TẠNG-PHỦ
Mười hai Quan :
Linh-lan bí-điền nói rằng: Tâm là Quan quân chủ, thần mình ở đó mà ra: Phế là Quan Tương truyền, trị tiếc ở đó mà ra ; Can là Quan Tướng quân, mưu lự ở đó mà ra; Đảm là Quan Trung-chính, quyết đoán ở đó mà ra; Đán-trung là Quan Thần-sứ, vui mừng ở đó mà ra ; Tỳ-Vỵ là Quan Thương-lẫm, năm mùi ở đó mà ra; Đại trường là quan truyền đạo, biến hóa ở đó mà ra ; Tiều- trường là Quan Thụ-thình, hóa vật ở đó mà ra; Thận là Quan Tác-cường khéo léo ở đó mà ra; Tam-tiêu là Quan Quyết-độc, đường nước ở đó mà ra; Bàng-quang là Quan Châu đô, tân dịch chứa ở đó, có khí hóa thì ra. Xét ra ở đây lấy Tỳ Vị hợp chung là một Quan e rằng sai lầm, Thiên thích Pháp bồ-di nói rằng; Tỳ là Quan Gián-nghị, sự hiểu biết ở đó mà ra; Vị là Quan Thương-lẫm, năn mùi ở đó mà ra, lấy đó bồ vào mới đủ số mười hai Quan.
Nói về tâm :
Tâm là tạng Hỏa, là chủ của thân người, là nơi Thần- minh đóng ở đó. Theo lối chữ Tiều-truyện thì chữ Tâm (3) chỉ là một chữ Hỏa (火) đảo ngược đấy thôi. Vì Tâm là tạng Hỏa, không muốn Hỏa bốc thành ngọn lửa bốc lên, cho nên chữ Hỏa viết đảo ngược thành chữ Tâm, đề ngụ ý thần diệu dụng của Hỏa vậy.
Ông Chúc-vô-Công nói rằng: một nét vạch của hợ Bào nguyên là hình ngang, nếu nét ngang ấy dựng thẳng lên thì thành nét số (1) đặt nghiêng về bên tả thì thành nét phầy (1) ngả về bên hữu thì thành nét mác () rút ngắn lại thì thành nét chấm (.) bắt ngang thì thành vòng câu (乙乙). Nhìn hình nét chấm (.) thì tròn mà có tỉnh thần. Nhìn hình nét ngang (-) nét số (1) nét phẩy () nét mác () ta thấy vuông và thẳng, lối chữ biến hóa rất nhiều, nhưng chữ nào cũng không thể ngoài nét ngang, nét số, nét phầy, nét mác mà kết cấu thành chữ được, chỉ có chữ Tâm muốn cho lưu động, toàn, chuyền cũng không ngoài được nét ngang, nét sổ, nét phầy, nét mác được, nếu muốn tìm một chữ khác đề tác đối cũng không thể được, chữ Tâm nghĩa là mới, thần minh biến hóa mỗi ngày mỗi mới vậy. Tâm chú huyết mạch, Huyết mạch lưu thông kkông đình trệ thì người ta khỏe, nếu không thế thì người ta đau yếu.
(Tâm hợp với mạch, làm cho sắc đẹp, khai khiếu ở lưỡi)
Nói về Can :
Can là tạng mộc, là nơi Hồn đóng ở đó, Can là cán, hình thề như nhánh cây, ngôi đóng ở phương Đông mà chủ về sinh khí, Thời-Y không rõ Lý, lại nói: Can không có phép bồ, chỉ nên cho mát và nên phạt, vì nêu cái thuyết Mộc khắc Thổ, mà không hiều Hậu-thiên Bát quái sánh với tượng Hà-đồ Tam Bát là Mộc đóng ở phương Đông tức là ngôi Hậu-thiên Cấn Tốn, Tốn ở trên, Khôn ở dưới là Quẻ Quan, Kinh-Dịch nói rằng: Xem thần đạo của trời mà bốn mùa không sai biến; trên Khôn dưới Chấn là quẻ Phục, Kinh dịch nói rằng: lại được thấy cái tâm của Trời
Đất, thật là nghĩa rộng lớn lắm thay !
(Can hợp với gân, làm cho cứng tốt móng chân tay, khai-khiếu ở mắt).
