TAM LĂNG
“Tam lăng khổ bình, tán huyết hành khí, Tiêu tích phá kết, hư nhược bất nghi”
BIỆT DANH
Kinh Tam Lăng, Bán Thiên Đơn, Tước Tiêm Đô úy.
HÌNH LOẠI
Là củ của một loại thảo mọc hoang ở những nơi đất ẩm thấp bìa chéo. Rễ màu vàng trắng giống như củ khoai nhỏ. Da đen, thịt trắng.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Gan, phá khí ở phần huyết của kinh Gan.
TÁNH VỊ
Vị đắng, tánh bình, không độc.
CÔNG DỤNG
Trang 260
Là thuốc cần thiết để tán huyết, hành khí, tiêu tích. Trị tích tụ, huyết kết, bụng đau, hơi truớng, ăn uống không tiêu, kinh mạch không đều.
KINH NGHIỆM
Tam Lăng là thuốc phần huyết của kinh Can, công phá kết cứng, tiêu tích rất mãnh… I liệt. Trị tích ứ trừng hà rất công hiệu.
CẤM KỴ
Sức thuốc rất mạnh, không nên uống lâu, lại dễ đọa thai. Người khí yếu, vị yếu đều Ị kỵ. 1
1 ĩ
DỤNG LƯỢNG
Từ 8 phân đến 1,5 chỉ. I
PHỤ LỤC I
Theo sách nói thì Tam Lăng mạnh hơn Nga Truật và đều là thuốc phá tích ở hệ thống Gan, nhưng trong thực tế thì thấy Nga Truật ảnh hưởng rất nhanh chóng và I
rất dễ dùng, nếu biết dùng.
Có một thứ cỏ thuộc loại lát, mọc dưới mé nước, có củ da đen; thịt vàng trắng, to I cỡ củ Hương Phụ. Nhung củ từng dễ nằm ngang. Cây có ba khía, hoa rẽ ba cạnh.
Tánh chất của củ có tác dụng giữa Tam Lăng và Hương Phụ. Và có ảnh hưởng I xuống đến Thận, có thể là vị thuốc quan hệ, ta nên lưu ý.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading