TAM THẤT
“Tam Thất khổ ôn, tán ứ định thống, Phá ác bảo tân, huyết chứng trân bảo”
1
ị
(UỚ . Trang 261
BIỆT DANH
Sơn Tất, Kim Bất Hoán
HÌNH LOẠI
Là củ của loài thảo mọc hoang, người, ta cũng có trồng. Cây cao độ hai ba thước Tàu. Củ kết thành khối, thuộc loại Sơn Thảo.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Gan Vị, kiêm vào Tim, Đại Trường. Vào phần huyết để hóa huyết ứ thành nước.
TÁNH VỊ
Vị ngọt đắng, tánh ấm, không độc.
CHỦ TRỊ
Là thuốc cần thiết để tan ứ, ngừng đau. Có công năng tan tất cả huyết chết, bảo vệ. tất cả huyết mới. Trị huyết ứ thành sưng đau. Bôi ngoài có thể tiêu sưng, cầm máu. Nên bị thương tích đánh đập té ngã, nhai củ tươi mà đấp, hoặc dùng bột rắc cầm. Tất cả trường họp thổ huyết, nục huyết, hạ huyết, huyết lỵ, làm băng, kinh kỳ không ngừng, sản hậu huyết không ra đi nghịch lên, con mắt đỏ, ung nhọt, hoặc bị cọp, rắn rít cắn, tổn thương đều dùng được.
KINH NGHIỆM
Tam Thất tan huyết ứ công hiệu rất lớn và an huyết mới cũng rất to. Ngày xưa những phạm nhơn trước khi chịu tra tấn, uống độ một vài đồng cân thì huyết không xung tâm. Sau đó tán bột mà bôi thì trứ ứ tiêu thũng dễ khỏi. Ngoài ra đều đúng như đã nói, nên phàm huyết chứng mở đầu mà muốn cầm máu sớm cũng phải cho uống Tam Thất trước, để khỏi huyết ứ lưu trệ gây thành hậu hoạn. Người ta nuôi cá vàng, cá yếu sắp muốn chết, cho nước lá Tam Thất vào miệng cá, liền sống dậy. Những ghẻ nhọt bướu không biết tên, giã lá nát mà bôi rất hay.
CẤM KỴ
Không có cấm kỵ
DỤNG LƯỢNG
Từ 8 phân đến 1,5 chỉ.
PHỤ LỤC
Củ Tam Thất ở thị trường tựa Nhân Sâm, thịt màu đỏ bầm như màu nghi trang của Sâm Cao Ly
Trang 262
bây giờ. Có những củ ngoài da có ngấn ngang. Trong nếm thấy có vị đắng hơi ngọt, tựa vị Lão Sơn Sâm, áp dụng thấy rất hiệu nghiệm, nhưng nếu dùng nhiều sẽ thấy để lại hậu quả giảm nhiệt, miệng lạt.
Căh cứ vào điều sách nói, lá không kết 3 thì kết 7. Cọng và gân lá có màu đỏ, thì ở miền Nam có một thứ cây cỏ cao độ 5 tấc tây là cùng, lá tựa hình bầu dục, có đuôi, láng, cuống và gân đều đỏ. Không kết 3 thì kết 7, dưới có củ màu vàng nghệ, tựa như củ Bạch Cập hay củ Gừng già nhưng cứng, có vị đắng. Nếu trồng đất phù sa tốt, thì dưới tầng củ trên còn một tầng củ nửa đứng thẳng xuống giống hệt của Nhân Sâm, màu vàng đỏ, hình như tầng trên là cuống, tầng dưới mới là củ, rất ít rễ, giống hệt củ Nhân Sâm. Hương vị lại cũng giống y như cái gọi là Xuyên Tam Thất trên thị trường. Nguồn gốc cây này do những vị thầy thuốc xưa truyền nhau trồng để lại gọi là Xuyên Điền Thất. Nhưng khảo vào sách thì không thấy thấy Xuyên Điền Thất, mà chỉ thấy Xuyên Tam Thất, hoặc Điền Tam Thất. Nếu vào cửa hàng thuốc mua Điền Tam Thất thì người ta bán thứ củ giống thứ củ trên. Còn biên Xuyên Tam Thất người ta sẽ bán củ giống củ dưới. Tuy cả hai đều trị vết thương và tan ứ, nhưng loại hình thù Điền Thất hay củ tầng trên của cây này thì tánh rất ráo, có xen vị chát, chớ không nhuận như Xuyên Tam Thất. Không biết có phải Tam Thất và Điền Thất là một cây mà thị trường làm loạn hay không, còn đang theo dõi.
Trên thị trường còn một thứ nữa màu trắng như Bạch Cập chớ không vàng, cũng gọi là Xuyên Điền Thất, bán rất đắt, nhưng công dụng không bao nhiêu.
Cây Tam Thất quả là một vị thuốc quý về huyết chứng mà người Trung Hoa đã từng áp dụng trong Quân Trường để cứu cấp, ta cần phải để ý.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading