YẾU LÃNH CỦA PHÁP TRỊ UNG THƯ
Dùng Mã Bửu để trị Ung Thư là căn cứ vào tác dụng đồng tánh độc tố kháng thể, là một pháp trị liệu
chống độc rất hòa bình. Nhưng pháp đơn thuần quyết khó thâu hồi nên phải cần phối hợp với đối
chứng dinh dưỡng, tạng khí, ngoại dụng, dược cứu, nội tiêu v.v… để đạt đến phân tiến, hợp kích, dẫn
dụ, nương theo đó để nhắm mục đích tiêu diệt đoàn tế bào ác hóa, đồng thời cần nhứt là phải lành
mạnh hóa tổ chức tế bào chánh quy, làm dẻo dai các tạng phủ cơ năng chánh thường. Nhân đây người
bệnh không luận là ăn uống, đi đứng, nghỉ ngơi, đều cần phải phối hợp với nguyên tắc tổng thể trị liệu,
(thậm chí đi đứng nằm ngồi, thí dụ như sau khi ăn rồi bụng hơi lưng, tĩnh tọa; hoặc dậy sớm đi một
đường quyền thái cực, hoặc luyện Bát Đoạn Cẩm, hoặc những môn thể thao nhẹ nhàng), đồng thời để ý
đến tắm nắng sớm, dạo chơi nơi không khí thanh khoáng có nhiều dưỡng khí, ít lo nghĩ v.v… Hợp sức
bao vây tấn công làm cho đám tế bào tách rời sự khống chế, thần kinh bị cô lập, từ từ teo nhỏ rồi tiêu
diệt. Nếu không thể phát huy tổng thể trị liệu và quán triệt phương pháp nuôi bệnh cùng kiêng cữ giữ
gìn, để đến phạm vào các điều cấm kỵ sau đây, tất sẽ gặp không hay về sau vậy:
- Hoặc uống thuốc vài ba ngày liền bỏ nghỉ, sức thuốc không thể nối tiếp.
- Thời gian uống thuốc không khéo để bị chứng ngoại cảm khác.
- Người bệnh trong lòng muốn gấp (Khối Ung Thư nếu khôngcómón thuốc ngăn chận thì sự tăng
trưởng thật là mau lẹ, có thể trong 24 tiếng đồng hồ lớn thêm ngó thấy). - Người bệnhăn lầm những thức ăn độc.
- Trong khi có bệnh mà xen lẫn những việc làm nặng nhọc, dâm loàn, lo lắng, bận bịu.
- Tuổi tác già quá, thể chất rất suy nhược.
Những điều kiện đã kể trên đều rất dễ luống công, mà quan hệ nhứt ở phương diện nuôi dưỡng giữ gìn
người bệnh lại không nên xem thường.
Tôi có chữa một người tuổi độ 56 bị bệnh Ung Thư Tử Cung, chất độc ràn rụa, ảnh hưởng đến sưng
Thận, đến nỗi xương sống lưng đau nhức, huyết băng không ngừng, đau đớn vô cùng, đã từng vào một
dưỡng đường lớn để trị liệu vẫn không kết quả. Sau đến tôi thực hành những pháp đối chứng, dinh
dưỡng, khoáng độc, ngoại dụng v.v… thì hết làm băng, đau nhức, tinh thần chuyển tốt, hạ huyết ứ khối
mấy ngày, bụng dưới chỗ bệnh Ung Thư được bớt quá nửa. Mỗi bữa ăn được nửa chén cơm, một chén
bánh canh bột sò, một chén nước súp thịt gà nấu gừng non, thỉnh thoảng lại còn ngồi dậy nữa; chỉ vì
thiếu người nuôi bệnh, ăn lầm trái chanh núm tươi của Ấn Độ, ngày đó không ăn uống được, lại phải
chỉnh đốn đến mấy hôm mới trở lại bình thường. Người bệnh nghe thấy bụng dưới chỗ đau bớt được
2/3, những điều đau đớn đã hết, ngày càng khởi sắc. Vì gấp muốn cho ăn uống mau lại sức để sớm
bình phục, nên nghe lời người đàn bà hàng xóm mua thêm hai gói thuốc trị bệnh Bao Tử của Nhật Bản
uống vào. Sau khi uống rồi đi tả dữ dội độ trên 140 lần, cơ hồ không còn có thể tóm thâu, kiệt sức, trái
Tim yếu đã nhiều, hiện trình chứng trạng nguy hiểm. Tôi kinh nghiệm điều này, mới cảm sâu việc nuôi
bệnh và trị bệnh có quan hệ ngang nhau. Thầy thuốc cần phải phân biện rõ ràng, vận dụng linh hoạt,
phối hợp thích đương, nuôi bệnh chu đáo, v.v… Ngoài ra còn cần phải có cả đức nhân từ của việc trị
bệnh, người bệnh khi đã vương phải bệnh này, phải cải thiện hoàn cảnh cùng quan niệm thì mới có kết
quả, không thế thì sẽ đưa vào con đường kết quả không tốt đẹp. Vấn đề này phải được thầy thuốc của
chúng ta gia bội chú ý.
