CÂU CHUYỆN ĐÔNG Y – Dịch giả Siêu Thiền

CÂU CHUYỆN ĐÔNG Y

Dịch giả : NGUYỄN-KHÁC-MINH

Nhuận sắc : SIÊU-THIỀN

Trong kỳ Đại hội Y học Quốc tế 20-24 tháng 6 D.L. tại Lausanne (La Phar- macopée dans la Médecine Traditionnelle Chinoise) do nhóm Bác sĩ Nguyễn-văn- Nghị đề nghị.

LỜI GIỚI THIỆU

Cả gia đình tôi đều mù tịt từ thủa bé, chỉ riêng có tôi lỏa nhá nhem ; tir đó họ đều suy tôn tôi làm chỉ đạo. Thể là ảnh sảng mặt trời đã hoàn toàn nằm tròn trong lăng kính lòa nhâ nhem, muốn xác định lại, chỉ có một cách duy nhất là phải có người chữa giúp bệnh mù lòa.

Vấn đề Đông y đối với ngày nay biết đâu không tương tự vẫn đề ảnh sảng mặt trời…?!

Buồi nói chuyện về Đông y của Dược sư Nguyễn-bả-Tước dưới đây, biết đâu không là một kỳ vọng chữa bịnh mắt ? ! Vì thế nên chúng tôi mạo muội dịch ra Việt vẫn cho Phương Đồng, hầu độc giả chiêm nghiệm thử.

S.T.

Chúng tôi rất tiếc là không có được một đại diện chân chánh của Trung-y cồ truyền hay Việt-y (vì hai cải ấy là một) đề trình bày với quí vị ngày hôm nay, vì như vậy, vị ấy sẽ nói lên một cách vững chắc, hoạt bắt và linh động hơn.

Nhưng hiện tại rất khó tìm gặp người đó, dù là ở Trung-Hoa hay Việt-Nam, huống chi trong một xứ Tây Phương, vì người chân truyền đó càng ngày càng hiếm hoi, và có thề mai một hẳn khỏi trái đất chúng ta, vì họ không được hiều, không được che chở đúng mức tồn tại. Điềm nầy giống hệt những sinh vật hay cây cối hiếm có thuở xưa, mà nay đã mai một, vì bị bóp nghẹt một cách vô tình hay hữu ý, bởi nền văn mình kỹ thuật và vô nhân đạo của chúng ta.

Nhưng dù nếu ta có tìm được “con chim xanh hiếm có ấy, thì tôi cũng e rằng chúng ta khó hiều thấu được những lời giảng giải, những dữ kiện, những lý luận của nó; và ta sẽ thấy chúng rời rạc, cồ lỗ, không khoa học.

Vì chắc chắn là họ không có những ý tưởng giống chúng ta, không được đào luyện theo luận lý cồ điền của chúng ta… Chỉ vì khoa học của họ đã có từ triệu năm qua; trong khi đó Descartes luận mà chúng ta hiện theo – cha đẻ của lỗi lý mới chỉ có vào khoảng 400 năm.

Vậy chúng ta chỉ còn 2 đường lối đề theo :

  • Hoặc không chấp nhận lý luận của họ, như những người trước chúng ta đã lam, với lý do là nền y khoa của họ không khoa học, cỗ lỗ bán khai… Và chúng ta ngừng tại đây. Như vậy kho tàng ngàn triệu năm kia sẽ luôn luôn khép kín lại đối với chúng ta.
  • Hoặc ta cố gắng chấp nhận, trong khi ta cũng cố gắng quên đi lối lý luận sẵn có, nền văn hóa, và khoa học sẵn có cùng quan điềm riêng của chúng ta; đề theo dõi lý luận của họ đến tận cùng, không thành kiến, không chủ tâm, sẵn sang thâu nhận cái gì mới. Tôi xin cam đoan với quí vị là làm điều này rất khó, nhưng nhờ nó – và chỉ nhờ nó mà thôi – mà một chân trời mới sẽ mở cửa đón chúng ta vậy.

Tạm quên nền văn hóa, sự lý luận quen thuộc vốn có của chúng ta, không có nghĩa là chúng ta đi giật lùi, trở về tình trạng bán khai, trở nên dị đoan, hay thiếu sự trưởng thành trong tâm trí. Nhưng sự thực là ngược lại, chính là chứng tỏ một tâm hồn cởi mở, uyền chuyền, rất cần thiết theo một tinh thần khoa học. Vì tinh thần khoa học là gì ? Nếu không phải là một tâm hồn mở rộng, không thành kiến, định kiến.

Vì vậy nếu chúng ta sẵn lòng quên mọi thành kiến, đặt chúng ta trong một tình trạng dễ thâu nhận, chúng ta sẽ có nhiều may mắn đề theo dỗi lý luận của người Đông y kia. Và chúng ta sẽ thấy họ cũng có một luận lý chắc chắn sẽ khác hẳn với lý luận của chúng ta – nhưng – không phải vì thế mà kém giá trị; vì rằng những luận lý đó là căn bản của bộ sách vĩ đại về Đông y. Đó là bộ NỘI KINH mà chắc chắn đều biết, vì từ đó người ta lấy ra những nguyên tắc chỉ đạo về châm cứu cũng như về Đông-y-dược. Nhưng mà thật là khó có thề tìm thấy một người đại diện cho nền y khoa cò truyền như trên, nên tôi mạo muội thay thế họ, đề trình bày với quí vị hôm nay về dược khoa của Trung Quốc, vấn đề ít được biết tới ở Tây phương, dù rằng nó chiếm một địa vị khá quan trọng trong Trung y, quan trọng như châm cứu mà quí vị đều biết.

Tôi sẽ cố gắng hết sức đề trình bày – dù biết rằng tôi không có một giá trị, một thầm quyền về vấn đề nầy – và tôi tin ở sự thông cảm của quí vị. Điều mà tôi lo sợ là không đủ khôn ngoan và tư cách đề đại diện Trung-y cồ truyền ở đây và nơi chuyện cũng quí vị, mà không phản bội chân giá trị của nó, như nó đã có trong quá khứ và sẽ có trong tương lai.

Vì muốn nói đến dược chất thì phải nói đến y sĩ cũng như những nguyên tắc căn bản những dược chất nầy sẽ không có giá trị gì hết nếu không được dùng đúng lúc, đúng bệnh, đúng loại.

Thật vậy khi người ta nói tới Trung y được là nói tới những phương thuốc cổ truyền dùng đề chữa trị bệnh nhân, vẫn đề này không có tính cách mới mẻ, vì Tây phương đã biết chúng từ lâu những tên như là Éphédra, Réglisse, Armoise, Cannelle, Aconit, Rhubarbe, Datura, Grenadier, Quinquina v.v… đều khá quen thuộc. Bất cứ một sinh viên được khoa dù Đông hay Tây – đều có thề lưu loát kề lại bài đã học cho quý vị. Tỷ mỷ như cây Ephedre thuộc gia đình Gnétacées, trong cây có ahứa những tính chất như Ephedrine, Nor-ephedrine, Pseudo – éphédine, Methyl-éphédrine v v… Và Éphédrine có dược tính kích thích đại giao cảm, chữa bịnh suyễn, lam co mạch, nở được con người như chuyên khoa tai mũi họng vẫn dùng.

Tóm lại Tây phương biết rõ rằng cây Ephédra về mọi phương diện, thực vật học, hóa học, sinh lý học, động dược học; Tây phương cũng còn có thể chế ra những chất tương tự như đã chứa trong cây.

Thế mà tuy vậy, những nguyên chất lấy được từ cây ra hay bào chế ra đều được dùng càng ngày càng ít đi. Những chất như éphédrine, aconitine atropine, quinine, pelétiérine được liệt vào hạng thứ yếu nếu không muồn nói là đã bị loại.

“Chúng không còn thích hợp nữa” «Chúng bị đào thải người ta nói như vậy. Và cũng như vậy mà những cây cỏ trong Trung y được đều lui vào dĩ vãng.

Trong khi đó tại Việt Nam cũng như Trung Hoa, y học cổ truyền vẫn tiếp tục chữa trị bằng Ma Hoàng. Cam Thảo.. như tiền nhân của họ đã làm từ 4000 năm nay. Họ dùng những chất này đúng trường hợp, đúng lúc với một sự hiệu nghiệm và hiệu quả chắc chắn.

Đó là những bước tiến hay bước lùi ? Chúng ta cần tìm hiều cho đúng. Nhưng người ta cũng có thề nghĩ rằng khoa học của một bên vẫn hãy còn chập chững của sự khởi đầu. Trong khi đó văn minh của bên kia đã tới tuyệt đỉnh của nó, nên nó luôn luôn vững vàng không cần đồi thay chỉ hết. Đây là một quan niệm mà thôi, nhưng nó cần được nghiên cứu kỹ càng.

Chúng ta hãy trở lại ngành dược. Chúng ta đã biết phần lớn những dược thảo của Trung Quốc đã được nghiên cứu phân tích, và từ đó người ta lấy ra được vài tinh chất Nhưng có một vài dược thảo khác «chống trả lại sự phân tích trên tỉ như trường hợp nhân sâm.

Tất cả chúng ta đều biết nhân sâm là gì. Chất này có rất nhiều uy tín, và nhiều danh tiếng trong dược lâm của Trung Quốc. Với rất nhiều đức tính. Tây phương hăm hở nghiên cứu nó ngay từ đầu, phân tách nó bằng đủ mọi cách – đến bây giờ vẫn còn làm với hy vọng tìm ra được những tính chất thần thoại mà người ta gắn cho nó. Nhưng người ta chỉ thấy những thất vọng, vì chỉ tìm thấy những chất ngọt, chất chua, chất đường v.v… Không thấy một tính chất nào hết. Chỉ thấy những chất tầm thường. Và Tây phương không hiều tại sao người Trung Hoa đề cao quá xá cây nhân sâm nầy.

« Chắc là họ tưởng tượng ra vì trong cuốn sách về dược của Tây α phương có biên : « loại rễ cây này của Trung Hoa được gắn cho nhiều đức tính quan trọng.. nhưng bằng chứng cụ thề chưa tìm thấy người ta thường kết luận hay chỉ công nhận những tinh chất thuộc loại alcaloides hay glucosides với tác động mạnh trên cơ thể, như những chất độc chẳng hạn. Nếu không tìm ra những chất trên thì loại cây đó được coi như vô dụng.

Ta hãy tự hỏi phương pháp nghiên cứu trên đây có đúng không ? Phải chăng chỉ có chất độc mới tác dụng mạnh? Phải chăng những chất mà ta cho tầm thường không có giá trị chữa chạy ? Trong cây cỏ những chất tầm thường, cũng như những tinh chất hòa hợp với nhau trong một thể quân bình. Nếu chúng ta chỉ chú ý tới những chất nầy chất nọ, phải chăng chúng ta thay đồi những giá trị của cây cỏ nầy ?

Tôi xin kề thí dụ sau đây về vỏ rễ lựu đề chứng minh điều nói

trên : vỏ rễ lựu được dùng từ lau ở Trung-Hoa đề trị sán lãi. Người ta

nghiên cứu vỏ nầy và tìm ra một tinh chất là pelletiérine. Nhưng chất

nầy khó xử dụng được vì rất đọc với cơ thể con người, trong khi cả vỏ

rễ lựu thì lại dùng được. Tại sao vậy ? người ta đanh phải công nhận

rằng trong vỏ rễ lựu chit pelletiérine không ở trong tình trạng tinh-chất,

ma hợp với một chất « tầm thường », đó là tanin Vì vậy người ta đình

phải thêm chất tanin vao chất pelletierine đề được chất tanate. Chất nầy

ít độc hơn nhiều đề dùng cho bịnh-nhơn từ đó.

Tóm lại, vì chỉ chú trọng vào phân tách mà những dược chất của

Trung-y đều bị loại bỏ Và người ta càng nghiên cứu dược chất của Trung

y bằng sự phân tách thì người ta càng không thấy gì hết.

Liệu ta có thề cho rằng dược khoa của Trung Quốc là vô-giá-trị

hay không? Hay ta phải nghĩ rằng những phương thuốc Đông-được

không hợp với Tây phương. Tỉ như sau vài lần châm cứu đề gây tê

không được có vài người đã kết luận rằng châm cứu khó có thể áp dụng

được tại Tây phương.

Hay ta cần tự hỏi: phân tách như trên không phải là đường lối nghiên cứu thiết thực? Có thề rằng tinh thần phin-tách, được coi là căn bản và hãnh diện của khoa học gia, không hợp với Đông dược.

Nhưng liệu nó có phù hợp cả với Tây được không ? Và hiện giờ người ta còn dùng nhiều cây cỏ Tay-phương nữa không? – không còn nhiều nữa, nếu ta mở cuốn sách về Tây được thì chỉ thấy chúng chiếm tỉ lệ có 7%. Chỗ còn lại là những chất Bao chế trong phòng thí nghiệm.

Hiền-nhiên là ta thấy Tây được cũng như Đông dược không còn chỗ đứng trong các phương tiện trị liệu tân tiến.

Lỗi – nếu thiệt có lỗi – không phải được chất, ở Trung được hay Tây dược, mà là ở người ta, ở sự quan niệm của con người về phương thuốc.

Đối với con người hiện tại, thuốc cần phải làm dịu nhanh, chữa khỏi nhanh, vì rằng con người hiện đại luôn luôn vôi vàng, không có th giờ đề suy nghĩ về bịnh tật của mình; và nhất là không có thì giờ thay- đồi sự sinh hoạt mà chính nó có thề gây ra bịnh. Muốn khỏi nhanh, người ta phải những chất bào chế, vì những chất nầy có tác dụng mạnh hơn thực vật nhiều. Vì vậy họ bỏ rơi những được phầm thiên nhiên. Mà dược- phầm của Trung Quốc phần lớn là từ nhiên nhiên.

Tôi vừa trình bày với quí vị rằng ở Tây phương, những được chất đều phải qua nhiều phòng thí nghiệm phân tách. Y sĩ Trung Hoa cồ truyền trái lại, không cần phòng thí nghiệm đề phân tách trước khi dùng thuốc của họ, vì chính họ là phòng phân tách rồi. Từ chỗ nhận ra thuốc, tới chỗ biên toa thuốc, sau khi khám bịnh nhân, tất cả đều tự họ làm ra. Vì vậy chúng ta có thề nghĩ ra rằng, người y sĩ nầy phải có một khả năng quan sát, và một mẫn cảm lạ lùng mới có thề chu toàn công việc. Vị Đông y thầy học của tôi có một mẫn cảm lạ lùng vì đã có thề phân biệt Vitamine Bi thiên nhiên với Vitamine Bi của nhà bào chế bằng cách chỉ nếm chúng mà thôi. Công việc nầy dù có máy tối tên tới đầu cũng không làm nồi. Hơn nữa đối với nhà hóa học thì điều nầy khó có thề được, vì 2 chất đều cùng chung một công thức, vậy không thề có tánh chất khác nhau.

Nếu ta đưa cho vị Đông y này một cây hoàn toàn mới thì ông ta cũng có thề cho ta biết sau khi quan sát cây này bằng ngũ quan – tác dụng của cây trên cơ thề con người như tim, gan…, và tác dụng nầy giống như một dược chất mà ta biết…

Nhờ những sự chỉ dẫn của ông mà tôi đã có thề lấy được một chất thuốc trợ tim từ loại cây chưa được biết tới thuộc họ Zingibéracées (cây gừng).

Phải chăng những vị Đông y đó có một khả năng thần thánh? hay là phải chăng họ chỉ tự luyện khả năng quan sát và sự mẫn cảm trên, đề có thề nhận ra những dấu hiệu dù nhỏ bé tới đâu; nhỏ bé giống như những hạt mưa đang rơi trên mặt bịnh nhơn, trên cọng rác ngoài cánh đồng, hay trên con ve sầu trong vườn..

Những triệu chứng đó, có tính cách quan trọng riêng cho nó, mà cũng có tính cách liên lạc với nhau một cách chặt chẽ. Không một dấu hiệu nào trong thiên nhiên lại xầy ra một cách riêng biệt hay tình cờ.

Vì vậy với những người họ biết quan sát những dấu hiệu của thiên nhiên, họ nhận ra một sự liên hợp chặt chẽ – ví dụ như – giữa mùa Xuân, và màu xanh, là vì màu của những búp cây, lá non, vì vào mùa này những cây đều thay đồi. Màu xanh còn là màu của sự trẻ trung. Trẻ trung là sanh trưởng, sự sanh trưởng này được thề hiện bằng nhựa cây dâng lên sự tỉnh thức của sức sống và tình thương giữa các sinh vật (sự động tình của những con vật). Chúng làm mọc ra những lá non như những hình nón nhọn, chỉa lên trời. Cái hình nón nhọn nầy thấy lại trong con người dưới hình mạch căng (Huyền), giống như sức làm nhựa đi lên đang muốn nâng lên làn da chỗ đó… loại mạch Huyền còn thấy trong những bịnh về Gan. Vậy Xuân Huyền: Gan. Ngoài ra về mùa Xuân thường xầy ra mẫu ứng (allergie) như sồ mũi, là nguyên nhân thuộc Gan.

Ta có thề càng ngày càng lý luận xa hơn đề tìm sự liên quan giữa các dấu hiệu. Vì vậy khi một người giận dữ, bắt mạch của họ ta sẽ thấy mạch Huyền, chứng tỏ sự căng thẳng » xảy ra vào lúc đó. Vậy Giận dữ: Gan Huyền: Thần kinh căng thẳng. Lúc đó ta cũng thấy những bắp thịt có liên lạc với Gan. Vay sự cử đông của bắp thịt có liên lạc với Gan. Vây từ nay trở đi, nếu quý vị thấy những triệu chứng kinh giật trên bịnh nhơn của quý vị thì xin nghĩ tới Gan. Những sự cử động bắp thịt nầy thường thấy khi ta ăn những trái cây chua. Vậy vị chua Gan…

Tóm lại ta thấy những liên lạc sau: mùa xuân: xanh nụ: lá non: tuổi trẻ: sanh trưởng: huyền: gan: giận dữ: bắp thịt giật: vị chua v.v… thần kinh: kinh

