu.
Lý-lão dĩ nhiên biết rõ những ưu- tư, những vương vấn của con mình. Bởi chinh Cụ cũng đang bị dẫn-vặt, khắc khoải về những vấn đề nhân thế. Hơn ai hết, Cụ rõ rằng người thày thuốc, nếu muốn lưu một cái gì lại hậu thế, thì chỉ có cách trước thư lập ngôn. Hơn ai hết, Cụ rõ rằng nghệ- thuật thì trưởng cửu và mênh mông,
nhưng đời người chỉ có hạn. Cụ dạy cho cậu con cưng rằng hành xử 5-nghiệp giữa lòng đâm quần chúng nghèo-khồ là phải sẵn sàng gánh lấy nhiều hệ lụy nhục nhẫn, chứ đứng trông mong gì những vinh-hoa, ân điền. Cụ từng nhắn- nhủ đảm con cháu rằng nếu muốn theo chân mấy gã công khanh thì chở đèo bông nghề thuốc. Rằng những nhất cuốc vun trồng vườn hạnh chỉ có thể do những kẻ ở ngoài vòng cương-tỏa chân cao thấp…
Cho nên ta không ngạc nhiên khi thấy mười bảy tuổi Lý-thời-Trần thi trượt cử nhân. Nam hai mươi ba tuời, hoạn lộ lại đóng chặt của không tiếp nhận người thư sinh họ Lý. Những truân chuyên ấy, kêm theo với chứng lao phồi mà người thanh-niên mắc phải và được thân phụ dốc lòng chữa trị, thúc đẩy Lý-thời-Trân vào con đường mà định mệnh đã vạch sẵn: đầu quân dưới trưởng Hiên Kỳ.
Tam thập nhi lập, ba mươi tuổi đời trên vai là lúc Lý-thời-Trân chính- thức hành nghề y-sĩ. Dùng thuốc, kê thuốc, bốc thuốc, tiên sinh thấy ngay rằng có nhiều lầm lẫn trong các bản- thảo đời trước. Người xưa đã không phân biệt được Tiền hồ với Phụ-tử, cam với bưởi, thiếc với chỉ.
Tiếp tục khám bệnh bốc thuốc trong mười năm, Lý-thời-Trân, căng đi sâu vào nghề, càng thấy phải làm một cải gì cho y dược học. Và họ Lý quyết chí trước tác. Từ đây, trong ba mươi năm trường đằng đẵng (1552- 1582), nghĩa là trong gần một phần nữa cuộc đời tiên sinh sống được
75 năm -, người lương-y vùi đầu soạn sách. Trước tiên là những năm thẳng dài tìm đọc tư-liệu.
Vương-thế-Trinh, khi đề tựa Bản Thảo Cương Mục, kề rằng Lý-thời- Trân đọc đủ loại cồ kim thư tịch, từ những tài liệu kinh điền như Tam Phần, Ngũ Điển, cho đến những chuyện cổ tích, những thuyết hoang đường Bắt cứ dữ kiện gì có ít nhiều liên hệ đến công trình đang theo đuổi đều được tác giả ghi nhận. Vương thị thêm: «Tác giả (tức Lý-thời-Trân) đã mất ba mươi năm đề cưu mang tác phẩm, và trong kho-tăng sách vở tham khảo, đã sử-dụng đến tác phẩm của hơn tám trăm cây bút..
Chính Lý-thời-Trân cũng tồng-kë, trong phần khai tử, 41 bộ sách về dược-liệu-học, 277 cuốn sách về y học chủ yếu là về xử phương, và 440 pho sách loại kinh truyện, tất cả đã được tiên-sinh tham-cứu. Tồng số sách quy. chiếu đề soạn Bản Thảo Cương Mục là 758 cuốn.
Tài liệu căn bản được Lý-thời- Trân dựa vào đề soạn lắc-phầm của mình là bộ Chính Hòa Kính Sử Chứng Loại Bản Thảo. Cuốn này kê cứu tất-cả 1.764 vị thuốc, nhưng có nhiều vị được đề cập đến những hai lần. Tiếp thu những tri thức của người xưa nhưng không bao giờ quên phê phản, kế thửa kinh-nghiệm của tiền nhân trong tinh- thần chỉnh lý nghiêm túc, Lý-thời-Trân đã đối chiếu các sách thuốc như Y- Học Cương-Mục và Thực Giám Bản Thảo, đã loại bỏ những sai lầm bắt
nguồn từ sự kiện xếp loại nhiều được-
liệu khác nhau vào cùng một danh- xưng cộng-đồng hoặc ngược lại, liệt kê nhiều tên gọi khác nhau dành cho một vị thuốc duy nhất. Trong số 1,392 vị dược-phầm được kề đến trong Băn Thảo Cương Mục, 1.479 vị được rút ra từ bộ Chính Hòa Kinh Sử Chứng Loại Bản Thảo và 39 vị khác có nguồn gốc trong các bộ bản thảo những đời Tần, Nguyễn và Minh. Chính bản thân Lý- thời-Trân đã thêm vào được 374 vị thuốc mới.
Sau đây là bản lược-kê những dược liệu trong BTCM:
- Dược liệu thuộc động vật 144 vi (côn trùng, cả, sò, ốc, chim, thủ và người)
Thực vật
1.094vi
(thảo : 60 vị; hạt, rau, trải, cây : 484 vị)
Kim loại và khoáng chất 275 vị
- Vật dụng thưởng ngày
79 vị
(gồm những vị bào chế từ các đồ gia dụng và các khí-vật)
Tồng-cộng
1.892vi
Trước 1ỷ-trời-Trân, tác giả Chứng Loại Bản Thảo đã phân chia dược liệu thành mười hai loại ngọc và đả, cổ, cây, người, thú, chim, trùng, cả, trải, gạo và hạt, rau và cuối cũng là các dược phẩm tuy có được biết đến nhưng không dùng. Lý-thời-Trần không tản-thành lề lối phân loại ấy, và minh. xác nơi phần đề tựa: «Trong các bản thảo cũ, ngọc, đả, nước và đất đều xếp lẫn-lôn nhau. Trùng, ngư và loài nhuyễn-thề cũng không được tế phân minh-bạch.». Trung thành với học thuyết ngũ hành, tiên-sinh theo đúng
tinh thần bộ Hoàng Cục Kinh Thế Thư
đề thêm vào ba loài thủy, hỏa và thờ. Loại ngọc và đã được sắp xếp thành kim loại và khoáng chất; hai loài trùng và ngư được phân làm ba : sâu, cá và sò ốc. Tác giả cũng thêm vào một loài mới mệnh danh là những «thứ nhật dụng, và gạt bỏ hẳn loại «dược phẩm được biết nhưng không dùng. Tóm lại, kho tàng dược liệu Đông-V được Lý-thời-Trân phân-chia thành 16 bộ.
Bản Thảo Cương Mục thống kê 610 thứ thảo và 180 thứ mộc dùng trong dược-khoa. Hai tiêu chuẩn đề phân- chia thảo bộ là nguồn gốc và công- năng. Có mười loại thảo: sơn thảo, hương thảo, đã thảo, độc thảo, man thảo, hoang thảo, thảo mọc trong khe đã, rong rêu, thảo linh-tỉnh và các loại thảo tuy biết nhưng không dùng. Bộ mộc có sảu loại: cây có hương thơm, cây lớn, cây bụi, cây leo, cây phát- triền do cây con và cây linh-tinh. Những được loại khác cũng được phân chia tương tự và tổng số có tất cả sảu mươi loài.
Trong những bản thảo đời trước, sự lầm lẫn giữa các dược liệu là chuyện khá phổ thông, nhất là trong thế giới thực vật. Nhiều khi cũng vẫn một cây nhưng lại có hai tên, và vì vậy, được mô tả như hai thử. Cuốn Khai Bảo Bản Thảo chẳng hạn phân biệt Thiên-nam-tinh và Hổ chưởng, trong khi đây thực ra chỉ là một cây duy-nhất, mà tên khoa học hiện đại là Arisaema japonicum Blume. Ngược lại,
lẫm khi hai cây hoàn toàn dị biệt lại
được kề là một. Chẳng hạn Uông-Cơ
cho rằng Mạn kinh và Tùng thái chỉ là hai tên của cùng một cây, trong khi sự thực thì Mạn kinh là Vitex trifolia L. và Tùng thái chỉ là một loại cải.
Khi Tô-Tụng viết cuốn Đò Kinh Bản Thảo thì họ Tô đã nhở các thân- hữu ở bốn phương gửi về cho mình hình ảnh các tiêu bản thực vật nhưng chính bản thân Tô-Tụng thì không hề thấy các loài cây cỏ liên hệ trong thiên nhiên. Lý-thời-Trân không chấp nhận lè-lối sưu tập ấy. Tiên-sinh du-khảo rất nhiều và đã chứng tỏ tài năng quan-sát sự vật của tả lịch sử, địa lý, mình. Họ Lý mô- phương pháp thu hải, chế biến, tháng mùa gặt hải, cùng các dữ kiện bình thề học của mầm, lá, hoa, đài, quả, rễ, kèm theo mùi vị,vv. Đoạn vẫn trích dịch sau đây khả dĩ cho chúng ta một ý niệm về phương- thức làm việc của nhà đại y-tôn: «Tôi thưởng quan sát nhều loại cây và so sánh chúng với nhau. Thân cây Trư cao thảo màu trắng, với những chấm và sọc thẳng. Là dài hơn là Thương nhĩ một chút và mỏng hơn là Địa từng một chút. Lá mọc đối. Thân và đốt có lông tơ che phủ. Mọc nơi đất tốt, mỗi thân cây có thề có hằng chục cảnh. Hoa nở về thăng tâm, thắng chín, nhỏ, màu vàng sẫm. Hạt giống hạt Hao-tử. Cảnh hoa mang những gai li-ti**
Tầm mức đóng góp của Lý-thời- Trân vào y dược khoa, qua bộ Bản Thảo Cương Mục, không thể nào được trình bầy đầy đủ trong một bài lược khảo như bài này. Dưới đây, chúng ta
chỉ ghi nhậu một vài đường nét nồi
bật nhất.
Trước hết, Lý-tiên-Sinh đã góp nhặt và tóm lược tất cả tri thức cũng kinh nghiệm lâm sảng cũng như dược- học của nòi giống Hân từ thế kỷ thứ mười sáu trở về trước. Y-tôn đã khảo. sắt nghiêm túc vật liệu sách của mình, đã mô tả kiến trúc bộ chi tiết lịch- sử và tính năng, tác dụng của từng dược liệu. Tất cả các vị thuốc người
Chân dung Lý-thời-Trân (1518-1593)
đương thời biết đến đều được liệt kê. Bên cạnh là một số thang phương khồng-lồ, kèm theo chi-định minh- bạch, rút ra từ 277 tài liệu xử phương- học, và quy tụ một đội ngũ không dưới một vạn vị thuốc (1).
Trong số 1.892 dược liệu được khảo sát, tác giả BTCM đã tự thêm vào 371 vị, không hề có trong các bản-
thảo cô. Tám mươi sảu vị trong số
này có gốc nguồn từ những hang
thuốc bí truyền hoặc dân gian. Địa-bân
thu thập những phương thang ấy là
các tỉnh vùng đồng-nam Trung-Hoa và
ven bở Nam-Hải. Có hai yếu tố giúp
vào sự thành công của Lý-thời-Trần :
một là vì các tri thức về thực-vật-chỉ
và động vật chỉ thuộc những quốc gia
viễn phương đã gia tăng rất nhiều tử
đôi Nam Tống, hai là vì quê quân Lý-
tiên sinh ở ngay trung-tâm Trung Quốc
nên rất thuận lợi cho công tác du-khảo
cả-nhân (2). Trong số những được
liệu đã được Lý-thời-Trân phát-kiến.
ta có thể kề Tam thất (Gynura pinna-
tifida DC), Man đà la (Datura alba
Nees.), Phan Mộc miết (Semen Strychni),
Nha phiến (Opium), Long não (Camph-
or), Đại phong tử (Hydnocarpus anthe-
Imintica Pierre), Thiều tửu, Bồ đào tửu.
