BAN VỀ CHỨNG SẢN HẬU KINH-PHONG
Đây là kinh Thái dương ở bài luận Thương-hàn, trong chứng ấy có chứng Cương-hình và chứng Như hình; người đàn bà mới sinh huyết ra nhiều quá, Âm hư Dương thịnh, hễ cảm mạo thì phát nóng, cùng với Tiều-nhi huyết mạch chưa đầy, Dương có dư, Âm thì không đủ, cho nên dễ bị Thương-hàn cũng giống nhau, bởi thế mới có chứng Tiều-nhi kinh-phong, nhân đó lại có tên Sản-hậu kinh- phong nếu theo về mặt cảm mạo dùng những thứ thuốc giải cơ, giải biều mà trị thì phần nhiều còn sống được, còn theo về mặt kinh-phong dùng những thuốc Kim-thạch, ngưu- hoàng mà trị thì muôn người chết cả muôn người. Than ôi! Phụ nhân và Tiều-nhi sao không may bị chết oan về hai chử kinh-phong như vậy ? Đời Tiền-Minh có quyền Y- môn pháp luật của Du-gia-ngôn Tiên-sinh giải thích rất tỉnh tường, nay xin kính cần chép một đoạn cùng với Môn- nhân vẫn đáp ở trong quyền sách đó, đề kêu tỉnh những vị làm thuốc ở đời.
Môn-nhân hỏi rằng: Thưa Thày một chứng kinh- phong tuy ở trong cổ điển không thấy nói tới, nhưng truyền lại đã đến ba trăm năm nay, dẫu Thày đã sửa chữa chỗ sai lầm, mà những bọn đần độn vẫn còn ngờ vực, vậy xin Thày giảng giải cho rồ ra đề mở mắt cho những bọn mờ điếc ? Gia-Ngôn Tiên-sinh đáp rằng ? câu hỏi ấy cũng đã nhiều, nay ta vì các con mà phá những chỗ ngờ vực, và hơn nữa đề phá hết những chỗ ngờ vực của thiên hạ đời sau nữa, bởi vì những đứa Tiều-nhi mới sinh cùng với những đứa trẻ, nhỏ da, thịt, gân, xương, tạng, phủ, huyết mạch chưa được đầy đủ, chân Dương thì có dư, mà chân Âm thì chưa đủ, không thể so sánh với người lớn Âm Dương đã giao thịnh. Duy chân Âm chưa đủ, chân Dương có dư cho nên trong mình dễ sinh ra nóng, nóng nhiều thì sinh Đàm, sinh Kinh, sinh Phong, đó là cái thế phải vậy; nếu bấy giờ cứ lấy thẳng bốn chữ: Nhiệt, Đàm, Phong, Kinh mà đặt tên thì người sau không tới nỗi nhận sai, bởi vì bỏ hai chữ mà chỉ lấy chữ Kinh đề đầu, chữ Phong đề cuối, bèn cho là chứng bệnh kỳ đặc lại bảo là bệnh ấy có tám hậu; thấy đầu tay cứng thì đặt tên là chứng co rút; thấy bỗng chốc miệng câm, co chân lại thì đặt tên là chứng mắt xếch, bụng loạn và co quắp; thấy xương sống cứng và ưỡn ra thì đặt tên là chứng uốn ván, tên gọi khác nhau, tự bầy đặt ra, hễ gặp những chứng ấy ai cũng lấy làm kỳ lạ lo sợ. Nhưng không hiều rằng da thịt và lỗ chân lông của đứa Tiều-nhi chưa kín, nên dễ bề cảm mạo phong hàn, phong hàn đã trúng, trước hết trúng vào kinh Thái-dương, mạch của Thái dương bắt đầu từ trong mí mắt đưa lên trán tới đỉnh đầu vào trong óc rồi trở xuống cổ, gáy giáp xương sống đưa xuống đến eo lưng, cho nên gân mạch căng cứng, mới sinh ra những chứng co rút, ưỡn ngửa ra, cong rút lại, nếu mà dùng thuốc Kim-thạch trấn bên ngoài, tà chạy vào sâu trong Tạng Phủ, muôn ngàn đứa trúng thì muôn ngàn đứa chết, gián hoặc có đứa trẻ thân thể bền chắc, chứng bệnh nhẹ nhàng, may mà bệnh hết, lại cho là thuốc thần tiên rồi giữ lấy làm Môn thuốc chuyên
môn, dẫu mỗi ngày có giết chết bao nhiêu đứa trẻ cũng không biết là tội, trong khoảng trăm năm, xa ngoài ngàn
dặm, nêu có một hai vị Minh triết cũng không thể vạch rồ
ra những chỗ nghi ngờ đó, như trong phương nói rằng
đứa Tiều-nhi từ tám tuổi trở về trước không có chứng
Thương hàn, những lời nói hồ đồ đó lại tự bực cao-
minh xướng ra, càng làm dựng nêu cho cái thuyết
Kinh phong là có, không từng nghĩ tới đứa
Tiều – nhi không quen lạnh, mới truyền vào kinh
Thái dương thì đã cứng mình nhiều mồ hôi, gân mạch găng
động mê man không biết gì, nếu đều thuốc loạn bậy sẽ bị
chết liền, còn đâu mà thấy truyền kinh giải tán nữa ? Chỉ bởi
lầm là Tiều-nhi không Thường-hàn vậy, nào có biết đâu
Tiều-nhi dễ bề ngoại cảm, dễ bề phát nóng, Thương-hàn rất
nhiều mà đời cho rằng Kinh-phong là thế đó, Tiều-nhi
Thương hàn cốt ở trong ba bữa hết được là quí, nếu đợi
tới truyền kinh rồi mới giải thì không thể được, Lại chứng
Cương-hình thì không có mồ hôi, chứng Nhu-hình thì ra
nhiều mồ hôi, Tiều-nhi ít chứng Cương – hình mà nhiều
chứng Nhu hình, Thày thuốc thấy mồ hôi ra hoài, mê man
không tỉnh, liền cho là chứng kinh-phong mà dùng những-vị
Sâm, Kỳ, Truật, Phủ làm bít những lỗ chân lông, đề nhiệt
tà không thoát ra ngoài được, cũng là cái hại lớn, so với
thuốc kim-thạch cũng một mười một chín vậy. Phàm trị
chứng nóng của Tiều-nhi cần nhất phải mở cho thông ra
ngoài, chớ không nên đề nhập vào trong, đức Trọng-Cảnh
đã có phép trị bằng thang Quế-chi, nếu bỏ mà không dùng lại
theo phép của Ông Đông-Viên trị về mặt nội thương thì sai
một ly đi một dặm, vậy khải nên suy xét cho kỹ càng. Lại
bàn về người đàn bà mới sinh ra huyết quá nhiều, Âm hư
Dương thịnh, khi cảm mạo cũng phát nóng cùng với Tiều-
nhi như nhau, Thày thuốc đều cho là chứng sản hậu kinh-
phong lại càng nực cười nôn ruột, Nên biết rằng ta bẻ cái thuyết kinh-phong, không phải là ta bảo không có bệnh Kình đâu, đứa Tiều-nhi thần khí yếu nhát, hễ gặp vật gì lạ, tiếng gì lạ thì sợ hãi mà té ngửa ra đều sinh ra chứng Kinh, như mặt xanh, phần xanh buồn bực la khóc hoài, chớ không giống như chứng nhiệt tà bít lỗ, thần khí mê man, nếu có khua chuông bắn súng ở trước mặt cũng không hay biết gì hết, vậy phải nên suy xét ngẫm nghĩ cho kỹ thì mới rõ cái thuyết Kinh-phong là bầy đặt. Các con đã theo học ta, hàng ngày ta giảng giải đưa tới nghĩa sáng tỏ, rửa sạch phồi, ruột tự nhiên tỉnh ngộ không khác gì uống nước ở nơi Thượng-trì, nhưng phải tìm hiều ở trong lời nói, chớ không thể nói truyền ra hết được.
CHUNG