Quý vị có thề bàng hoàng khi thấy tất cả những dấu hiệu trên, thiệt là rời rạc. nay được hợp lại với nhau. Ngạc nhiên vì chúng ta xưa nay vẫn quen chia cắt, phân tách, bồ xẻ, vv… Chúng ta phân tách đời sống đến nỗi chúng ta không thề nhìn thấy đời sống một cách toàn diện, hay nhìn mọi sự với tính cách tồng thề của nó… Chúng ta chỉ có thề nhìn từng mảnh nhỏ, cái trước cái sau, nhưng không có thề nhìn tất cả. Chúng ta cũng không có thề nhìn thấy sự liên hợp giữa các mảnh nhỏ khác biệt trên. Chúng ta bị tràn ngập bởi những chi tiết, bởi những sự việc nhỏ nhặt rời rạc. Vì vậy cái chính, cái quan trọng thoát khỏi tầm tay chúng ta.

Đối với người Đông y sĩ, sự liên hợp giữa các sự vật khác nhau là một thực thề. Họ cảm thấy thiệt tình, và bọ nhìn thấy thiệt tình. Đó không phải, như ta nghĩ, là những trò chơi của trí óc, hay những quan niệm tượng trưng, do sự tưởng tượng mà ra. Khi quí vị, cảm thấy mạch Huyền – như trong thí dụ tôi vừa trình bày nó ứng với sự căng thẳng của đời sống, quí vị không cần phải coi búp non đề nhận ra mùa Xuân, quí vị cảm thấy tại chính con người của quí vị, dưới làn da; và lúc đó, quí vị không thể chối cãi sự liên hợp giữa Xuân: Trưởng: Búp non: Mạch Huyền: v.v.. vì chúng có thiệt.

Vấn đề là phải làm sao nhìn thấy, quán xuyến cả vũ trụ nhìn cái thật nhỏ nũng như cái thật lớn, nhìn toàn thề, nhìn và suy gẫm đề hiều biết…

Đông y cổ truyền đã khám phá ra rằng cái gì ở trong vũ trụ nầy đều thấy ở con người. Hay ở cây cối trong vườn, hay ở bất cứ sinh vật nào trong trái đất. Khoa học Tây phương cũng đã khám phá ra sự trùng hợp của thái dương hệ với nguyên tử; nhưng vì chúng ta không quen nhìn mọi vật một cách toàn thề, nên chúng ta không nghĩ tới sự giống nhau của vũ trụ và con người, hay con người có một phần của vũ trụ; chúng ta cũng không nghĩ tới sự liên hợp giữa các tế bào với tạng phủ hay con người toàn thề…

Người Đông-y-sĩ khám phá ra rằng toàn thề vũ trụ, với muôn vàn hiện tượng. đều chỉ là phản ảnh của một nguyên lý duy nhất: đó là Năng Lực, với hai thề hiện của nó là Âm và Dương.

Họ cũng biết rằng vật chất dù muôn hình vạn trạng tôi đâu cũng đều thuộc về Ngũ Hành, mà chúng luôn luôn sinh hay khắc đề tạo ra đời sống…

Tóm lại nhờ sự quan sát và suy gẫm mà Đông phương khám phả những định luật của đời sống. cho thiên văn địa lý và y học. Đó là :

Sự giống nhau giữa Đại vũ trụ và Tiều vũ trụ – Nguyên lý Âm Dương – luật Ngũ Hành, mà quí vị đều đã biết, và tôi không có đủ thì giờ trình bày chi tiết ở đây.

Một điều tôi muốn nhấn mạnh là tính cách tự nhiên, vô tư của những định luật trên. Chúng không phải là sự ngụy tạo của tiền nhân, hay một quan điềm thần thoại. Chúng không phải là những định lý mà ta phải công nhận hay phủ nhân. Chúng chỉ là sự thực, chúng có thực, dù ta muốn hay không, dù ta chấp nhận hay không. Đối với một người mủ, chắc chắn họ sẽ không nhìn thấy mặt trời, nhưng không phải đó là lý do đề họ bảo mặt trời có hay không có và mặt trời vẫn ở ngoài không gian, chiếu sáng chan hòa…

(còn tiếp)

Sau khi đã trình bày những nguyên tắc căn bản của Trungy, tôi nghĩ là chúng ta bây giờ có thề hiều được các dược tính theo quan niệm của người Trung-Hoa, và xét những tiêu chuần mà người Đông-y-sĩ cò-truyền thường dùng đề chữa bịnh.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng định nghĩa về bịnh-tât theo Truug-y: đó

là sự mất quân bình giữa Âm và Dương ở một vài địa điềm của cơ thể. Trị bịnh tức là lập lại thế quân bình này.

Ta hãy lấy một thí dụ sau đây: giả thử có sự mất quân bình về năng- lực ở Gan, hiện ra bằng các triệu chứng rỗ hay không rõ. Đối với các triệu- chứng rõ ràng thì không thành vấn đề. Nhưng ta phải làm sao với những triệu chứng ần, không hiện ra ?.