Những vị thuốc này đến nay vẫn đắc
dụng. Tác giả cũng liệt kê các loại hạt
và rau đã được du nhập Trung Hoa sau thế kỷ thứ mười như ngô, cà rốt, khoai tây, bi v.v…
Ưu điểm thứ hai của Lý-thời-Trân
là có tinh thần khoa học rất cao. Tiên sinh cực lực phi-bác những chủ- trương của các đạo sĩ đời trước và đương thời, cho rằng sự sử dụng một vài loại dược liệu có thể khiến con người trường sinh bất tử. Niềm tin tưởng ấy sâu rộng đến nỗi ảnh hưởng cả lên các nhà được học. Bộ Bản Thảo Mông Thuyên của Trần-gia-Mô chẳng hạn, cũng có nhiều đoạn tán dương những tinh chất huyền diệu, kỳ bí của một số dược phẩm. Vì dụ Lý-thời- Trân đã có nhận xét rất xác-đáng khi bản về công năng của vị Thủy-ngân: «(…) Nhưng theo cuốn Nhật Hoa Chư Gia Bản Thảo của Đại Minh thì thuy-ngân không độc (…). Chân-Quyền trong bộ Dược Tính Bản Thảo cho rằng đây là vị thuốc căn bản của bài thuốc trưởng xuân. Cát Hồng trong cuốn Bảo Phác Tử tân dương là thuốc có thể kéo dài tuổi thọ. Từ đời Lục Triều đến nay, biết bao nhiêu người vì tin tưởng vào thủy ngân đã lâm trọng bệnh hoặc bị tử vong? Nếu chỉ có hạng đạo sĩ nghĩ tưởng như vậy thì cũng chẳng nói làm gì, nhưng làm sao một cuốn sách về dược học lại có thể ghi nhận những điều vô nghĩa như thế?» Ngoài thủy ngân, Lý thời Trân côn bảo động vẻ độc tính của Hoàng liên (Coplis Teela Wall.), Nguyên hoa (Daph- ne Genkwa Sieb. et Zuc.), Trạch-tả (Alisma plantago L.) là những được
liệu vẫn được tiếng là có công năng
cải lão hoàn đồng. Tiên sinh cũng lưu
ý rằng Thạch tín là một dược chất rất độc, và giới lương y đời Tổng đã làm lẫn khi xem nhẹ tinh chất nguy-hienı của thuốc. Đề chứng minh, tác giả BTCM đã bảo cảo nhiều ca ngộ độc vì Thạch tín.
Tinh-thần khoa học của Lý-thời- Trần cũng đã khiến tiên-sinh tấn công kịch liệt những luận cứ viễn vông, mơ-hồ, phản tiến bộ của những thế-kỷ trước, nhất là thuyết ngẫu-sinh, cho rằng các loài vật vốn tự nhiên mà sinh- sỏi này nở trên mặt địa cầu. Đây thực ra là một điều nguy-tin không những chỉ riêng của Đông Phương, mà Tây- Phương cũng đã từng tin theo như vậy, trước Pasteur. Lý-thị vạch rõ rằng không phải các loài thủy tảo đã sinh ra cả, cũng như vị Tỏa dương (Cynomori- um coccineum L.) không hề mọc lên từ tinh-dịch của loài ngựa!! Trái lại, tiên-sinh giảng-giải rằng chính trúng cả bám vào thủy tảo nở ra cả, còn Tỏa dương cũng chỉ là một loài cây, như trăm nghìn thử cây khác.