Nói về Tỳ :
Tỳ là tạng Thố, chứa ý với trí, ở dưới Tâm và Phế, cho nên theo chữ Ty, Tỳ là giúp, giúp đỡ Vị khí đề tiêu hóa món ăn, Kinh nói rằng: nạp cốc thì tốt, là ở chỗ đó. (Tỳ hợp với thịt, làm cho môi đẹp, khai khiếu ở miệng)
Nói về Phế:
Phế là tạng Kim, Phách chứa ở đó, Phế là bái (tuôn) vậy. Trong phổi có 24 lỗ, chia những khí trong, đục để đưa đi các tạng, khiến cho tuôn xuống không thể ngăn được. Nội Kinh nói rằng: Phồi không ưa lạnh. Lại nói rằng: Hình lạnh, mà uống thứ lạnh thì Thương Phổi, đừng nên giữ cái thuyết Hỏa khắc Kim.
(Phế hợp với da, làm cho lông người tốt, khai khiếu ở mũi)
Nói về Thận :
Thận là Thủy tạng, chứa Tình cùng chí, Ông Hoa- nguyên Hóa cho là cái gốc của tính mệnh, Lại Thận là nhậm, chủ về xương mà giữ việc khắp trong mình, cho nên người ta mạnh hay yếu là hệ ở đó, Giáp-ất kinh nói rằng : Thận là dẫn vậy, dẫn khí thông với cốt tủy, Thận là thấp, nói là Thần diệu muôn vật vậy.
(Thận hợp với xương, làm cho tốt tóc, khai khiếu ở Nhị- Âm)
Nói về vị:
Vị thuộc thổ, là Phủ của Tỳ, là Quan Thương-lẫm, kho của Ngũ cốc, cho nên theo chữ Điền (ruộng) Điền:
năm giống lúa ở đó mà ra là cái chợ của năm giống lúa, lại Vị là Vệ, cơm nước ăn vào trong Vị hóa đầy tinh khí đưa lên phổi thấm suốt Tứ chỉ và khắp mình để che chở bên ngoài làm cho da lông kín đáo bền bỉ.
Nói về Đởm :
Đởm thuộc Mộc, là Phủ của Can, là quan Trung- chính, là kho Trung-thanh, mười một Kinh đều quyết ở nơi Đởm, người ta mạnh hay nhát, tà hay chính cũng ở nơi đởm, cho nên chữ theo Đam, Đởm là gánh vác, có đởm lượng mới có thể gánh vác được việc thiên hạ, Can chủ nhân, nhân thì không nỡ, cho nên phải lấy Đởm đoán, Đởm ở khoảng lá ngắn của Can, nhân thì tất có mạnh vậy.
Nói về Đại trường, Tiều trường :
Đại trường là quan Truyền-đạo, biến hóa ở đó mà ra. thuộc Kim, là Phú của Phế. Tiều trường là quan Thụ- thình (chịu đựng) hóa-vật ở đó mà ra, thuộc Hỏa, là Phủ của Tâm, người ta ăn cơm nước, Tỳ-khí hóa mà đưa lên trên, Trường thời hóa mà đưa xuống dưới, ý trường là sướng vậy, mới có thể sướng đạt được cái khí ở trong Vị, hễ Trường thông sướng được là người mạnh, nếu không thông sướng là người bệnh.
Nói về Tam-tiêu:
Tam-tiêu là khí ở trên, giữa, dưới ba tiêu vậy, Tiêu là nóng, trong bụng đầy khí nóng bủa khắp để thông điều đường nước, là Phủ của Tâm Bào-lạc, thuộc Hỏa, Thượng- tiêu không trị thì nước tràn ở Cao-nguyên. Trung-tiêu không trị thì nước đọng ở Trung-quản. Hạ tiêu không trị thì nước đọng cả Nhị-tiện. Tam-tiêu khí trị thì mạch lạc thông
mà đường nước lợi, cho nên gọi là quan Quyết-độc (khai- thông).
Nói về Thủ-tâm-chủ (tức là Tâm Bào-lạc)
Tâm là chủ tể của Ngũ tạng Lục-phủ, còn Bào-lạc là Tướng-hỏa ngoại-vệ của Quân chủ, thay Quân-chủ mà làm việc, cho nên cũng có Chủ danh, sao lại thêm vào Thủ, bởi vì Thủ quyết âm mạch thuộc Tâm bào, Thủ Tam-dương mạch tản mát mà truyền sang Tâm-bào, thế là Thủ cùng Tâm hợp, cho nên Tâm-bào-lạc cũng gọi là Thủ tám chủ, trong 5 tạng thêm một tạng này nữa là sáu tạng vậy.
Nói về Bàng-Quang:
Bàng-Quang thuộc Thủy, là Phủ của Thận, Kịnh nói Bàng-Quang giữ việc Châu-đô, tân dịch chứa ở đó, hỗ khí hóa thì tân dịch ra được, ý nói được khí hóa thì tân- dịch tiết ra ngoài mà tư nhuận tới da lông vậy. còn chuyên giữ về thủy đạo thì ở Tam – tiêu – phủ, cho nên Kinh nói Tam-tiêu coi việc khoi đào cho thủy đạo ra, ý nói khí nóng bủa khắp, khiến cho thủy đạo xuống phía dưới mà thành ra đi đái vậy. Hai chữ xuất ở Nội-kinh, một là xuất ra ngoài, hai là xuất xuống dưới, ngàn xưa ít ai hiều cái ý đó, nay xin đem giải rõ ra, lại Bàng là một bên, Quang là sáng, ý nói là nguyên khí ở khí-hải đầy đủ thì tân dịch chạy khắp các nơi mãi mãi, mà sớ thịt da lông đều nhờ đó mà sáng láng vậy.
Nói về Mệnh-Môn :
Việt-nhân chỉ Hữu-thận là Mệnh-môn, các nhà cho là không đúng, Tôi xét ở Nội-kinh; Thái dương gốc ở Chí-âm, kết ở Mệnh-môn, Mênh môn tức là raắt vậy.
Thiên-linh khu kết căn, Thiên Vệ khí với Tố-Văn Âm-
dương tạp hợp luận, ba thuyết đều giống nhau. Sau đọc tới
kinh Hoàng-đình nói rằng : phía trên có Hoàng-đình, phía
dưới là Quan-nguyên, phía sau có U-môn, phía trước có
Mệnh-môn, mới hiểu rõ là nơi của Mệnh-môn ở đó. Phàm
người ta trước khi thụ sinh, Tiên-thiên tỉnh khí tụ ở dưới
Tốn giữa khoảng Quan-nguyên Khí-hải, về Đàn bà thì có thề
lấy tay mà sờ thấy được, tức Tục kêu là Sản-môn, còn về
Đàn ông thì tới khi tiết tỉnh mới có thể biết được, đó tức
là chìa khóa Bắc-môn, là nơi chí mệnh của người ta vậy. Lại
xét theo thuyết Bầy Xông-môn của Việt-nhân bảo Phi-môn
tức là môi, Hộ môn tức là Răng, Hấp-môn tức là Hội-áp,
Bí-môn là phía trên miêng Vị, U-môn là dưới cuống Đại-
trường, Lan-môn là dưới cuống Tiều-trường, Phách-môn
tức là Giang-môn vậy, khi đi ỉa đi đái bởi khí hóa ấy mà ra,
lại thêm lỗ đi đái là khí-môn, phàm đã gọi là cửa tức là nơi
ra vào vậy. Phương chỉ thân hình người ta trước khi chưa
sinh, giữa lúc cha mẹ giao tế, đàn ông xuất tinh do cửa ấy
mà ra, đàn bà thụ tinh cũng do cửa ấy mà vào, tới khi Thai-
nguyên đủ hình lại do cửa ấy mà sinh ra, cho nên ngoài tám
cửa chồng lên gọi là Mệnh-môn vậy, còn như Đốc-mạch
mười bốn đốt, trong đó có huyệt Mệnh-môn, đó là chỉ
ngoại-du mà nói, chớ không phải Mệnh-môn ở nơi đó vậy.
VẬN KHÍ
Cái thuyết của Ông Trương-Phi-Trù cho rằng: Vận khí không đủ làm bằng.
Lời Ngạn nói rằng: làm thuốc mà không đọc năm Vận, sáu khí coi khắp các phương thư, thì có ích gì cho nghề làm thuốc, cho nên hễ ai hơi hiều Y lý một chút là chỉ lấy Tư-Vận làm cốt yếu, nhưng có biết đâu những thiên Thiên- nguyên kỷ vốn không phải nguyên văn của Tổ-Vận, đó là họ Vương lấy Âm-Dương đại-luận bồ vào trong kinh, người đời sau tưởng là cách ngôn của bực Thánh đời xưa, thì ai còn dám bảo là không phải, nhưng thực ra không có quan hệ gì với Y đạo hết, phương chỉ trong bài luận có nói rồ rằng: thời có thường vị mà khí không nhứt định, thế mà còn đem ra bàn đi bàn lại chẳng qua xét cho cùng cái lý mà thôi. Ví dầu thắng phục có thường mà chính phương Nam Bắc, bốn phương có nơi cao, nơi thấp, bốn mùa có thuận trái khác nhau, trong khoảng trăm bước có nơi mưa, nơi nắng, ngoài ngàn dặm có chỗ lạnh, chỗ ấm khác nhau, có thế nào lấy phép nhất định mà lường được cái biến phi thường chăng ? nếu coi để đem ra bàn luận với nhau thì được, còn chấp nhất để đem ra trị bệnh thì thực là không thông vậy.