Người y-sĩ Tây-phương có cả một hệ thống vĩ đại những máy móc đề phân tách, kiềm-soát, nghiên cứu, cả về phương diện quang-tuyến X bay giải phẫu v.v… Nhưng họ phải được hướng dẫn bởi «sự cảm thấy cần-thiết đề làm thí nghiệm này hay thí nghiệm khác. Nếu không có sự suy xét trên thì phải thử hết tất cả mọi loại và bắt bịnh nhân phải chịu đựng từ A tới Z. Nhưng những thí nghiệm rất là tốn tiền, và bịnh nhơn sau khi được nghien- cứu có thề bị nặng hơn, vì quí vị đã biết những thí nghiệm trên không phải là không có cái bất lợi. Hơn nữa những thí nghiệm phải được thực hành một cách đúng phép; nếu máy hư, nếu nhơn-viên lơ-đềnh là chúng ta có những kết quả sai-lâm. Vì vậy muốn cho chắc chắn chúng ta cần máy nọ đề kiềm-soát máy kia, nhơn-viên này đề trắc nghiệm nhơn-viên nọ, và người ta

không biết cách nào đề chấm dứt nữa… Người Đông-y-sĩ cồ-truyền không có những vẫn đề trên, và cũng không có một dụng cụ, một phòng thí nghiệm nào để tìm những triệu chứng ần.

Tuy vậy họ NHÌN thấy hết. Vấn đề là tìm kiếm, như tôi đã trình bày với quí vị ban nảy. Tất cả những triệu chứng ần đối với chúng ta đều hiện đối với họ. Tất cả khoa học của họ là ở chỗ khám nghiệm bịnh-nhơn, đó là phương pháp chần-mạch.

Phải coi họ hành động đề hiều, đề nhìn thấy tình trạng tập trung tình- thần của họ lên tới cao độ. Người ta sẽ hiều tại sao, chỉ nhờ mấy đâu ngón tay mà họ có thề ghi nhận được sự rối loạn dù nhỏ nhặt đến đâu trong cơ thề bịnh-nhơn; và đó là điều khó có thề hiều được với những tâm hồn môi-mẻ. Nhưng nếu quí vị đã chấp nhận nguyên lý đồng nhất giữa Đại-vũ trụ và Tiều-vũ trụ, quí vị sẽ sẵn sàng chấp nhận điều trên nữa, vì chần-mạch cũng theo một nguyên lý; vì bình-ảnh, vì điềm nào của cơ thề cũng là hình ảnh của tất cả con người. Vậy cái gì xảy ra trong con người đều hiện lên ở mạch.

Trở lại thí dụ của chúng ta ban nãy – ở một sự mất quân bình của Gan – chúng ta phải thấy một sự khác biệt ở Tả quan, hoặc Hư hoặc Thiệt hay Huyền.

Nhưng triệu chứng rõ rệt có thề đánh lừa chúng ta, vì chúng có thề hiện lên một cách rời rạc. Nhưng với sự chần-mạch, chúng ta không thề lầm: hoặc là có sự quân bình, hoặc là có sự mất quân bình về năng lực. Đôi khi cũng không cần biết là bịnh tên gì. Vì vậy mà tôi đã có dịp coi vị Đông- y-sĩ của tôi chữa khỏi những bịnh mà ông ta không hề biết tên cũng như chưa hề gặp Sự bất thường hiện ra ở mạch là đủ và rõ rồi: đó là dấu hiệu của sự mất quân bình, mà ta cần điều chỉnh lại.

Điều chỉnh bằng cách nào ?

Chỉ việc tái lập sự bình thường ở mạch-Thiệt là đơn giản. Nơi nào Thiệt, ta hạ xuống bằng cách cho thuốc có tính cách giảm mạch ở nơi đó.- Nơi nào Hư, ta dùng vị thuốc khác 1m tăng lên. Như vậy người ta « sửa sai » những sai lầm của mạch.

Chúng ta đều rõ là có một sự liên lạc mật thiết giữa người và vũ trụ, Vậy chỉ cần, trong trường-hợp trên, tìm trong thiên nhiên một chất hoặc đông vật, hoặc thực vật hay khoảng-chất- có thề chống lại sự mất quân-bình trên- Khi có thừa Dương ta cho chất Âm; khi có thừa êm ta cho chất Dương.

Tìm trong thiên nhiên những chất Dương hay Âm thì rất dễ, vì nếu nói theo toán học thì một nửa của vũ trụ là Âm, nửa kia Dương Chỉ cần phân loại chúng mà thôi Nhưng ta cũng cần dùng những chất cùng một độ với bịnh tật. Ở đây la Gan, vậy Mọc là đầu dọc.