Tác giả cũng đã kích óc mê tín của các đồng nghiệp, thường cho rằng ký- sinh-trùng đường ruột có thể giúp vào sự tiêu hóa thức ăn, và vì vậy, chỉ nên dùng thuốc trục sản lãi một cách dè dặt. Khi mô tả vị Sử quân tử (Quis- qualis indica L.), một dược liệu hiện được cả Đông lẫn Tây-y dùng trong điều trị các bệnh kỷ-sinh-trůng ruột, Lý thời Trân đã gọi sự tin tưởng ấy là lập trường ngu xuân của những y sĩ dốt nát. Dựa vào kinh nghiệm hành nghề hằng ngày, họ Lý biết rằng những
trẻ em thích ăn hoa đên (Đăng hoa) là
những ấu nhi bị sản lãi,Ưu điểm thứ ba của Lý-thời-Trân là dây công minh-định tác dụng của từng vị thuốc. Trong các bản thảo cũ, tuy tồng-số vị thuốc được mô tả dễ có đến hai nghìn, nhưng thường thì các tác giả trình bày tác dụng dược liệu một cách mơ hồ, đến nỗi đọc những sách ấy, người ta có cảm tưởng như một vị thuốc dùng chữa bệnh gì cũng được, và ngược lại, một bệnh nào đấy dùng bất cứ vị thuốc nào cũng có thể là hay ! Lý thời Trầu không chia xẽ những lập luận hồn mang ấy, và chính trong chiều hướng này, sự đóng góp của tiên sinh thực là vô cùng to lớn. Không những tác giả giải tỏa được nhiều thắc mắc cho giới dùng thuốc, mà còn có những phát minh hữu giả. – Lý thời Trân đã chứng minh rằng – Huyền hồ sách (Corydalis ambigua Cham. et Schlecht.) trấn thống, – Thường sơn (Dichroa febrifuga Lour.) trị ngược, Khiên ngưu tử (Ipomaea hederacea Jacq) thông lợi, Hoàng cầm (Scutellaria baicalensis Georg.) giải 5 nhiệt, Íchmẫu thảo ( Leonurus sibiricus L.) điều kinh, Tam thất (Gynura pinna tifida DC) chỉ huyết, Hương như (Elshotia cristata Wild.) lợi tiều và Nhân sâm (Panax ginseng C.A. Meyer) kich thich.
ב
–
Giả trị khảo cứu của Eản Thảo Cương Mục đắng được xem như là ưu- điểm thứ tư của dược-thư. Cho đến
k
C
(
1
ngày nay, sách vẫn còn là một kho tăng võ giả cho giới nghiên cứu dược- T học. Chỉ cần kề đến số lượng không- lồ hơn một nghìn loại thảo mộc được thống kê là ta đủ thấy tầm mức vĩ đại của tư liệu. Và chính khoa học hiện đại đã chứng minh công năng điều trị của một số không nhỏ vị thuốc trong Bản Thảo Cương Mục. Chúng tôi chỉ kề làm ví dụ trường hợp vị Đại-phong tử-du, đã tỏ ra hữu hiệu trong điều-trị bệnh hỗi; vị Đương-qui (Ligusticum acutilobum S. et Z.) là một vị thuốc chữa thống kinh rất quí; vị Ma hoàng (Ephedra sinica Stapf.) mà ai cũng biết là trị suyễn rất hay, vị Lôi hoàn (Omphalia lapidescens Schroed.) và vị Binh lang (Areca calechu L.) trục sán lãi; vị Đỗ trọng (Eucommia ulmoides Oliv.) hạ huyết áp, vị Đại hoàng (Rhe- um officinale Baill.) nhuận trường; vị Hoàng-liên (Coptis Teela Wall.) có tác dụng trụ-sinh v.v. Tất cả những điều vừa trình bày làm chứng dẫn là những thành quả mà giới nghiên cứu khoa- học Tây phương đã đạt được qua nghiên cứu kho-tăng dược liệu Đông- phương, nhất là qua học hỏi Bản Thảo Cương Mục.
Và điều này giải thích uy-tin to lớn của Bản Thảo Cương Mục trong y- giới quốc tế cũng như Phương Đông.
Kể từ khi ấn hành năm 1590, sách đã được tái bản nhiều lần. Bản đầu tiên thường gọi là ấn bản Nam kinh hay Kim linh (1) chào đời năm thứ mười tâm niên hiệu Vạn-lịch (1590). Lần tải- bần thứ nhất cho ấn bản Giang tây (1603). Lần tái bản thứ hai là ấn-bản
Hà-bắc (1606). Lần tải bản thứ ba
1
S
(
(không đề năm ấn-hành. Dưới đời Thanh, ấn bản thông dụng thường gọi là Đại hoà đường bên chào đời năm 1655. Ngoài ra, Bản Thảo Cương Mục cũng là một thành phần chủ yếu của bộ bách khoa vĩ đại đời Thanh, án- hành năm thứ 49 niên hiệu Cân long (1748), bộ Tứ khố toàn thư. Những lần tái bản khác vào những năm
Bản tóm tắt của Materia Medica
Bản Thảo Cương Mục:
Ấn bản Giang-Tây (1603)
1940, 1657, 1784, 1872, 1892 và 1894. Ấn-bản tu-chỉnh năm 1714 gồm tất cả sáu mươi mốt chương. Các án-bản hiện đại là hai ấn bản Hương cảng (Thương vụ ấn-quản, 1961) và Bắc-kinh (Nhân Dân Vệ Sinh Xuất Bản Xã, 1962).
(1) Kim linh cũng là dia danh.
Nhật Bản là quốc gia đầu tiên tăn- tình khai thác kho tàng Bản Thảo Cương Mục. Sách mới lên ba thì người Nhật đã địch ra Hòa-Ngữ, dưới tên Honzo Ko-Komou (1593-1596). Lý-thời- Trân được con cháu Thái Dương Thần Nữ phiên âm là Ri Jitchin. Năm 1612, Hayasi Dosyun soạn một cuốn tóm lược Bản Thảo Cương Mục và gọi là Tasikihen rồi cho in năm 1672. Năm 1637, Bản Thảo Cương Mục được tải bản ở Nhật. Ngoài ra, còn nhiều, rất nhiều bản thảo Nhật bản khác phồng theo tác phẩm của Lý thời Trân. (1) Bản dịch ra Nhật ngữ gần chúng ta nhất, theo chỗ chẳng tôi biết, ra đời năm 1929.
Trong số những học giả ngoại quốc tham khảo hoặc dịch thuật Bản Thảo Cương Mục, chúng ta có thể kề:
- Michael Boym, người Balan, soan bộ Trung Quốc Thực vật chỉ bằng La ngữ (Flora sinensis) năm 1659:
- Du Halde, một linh mục Pháp. viết về Đế quốc Trung Hoa, năm 1735;
A.Tatarinov, một bác sĩ Nga xô, soạn bộ Trung Y Dược liệu học, năm 1857 ν.ν…
Năm 1928, một bản lược dịch ra Đức ngữ được ấn hành, dưới tên Dalitsches Plantzenbuch. It nhất thì cũng có đến mười vẫn bản dịch ra Anh ngữ, mà phò cập nhất là công trình của B.E. Read, või bay tập đầu tiên xuất bản từ năm 1928 đến năm 1941.
Người viết rất tiếc khuôn khổ bài lược khảo không cho phép nói thêm nữa về Bản Thảo Cương Mục và Lý thời Trần.
Kỳ tới : Thư tịch đời Minh về dược liệu học sau ВГСМ.
THƯ TỊCH ĐỜI MINH VỀ DƯỢC – LIỄU – HỌC SAU BẢN THẢO CƯƠNG MỤC
Bản Thảo Cương Mục ra đời đã thồi một luồng gió mới vào khung trời nghiên cứu dược học, đã là một liều thuốc kích thích mạnh mẽ giới trước tác y-thư. Cho nên nhiều bản- thảo đã lần lượt xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ mười bầy.
Đáng kề trước hết là Bản Thảo Nguyên Thủy của Lý-trung-Lập. ẵn hành năm thứ 39 niên hiệu Vạn- lịch (1612). Tác giả tự tay minh- họa các hình ảnh mô tả dược liệu, và kèm theo đô-hình là những chi tiết về khi vị, thời tiết thu hái và phần tử dược dụng: rễ, lá, hoa v.v… cùng với phương pháp bào chế rất chi tiết. Sách soạn theo một thề văn sáng-sủa, giản dị. Thuở bấy giờ, dược thư này đã trở thành sách gối đầu giường cho giới lương-y.
Mặt khác, dưới triều Minh, dược-khoa banh-trướng mạnh mẽ, phương pháp bào chế được liệu cải- tiến rất nhiều, nên cuốn Lôi-công Bào chế Luận khai sinh vào khoảng thế kỷ thứ năm, vốn vẫn được các thế hệ trước xem là tài liệu tham- khảo tiêu chuần, trở nên không mấy thích hợp nữa. Vì vậy, có nhiều sách đề cập đến bào chế thuốc men được soạn thảo vào lúc này. Trong số có hai bộ hữu giả nhất là Bào Chế Đại Toàn do Mậu-hy-Ung và Trang-ké-Quang hợp soạn, mô tả 439 vị thuốc và Thuyên Bỏ Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải của Lý-trung-Tử, trình bày cách bao-chế 333 dược- phầm.
một trang trong Bản Thảo Nguyên Thủy của Lý-trung-Lập
Đoàn-thề lương-y thời bấy giờ lại còn tỏ ra rất tích cực nghiên cứu các lý luận về sử dụng thuốc men, và đã trước tác nhiều sách trong phạm-vì này. Tuy nhiên, các sách ấy không mấy quan trọng. Có lẽ đáng đan cử nhất là Bản Thảo Cương Mục Vựng Ngôn của Nghê-chu- Mô. Đây thực ra là một công-trình tập thể, do một nhóm hơn ba mươi thầy thuốc đương thời hợp soạn. Nhóm đã dùng cuốn Bản Thảo Phát Huy của Từ ngạn-Thuần làm mẫu.
Vào ngày thắt nút, màu của hạt có vị đắng và lạnh. Ban ngày, lá đan xen những bông hoa lớn màu vàng trong không gian màu đốm. Một cây thần và một cây Weimalan thuộc nhóm quốc. cao hơn một mét.
Trong phạm vi vệ sinh ầm-thực, bộ Thực Vật Tập Yếu với tác giả Mục-thế-Tích là một văn bản mò- phỏng theo Thực Vật Bản Thảo của Lư-Hòa. Ngoài ra, còn hai bộ dược-thư dinh dưỡng được gắn cho Lý-thời-Trân vì nội dung chỉ hàm chứa các thực phầm đã liệt kê trong Bản Thảo Cương Mục: đấy là Thượng Y Bản Thảo và Thực Vật Bản Thảo Nhưng cuốn trước có lẽ do Triệu-Nam-Tính thai nghén, (1) tuy chủ-thề vẫn là các tư liệu lấy từ Bản Thảo Cương Mục. Cuối cùng là bộ Dã Thái Bác Lục do Bào-Sơn trước tác dựa vào Cứu Hoang Bản
màu xanh lớn
Blog Rau Rừng Sở Cỏ Xanh Lao Yi
Xin’an Baoshan được biên tập bởi Qi Qi
Hình-ảnh trong cuốn Dã Thái Bác Lục của Bào Sơn
Thảo của Chu-Tức, quy tụ được 435 loài rau cai, phần lớn là thồ sản của lãnh địa Hoàng Sơn. Mỗi thức ăn – đều có kèm hình ảnh rất đẹp, và còn có phần so sánh với các bức họa trong Círu Hoang Bản Thảo
Chịu ảnh hưởng Môn Phái của Chu Hy – nhất là tuân-hành học- thuyết cùng lý, tức là cố tìm biết cho hết cái lý lẽ của từng sự vật – giới nghiên cứu được khoa Minh triều đã tận lực phát huy công-tác bi-khảo thực vật và động vật Trung- quốc, qua một số tác phầm nghiên- cứu và tầm quan trọng rất đáng tấn- dương, không những về lượng mà nhất là về phầm, Hơn nữa, nếu chúng ta xét các bản thảo đời Minh dưới những khía cạnh thực tiễn như phục- vụ quần chúng chống lại bệnh tật, tiếp tay phát-kiến các thực liệu hữu- ích trong lúc nhân-dân lâm cảnh cơ- hàn, thì ta thấy rõ sự đóng góp của giới nghiên cứu được học đã theo đúng con đường nghệ thuật vị nhân- sinh, con đường mà Chu-đôn-Di không ngớt đề cao qua luận thuyết «văn dĩ tải đạo».
Sống lại với tiền nhân qua kho tàng được thư được điền, ta phải nhận rằng người xưa thực đã quan- niệm rất đứng đần về khoa-học, về văn-học, về triết học.
(1) Lý Đạo. – Minh-thị bản thảo đích nghiên cứu. Trung-Hoa Y học Tạp chí. Số 74, trang 177-191, thảng ba- tháng tư 1965. Bắc-kinh.
Lý-thời-Trân chẳng hạn đã dậy cho chúng ta một phương pháp tư duy và hành động vừa nghiêm túc vừa thực tiễn: đấy là biết nhìn, biết hiều và biết ghi. Bản Thảo Cương Mục là một vĩ-nghiệp nhưng lại rất chủ tâm đến chi tiết, bởi theo cái mình-trí của kẻ sĩ Đông phương, con người chỉ là một mảnh vụn tri thức giữa sự sống và cái chết ở đây,
Khoa học đã đồng hóa với Tri thức. Trọn đời đào sâu bí quyết dùng thuốc bốc thuốc, Lý-thời-Trân đã đạt đến mức hiện thân được Đông-được- học, giống như Claude Bernard đã từng hiện thân được khoa sinh-lý- học Tây phương. Và dưới giác-độ này thì Đông-Bích tiên sinh không còn là một lương-y, một được sư, một nhà biên khảo trước tác nữa, mà đã trở thành «Homine clef, biều-trưng cho Tri-thức y-khoa phương Đông đúng vào lúc Tri thức ấy sắp sửa bị khoa học Tây-phương xâm lăng và tràn ngập. Chúng tôi nói Tri thức, vì Lý tiên sinh đã nghiên cứu mỗi yếu- tố trị liệu dưới mọi khía cạnh. Tiên sinh đã giao-thiệp tiếp xúc với khắp tăng- lớp sĩ phu đương thời văn-sĩ, dược-sĩ, y-sĩ, chuyên viên dinh- dưỡng, khoa học gia, sinh-học-gia. Công trình của tiên sinh hữu ích cho giới khảo sát ngôn ngữ học, và giới nghiên cứu lịch sử các kỹ thuật vì Bản Thảo Cương Mục mình-định chị-
C
tiết nguồn gốc và ý nghĩa danh-xung của từng dược liệu. Nhưng sự- nghiệp của người danh sĩ Hồ Bắc còn đi xa hơn tác-phầm dược liệu học độc đáo ấy mở cho chúng ta những chân trời mới trong chiều hướng áp dụng được học và thực vật học vào kỹ nghệ và công nghệ, đứa con tinh thần ấy cũng cung cấp cho chúng ta những dữ kiện vô giá về lịch sử tổng quát và lịch sử mậu dịch.
Đối với giới trước tác bản thảo- Minh triều nói riêng. Đông phương nói chung, triết học bao giờ cũng được quan niệm như làm nền móng cho nghĩa-vụ-luận, cho thuật xử thế. Kẻ nghiên cứu được phầm luôn luôn là luật sư biện hộ tận tình cho triết- lý Chu, Trình. Cho nên tiến-trình của bộ môn Materia Medica cũng là tiến trình của tư tưởng, văn hóa; trong khi cũng khoa bản thảo-học ấy đã góp công không nhỏ vào sự phát- huy kỹ năng siêu việt sử dụng giấy in, ảnh in, bản koắc và dao trồ.
Thành ra nếu nói rằng lịch sử y-học Trung-hoa có thể được biều- tượng qua sự nghiên cứu các bản- thảo (1), điều ấy thiết nghĩ cũng chẳng hề là lộng ngôn.
06-08-73