PHỤ CHÚ
Sách này chuyên giúp cho Lương y Trung Quốc tự nghiên cứu tham khảo về phương tể và dược lượng,
có thể cân nhắc theo bệnh nhân nhẹ nặng mà cho, đối chứng mà tăng giảm, hoạt bát phối chế dụng
lượng của các vị thuốc có ghi rõ ở khoản dược vật. Khi nào quyển sách này tái bản, sẽ công bố những
nghiệm án trọng yếu của bệnh Ung Thư để giúp cho bạn đồng nhân tham khảo chỉnh chánh.
Lời bàn của dịch giả
Có thể là rất khen hoặc rất chê, mà cũng không biết chừnglà rất chưa biết làm! Biết đâu kẻ dịch này lại
không như thế. Tuy không phải Trung cũng không phải Tây nhưng vì đã từng chung đụng với cả Trung
lẫn Tây cho nên chỗ này mạo muội xin bàn ít điểm như sau:
Nhà chuyên may y phục có hai thứ kỹ thuật: một là kỹ thuật chết, hai là kỹ thuật sống. Bâu, tay, nách,
rộng, dài mỗi mỗi đều có công thức số nhất định, cứ theo đó cắt may trên một kiểu nào đó, để cung
phụng cho quân nhân và thị trường phổ thông, dẫu có chênh lệch chút ít thì cũng có thể xí xóa. Đó là kỹ
thuật chết mà hiện nay các nước gọi là cực kỳ văn minh đang trọng dụng. Mỗi người có một thân phận
đặc biệt không ăn khớp hẳn với công thức số. Nhà kỹ thuật cũng tùy người mà đo đắn nhận định từ
tướng đi, tướng đứng, vóc vạc, màu sắc, nước da, mỗi mỗi cực kỳ ăn khớp để nổi bật giá trị siêu nghề,
để cung phụng cho những vùng có tinh thần sống. Đó là kỹ thuật sống mà hiện nay các nước Á Đông rải
rác còn giữ dùng trên quân sự về thắng bại của vận động chiến. Người ta nói rằng tổ chức điều động
cho luôn luôn ăn khớp một cách khít khao trên chiến trường, đó cũng là một phương pháp sống để thủ
thắng, trên mặt trận Y đạo cũng vậy.
Nếu trên mỗi vị thuốc chỉ nhận định tác dụng băng băng phân chất mà bỏ qua vấn đề hình sắc, khí tánh,
âm dương, phản ứng mạch lý, triệu chứng đối đãi; trên việc khám bệnh bỏ qua vấn đề tâm lý, hàn
nhiệt, hư thiệt, trong ngoài, trên dưới, sắc mạch, âm dương, chế hóa; trên hợp phương không có mục
tiêu chánh và mục tiêu phụ thì có khác chi cách may y phục theo kiểu kỹ thuật chết, cách đánh giặc theo
kiểu chiến trường đóng cứng không hơn. Cho nên kẻ dịch này nói cách trình bày về mỗi vị thuốc trên
kia và công thức phối hợp kế đây là tác giả không đề phòng, vô tình xua cho những thầy thuốc sau này
càng dẫm thêm lên con đường của kỹ thuật chết, để rồi sẽ thua trận bởi đóng cứng mà thôi.
Dưới đây đơn sơ vài điều minh chứng:
Nguyên pénicilline là một thứ thuốc trụ sinh đương đầu với loại vi trùng dương (nghĩa là thuốc có tánh
âm, hạ sốt) và có nhiệt độ, sưng đỏ, mạch hai bộ Thốn hồng sát tức là đối chứng, đối mạch của nó.
Sterp-tomycine là một thứ thuốc trụ sinh đương đầu với loại vi trùng âm (nghĩa là thuốc có tánh
dương, tăng nhiệt lực) và không có nhiệt độ, nhiệt xuống thấp, mạch hai bộ Thốn chìm, đó là đối
chứng, đối mạch của nó.
Có một người phụ nữ vì tư phong bị chửa hoang, sợ quá mới phá thai, khi thai bị hư rồi trở nên bệnh
Tử Cung làm mủ, mỗi ngày nóng li bì. Vào nữ y viện chữa trị bằng cách nào không rõ, trải qua mấy
tháng trường bệnh nhân biến chứng, nếu không hơi nóng thì là hơi lạnh, nếu không Tử Cung chảy mủ thì
là băng. Tất cả Tây y, Trung y ở tỉnh đều không chữa được, đến xin nhận xét nơi kẻ dịch này. Sau khi
khám xong, thấy mạch cổ tay hai Thốn chìm, sáu bộ đều yếu kém, mạch đập chỉ trên 60 nhịp trong 1
phút, thỉnh thoảng mệt, choáng váng hồi hộp, hai chân lạnh, khám bụng thấy phản ứng giảm đi 6, 7
phần. Vì thấy tình cảnh người bệnh như thế, kẻ dịch này thử mạo muội chữa xem. Trước cho mỗi ngày
uống một thang thuốc chén thập toàn, có kèm theo thuốc cầm máu Tử Cung (phương này kèm theo mạch
nặng nhẹ, cao thấp mà cho phân lượng, tác dụng của nó mường tượng như Tây y dùng tổng hợp sinh tố,
nhưng có qui củ minh bạch rõ ràng) và tổ chức sự ăn uống hàng ngày, cấm hẳn những thức ăn nguội
lạnh, liên tiếp một tuần, kế đó cho đi song phương với mỗi ngày một gram streptomycine (tiêm thịt)
liên tiếp mười ngày nữa, đồng thời cho thêm nước biển. Đến đây người bệnh thấy nóng, thấy nực, hai
chân hết lạnh, biết đói bụng, thì nhiệt độ bắt đầu lên, bèn ngưng streptomycine, cho đi kèm với
pénicilline 200.000 mỗi ngày, độ một tuần sau thâu công.
Một đứa bé 8 tuổi, hai bên hố vai vùng xương gánh nổi hai bên mục nhọt to bằng quả trứng gà. Cả
Trung y lẫn Tây y ở ngoài đều dùng thuốc trụ sinh, tiêu sưng, giải độc v.v… nó cũng chỉ xẹp xuống gần
bằng mặt da thì cứng ở đó không tiến nữa. Nếu có thêm thuốc, đứa trẻ trở nên tinh thần tiều tụy. Cha
mẹ đứa trẻ đưa vào bệnh viện, bác sĩ bảo không mổ không khỏi, mà mổ cũng nguy. Đem trở về đến kẻ
dịch này, theo sự nhận xét thấy rằng độc bệnh tuy thuộc loại dương nhưng vì khí huyết suy kém, nhiệt
độ không đủ, hai bộ Thốn mạch đi chìm; do đó mà độc trở vào trong tạng phủ, không phá miệng không
tan. Kẻ dịch này bèn một mặt dùng thuốc thêm sức khỏe, tăng nhiệt lực làm cho mạch hai bộ Thốn trở
lại bình thường, đồng thời phối hợp với thuốc tiêu sưng, giải độc. Bệnh liền ứng theo thuốc mà đỏ lên,
lần tan đi và sức khỏe của đứa bé cũng lần được hồi phục, tức là khỏi mổ.
Hai trường hợp thất bại trên đây phải chăng chỉ bởi chú trọng ở phương diện đối trị với độc bệnh mà
khinh thường vấn đề âm dương, hư thiệt, sắc mạch và thế quân bình của tổng thể mà ra? Và biết đâu
cũng chính vì chỗ này mà tinh thần khít khao của cổ Á Đông vẫn chiếm phần siêu việt?
Tất cả bệnh nội thương đều quan hệ mật thiết đến tinh thần, mà bệnh Ung Thư lại càng quan hệ mật
thiết hơn. Từ tâm lý bị kích thích biến động đến khi bệnh Ung Thư thành hình, vấn đề thời gian rất là
quan hệ; đây cũng là một định luật, hai điểm trên đây làm cho bệnh Ung Thư phải đòi hỏi một phương
pháp điều chỉnh toàn diện thần kinh hệ tương đương và chỗ này tác dụng của tôn giáo rất có quan hệ.
Nhưng tiếc thay, tác dụng của tôn giáo là để đưa loài người ra khỏi bến mê, để an ủi trên tinh thần, để
điều chỉnh lại sự mất thăng bằng gây nên đau khổ, thế mà loài người dựa hẳn trên tướng để gây thêm
mê muội, để làm cho thêm đau khổ trên tinh thần, để càng mất thăng bằng cho cơ thể.Cho nên chỗ này
cũng là một kẽ hở để cho bệnh Ung Thư được chỗ kéo dài và tác dụng của tôn giáo cũng bị mờ đi một
góc. Thật là một điều đáng tiếc. Trong đây sẽ có nhiều điểm chứng minh.
Nói để cải thiện sinh hoạt cho người bệnh, chỉnh đốn tinh thần khán hộ đối với bệnh Ung Thư nếu
không có một tổ chức dưỡng đường thật khít khao thì cũng chưa dễ được như ý muốn của tác giả. Nên
kẻ dịch này nói ví như có một viện tổ chức nghiên cứu để bệnh nhân nằm luôn trong ấy và trong đó có
cả Lương y Trung và Tây, có đủ dụng cụ phương pháp khám phá và tài liệu nghiên cứu. Các nhân vật
trong đấy toàn là những người đều đồng ý với nhau trên một nền tảng cứu cánh tuyệt đối, hòa với nhau
trên một hình tướng tôn giáo, thông cảm với nhau trên phương pháp Đông Tây để cùng nhau xây dựng
trên một nền Văn hiến Y đạo khoa học duy nhứt, không còn có nghĩa là Đông với Tây nữa. Nếu được
vậy biết đâu bệnh Ung Thư sẽ trở thành dễ dàng giải quyết và biết đâu chân giá trị của tôn giáo, khoa
học cũng có thể nương nơi đây mà thêm sáng tỏ, sẽ trở thành một liều thuốc nhiệm mầu để tiêu bình
cho tâm lý thời đại đấu tranh kiên cố này vậy.