Xem H. I

Đối với Mộc ta có 2 cách Bồ và Tả. Bồ là Thủy sanh Mộc, Tả là Kim

khắc Mộc.

7 hí dụ nếu tới muốn có những dược chất thuộc loại Mộc, tôi dùng những nét đặc-biệt của loại trên như: xanh: chất phải có màu xanh.

chua: chất phải có vị chua.

  • búp-non: chất phải nhọn như búp, như gai, lông, sừng v.v…

sanh-trưởng: chất như mầm, hạt giống, có khả năng sinh sôi.

  • thần kinh: chất có gần.
  • bắp thịt: chất có thịt, sụn.
  • V.V..

Nhờ hướng về các chất có đặc tính trên mà tôi có nhiều may-mắn tìm ra vị thuốc giúp mạch trở lại bình thường

Theo như tôi biết, thì khoa học hiện nay, chưa nghiên cứu tới khía- cạnh nầy. Nó rất đáng được làm trong tương lai.

Quý vị đã biết được chất ảnh hưởng tới mạch theo hai nguyên-lý: Âm – Dương và Ngũ Hành. Có rất nhiều chất phù hợp với hai nguyên-lý trên nên Dược-Lâm của Trung Quốc thật là vĩ đại. nếu không muốn nói là bất tận. Vì tất cả đều là Thuốc, ngay cả đến thức ăn cũng là dược-khoa. Ngay cả những dược chất của Tây phương cũng thuộc nó, với dấu hiệu là tương xứng với các luật trên – Vì vậy Penicilline hay Streptomycine cũng có thề được dùng một cách chính xác, ít nguy-hiễm, nếu ta biết chất này là Dương và chỉ hợp với bịnh Âm, chất kia là Âm nên chỉ hợp với bịnh Dương.

Muốn điều chỉnh mạch, người ta ít khi dùng một chất duy nhất; vì mạch thường bị mất quân bình ở nhiều nơi. Toa thuốc vì vậy gồm nhiều vị:

Chất này là vị chính chất kia là vị phụ. Vị phụ có mục đích điều hòa vị chính hay dẫn vị chính tôi chỗ đề hiệu nghiệm Toa thuốc thường được biên như vậy. Sự chần mạch thường dẫn tới 1 toa thuốc cồ-điền (định sẵn bởi tiền nhân): nhưng một y sĩ giỏi có thề thêm hay bớt một vài vị nếu thấy mạch hơi khác đi.

Tóm lại không có được chất bào chế sẵn. Mỗi một bịnh nhân là một trường-hợp đặc biệ, không có một vị thuốc điền hình cho mọi bịnh, lý-do đơn giản là ít khi thấy hai bộ mạch giống nhau trên hai bịnh-nhân Quí vị đã biết nghệ thuật của người Đông-y-sĩ là mang lại thể quân-

bình ở mạch. Hai y-sĩ có thề đạt được cùng một kết quả sau khi dùng hai

phương thuốc khác nhau. Điều đó có nghĩa rằng không phải chỉ có một vị

thuốc cho một loại mạch mà thôi

Vì vậy sự hiều-biết hoàn toàn về mạch-lý cũng như về dược-thảo phải đi song song với nhau, nếu muốn đạt được một kết quả nào trong công việc điều trị.

Sau khi định toa thuốc, công việc của người y-sĩ vẫn còn chưa xong. Còn cần phải theo dõi biến-chuyền của bịnh tật, chần-mạch lại của những ngày sau. Theo đó mà những vị thuốc có thề được thêm hay bớt hay thay đồi hoàn toàn. Toa thuốc vì vậy thay đồi tùy theo mạch, cho tới khi lấy lại thế quân bình hoàn toàn. Vì vậy không có sự quen thuốc, không có phản ứng tai hại… Liệu có một phương thức nào kỳ diệu hơn không !

Bây giờ tôi xin trình bày với quí vị một thí dụ cụ thề về mạch của bịnh-nhơn và cách chữa trị. Thí dụ có một bịnh-nhơn mà chần-mạch thấy như sau:

Xem H. 2

Đồng thời có những triệu chứng như :

Đau: vì mạch Huyền ở Tả-quan. Đau ở phía dưới bên phải, vì mạch ở Hữu-xích Thiệt.

  • Mạch ở Hữu-xích trệ xuống dưới vì bị lơi, bị phình ra ở chỗ đó, giống như bị kéo ở phía dưới. Loại mạch nầy thường thấy ở bịnh trĩ, ruột sa, hư thai, sưng ruột dư.

Vậy trong trường hợp nầy mạch-lý ứng với trường hợp sưng ruột dư. Phương thức chữa- rị có thề như sau: thuốc thang gồm có :

Panax Ginseng Argelia Sinesis – Astragalus Hiroshimanus Atractylodes Macrocephala – Cimifuga Foetida – Bupleurum rotundifolium – Citrus Aurantium – Glycyrrhiza glabra – Zizyphus jujuba – – Zingiber officinalis.

Xem H. 3

Quý vị đã biết tác dụng của Nhân-sim Panax Gingseng – một loại cây kỳ diệu mà chúng ta vừa bàn – là bồ mạch bên trái khi mạch này bị hư. Loại

mạch này thường thấy ở những bệnh nhơn mệt mỏi về thề chất cũng như

tinh thần, thiếu máu cần một chất bồ dưỡng. Nhân Sâm đối với Trung-y là

một chất bồ-dưỡng tuyệt vời.

Bác-sĩ Champfraut đã biên trong cuốn sách về Trung-được như sau:

Đó là một chất bồ-dưỡng rất mạnh, dùng đề làm cho ăn biết ngon, trị lao,

thần kình bải hoải, yếu kém về sinh lý, xuất tinh, bịnh thận, thiếu máu, bịnh

tử cung…».

Bác sĩ Champfraut không có nói chỉ hết về mạch của Nhân Sâm, điều đó thật đáng tiếc. Theo thiền-ý, Nhân Sâm chỉ có hiệu quả khi ta thấy mạch bên trái hư. Trường hợp trải lại, nghĩa là khi mạch thiệt, dù rằng bệnh-nhơn có triệu chứng yếu mệt – thì Nhân sâm sẽ làm cho chầy máu óc ở người áp-huyết-cao hay ho ra máu ở người lao phồi.

Vì vậy các vị thuốc của Trung-y không được dùng một cách bừa bãi ! và phải dùng theo sự hiểu biết về mạch-lý. Tất cả những sách về Trung-y mà không có sự đi đôi giữa thuốc và mạch đều không đáng cho ta nghiên cứu.

Chúng ta đã lướt qua những nguyên tắc căn bản về phép trị liệu của Trung-y. Thời gian không cho phép chúng ta đi vào chi tiết. Vì phải cần cả một cuốn sách lớn đề làm như vậy ..

Tôi hy vọng rằng đã trình bày với quí vị những nét đại cương của Trung-Dược, nó gồm có những nguyên lý căn-bin đề chữa trị, đề lập lại thế quân bình. Dù chúng ở ngay trước mắt chúng ta, nhưng người ta phải tự biết mình cũng như biết rõ chúng, đề xử-dụng một cách chính xác. Nếu không chúng sẽ là chất độc và có thề giết người.

Vấn đề chính là sự hiều biết con người và vũ trụ xung quanh. Vấn- đề thiệt là xưa như thế giới này mà tối nay vẫn còn chưa giải quyết.

Chúng ta có thể chế ra những máy móc diệu kỳ, cũng như chúng ta có thề lên tới mặt trăng; nhưng chúng ta chưa thiệt hằn sung sướng, điều nầy chứng tỏ là chúng ta chưa có thề quân bình, chúng ta đều bịnh hoạn- «zói theo kiều định nghĩa của Trung-y về bịnh-tật».

Về khoa học tân tiến của chúng ta cũng không hướng về chỗ tìm hiều

con người. Trái lại nó càng ngày càng xa con người, bị tràn ngập bởi những chi tiết, những chuyên khoa, những tiến bộ kỹ thuật, cũng như những thuốc càng ngày càng gay cấn. Và họ quên mất sự việc chính-yếu. Điều chính yếu chính là Con Người. Con Người, chính là bịnh-nhân

chứ không phải bịnh tật. Con Người với toàn thề sự tổ hợp của nó chứ không phải từng trường hợp bịnh tật riêng rẽ, những trường-hợp ta tưởng khỏi bệnh, nhưng kỳ thực chỉ là giả tưởng, sự thay thế bịnh nầy bằng bịnh khác trong tương lai, hay đi từ thế mất quân bình nầy sang thế mất quân- bình khác ..

Trung-y trái lại, là một y khoa của thiên nhiên. Nó không đòi hỏi ở người y-sĩ một hiều biết rộng rãi về kỹ-thuật, nhưng nó đòi hỏi một hiều- biết căn bản về Con Người, Về Thiên Nhiên, về Đời Sống,

Mong thay Tây-y của chúng ta sẽ theo con đường đó, sẽ trở lại với các sản phần thiên nhiên, ít hại hơn, và nhất là trở lại với sự hiều biết về con người, đề tìm thấy sự vĩ đại cũng như sự khôn ngoan của nó.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading