QUYỂN TƯ
BÀI THỨ 1
THÁI DƯƠNG BẢN HÀN TRUYỀN KINH TẠI BIỂU
Lục Kinh không phải chỉ là một Kinh Thái Dương
Lục Khí không phải chỉ là một Khí Hàn
Nhưng mà Thái Dương thống thuộc cả thảy
Hàn Khí truyền Kinh cả thảy
Cơ Nhục bắt đầu thọ bệnh cả thảy
Tấu Lý là nơi tập trung cả thảy
Đó là điều mà các bậc Thánh Nhân ngày xưa dò xét đến chỗ bí ảo, chỗ thông hội của Âm Dương, làm nên “điển thường” để phát biểu ra.
Thời đại Kỳ Hoàng,trong Nhiệt Bệnh Luận,Cự Dương và Thái Dương thường cùng gọi lẫn lộn :

  • Khi gọi Cự Dương là có ý tứ thống nhất tất cả.
  • Khi gọi Thái Dương là có ý nghĩa tương truyền với 6 Kinh.
    Trọng Sư bảo : Cự Dương tức là Thái Dương, ý đơn giản mà rõ ràng, biện xét trong Mạch chứng thì tự tìm được : một mình Thái Dương là tôn chủ tất cả.
    Hiệp Lục Khí lại thành 4 Khí gọi là : Dương Hàn, Dương Nhiệt, Âm Hàn, Âm Nhiệt để làm phương tiện biện chứng luận mạch.
    Nói thật ra thì 3 chữ “Thái Dương Bệnh” đã bao quát tất cả, không riêng chỉ ở Biểu phần vậy.
    41
    BÀI THỨ 2
    PHÉP HẠN Ở BIỂU PHẦN
  • Thương Hàn Luận nói Chứng Quế Chi, Chứng Ma Hoàng, Chứng Sài Hồ là lấy thuốc gọi tên Thang, lấy thuốc gọi tên Chứng.
  • Đó là phân loại phép trị rất có khoa học vậy.
  • Sách Thương Hàn phân tích phần Biểu của thân người làm 3 là : Cơ Nhục, Bì Phu và Tấu Lý.
  • Phép phân tích này Tố Vấn đã có nói rằng : Tà độc trúng vào người, trước ở Bì Mao, rồi đến Cơ Phu, thứ đến Cân Mạch, rồi đến Phủ Tạng, theo thứ tự từ Biểu vào Lý
    Thương Hàn Luận càng xiển minh (tỏ sáng) thêm, lấy Thái Dương chủ Biểu, lấy Cơ Nhục là nơi Thái Dương Bệnh trước hết, thứ đến Bì Phu, đến Tấu Lý.
    Đồng là tại Biểu phần, đồng là chứng Hàn Nhiệt, nhưng phép trị có Quế Chi thang, Ma Hoàng thang, Sài Hồ thang không giống nhau. Sở dĩ như thế là vì tại Cơ, tại Bì, tại Tấu, chỗ thọ Thái Dương Bệnh có Hàn Nhiệt nhiều ít khác nhau thôi !
    Đã lấy thuốc gọi tên thang, lại lấy thuốc gọi tên chứng, là chỗ Trọng Sư dạy ta nên chú ý vậy. Phép phát Hãn này rất hợp lý, rất tinh tường. Tiếc thay, sau Trọng Cảnh không người giảng dạy, cho nên Biểu Bệnh chuyển thành “Hoại Bệnh” chết người rất nhiều.
    Nay theo trên phương tiện dễ hiểu giảng giải ra, nếu muốn tường tận, xin xem ở Thương Hàn Bản Nghĩa.
    BÀI THỨ 3
    CHỨNG QUẾ CHI (1)
    Thang Quế Chi giải bệnh ở Nhục Phần Hàn Nhiệt ngang nhau : Quế Chi, Sinh Cương giải Hàn; Bạch Thược, Cam Thảo giải Nhiệt; Đại Táo hòa Vỵ Khí.
    42
    Bệnh tại Cơ Nhục tức là Trúng Phong, Thương Hàn, Ôn Bệnh, Phong Ôn, Hàn Thấp, Phong Thấp, tuy phép trị có khác nhau, nhưng đồng gọi là Chứng Quế Chi.
  • Trúng Phong thuộc Dương Hàn Kinh Lạc dùng Quế Chi thang (12),
    Quế Chi gia Cát Căn thang (14)
    thuộc Âm Hàn Kinh Lạc dùng Quế Chi gia Phác Hạnh thang (19)
  • Trúng Phong thuộc Dương Nhiệt Kinh Lạc dùng Quế Chi thang là không đúng (16)
    thuộc Âm Nhiệt Kinh Lạc uống Quế Chi thang rồi, ắt thổ ra huyết (20)
    Quế Chi thang có lúc nên dùng, có lúc cấm kỵ, mặc dù đều là Chứng Quế Chi, đều là bệnh tại Nhục Phần.
    Chúng ta chỉ theo trên Nhục Phần mà khảo cứu Mạch Chứng để phân biệt chỗ lấy chỗ bỏ mà thôi. Đó không phải là phương tiện dễ hiểu ư ?
    BÀI THỨ 4
    CHỨNG QUẾ CHI (2)
    Quế Chi trị Trúng Phong, Quế Chi cũng trị Thương Hàn, bởi vì Trúng Phong Thương Hàn cả hai đồng bệnh tại Nhục phần.
  • Ba Âm Kinh Thương Hàn dùng Quế Chi gia Phụ Tử thang (21)
    Hàn tại Thủ Âm dùng Quế Chi khứ Bạch Thược thang (22)
    Hàn tại Túc Âm dùng Quế Chi khứ Bạch Thược gia Phụ Tử thang (22)
  • Ba Dương Kinh Thương Hàn dùng Ma Hoàng Quế Chi Các Bán thang (23)
    Tuy Quế Chi thang gia giảm không là một, là do bệnh ở Âm Kinh, Dương Kinh không là một, nhưng vẫn là một chứng Quế Chi vậy.
  • Hàn Thấp dùng Quế Chi, chưa giải lại dùng Quế Chi (25)
    43
  • Phong Thấp dùng Quế Chi nhị Ma Hoàng nhất thang (25)
  • Nhiệt Bệnh dùng Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang (26)
  • Ôn Bệnh dùng Quế Chi nhị Việt Tỳ nhất thang (27)
  • Phong Ôn dùng Quế Chi khứ Quế gia Linh Truật thang (28)
    Chúng ta xem trị pháp này : dùng Quế Chi lại dùng Quế Chi, dùng Quế Chi lại bỏ Quế Chi. Ngoài ra như Bạch Hổ thang, khứ Quế gia Linh Truật thang, đồng dùng cho bệnh ở trên Nhục phần mà không mất ý nghĩa của Chứng Quế Chi.
    Cho đến dùng lầm Quế Chi, vì dùng Quế Chi trị Ôn Bệnh (29) ; dùng lầm Quế Chi có thêm Phụ Tử vào trong thang, vì dùng Quế Phụ trị Phong Ôn (30)
    Phép cứu chữa lầm dùng : Cương Thảo thang, Thược Thảo thang, Điều Vỵ Thừa Khí thang, Tứ Nghịch thang, vẫn không hại mất ý nghĩa của Chứng Quế Chi.
    Lại như trị 3 Kỳ Kinh thọ Hàn Cát Căn thang 3 bài chủ trị (31, 32, 33)
    3 Kỳ Kinh thọ Nhiệt Cát Cầm Liên thang làm chủ (34)
    Đồng là Quế Chi Chứng,nhưng Mạch Chứng khác, Phương Thang khác, há không phải lấy đó làm gốc, dùng nó vô cùng, là phương tiện dễ hiểu khi lâm chứng ư ?
    BÀI THỨ 5
    CHỨNG MA HOÀNG
    Trọng Cảnh biện công năng Dược phẩm cho rằng Ma Hoàng phát Dương Khí
  • Ma Hoàng phát Thái Dương Hàn Nhiệt ở Bì
  • Quế Chi giải Hàn, Hạnh Nhân giải Nhiệt
  • Cam Thảo hòa Vỵ Khí (35)
  • Thái Dương Thương Hàn truyền các Kỳ Kinh và Trúng Phong truyền các Kỳ Kinh, đều ở Bì, đều là Thái Dương Bệnh của Ma Hoàng thang (36, 37)
    44
  • Thiếu Âm Thương Hàn dùng Ma Hoàng Phụ Tử Tế Tân thang (300)
  • Thiếu Âm Trúng Phong dùng Ma Hoàng Phụ Tử Cam Thảo thang (301) đều ở Bì, đều là Thiếu Âm Bệnh của Ma Hoàng thang vậy.
  • Thái Dương chuyển sang Thiếu Âm mồ hôi không ra được, vì Hàn kết ở Kinh, hạn ra không triệt để, phiền táo (48), Trọng Cảnh chưa ra phương, thiết tưởng nên dùng Quế Chi Phụ Tử thang, Khứ Quế gia Bạch Truật thang (176). Đó là Thương Hàn Loại Phong Thấp.
  • Thái Dương chuyển sang Thiếu Âm, do Nhiệt kết ở Kinh hạn không ra, phiền táo dùng Đại Thanh Long thang (38), đó là Trúng Phong Loại Phong Ôn
  • Thương Hàn Loại Ôn Bệnh dùng Đại Thanh Long thang (38, 39)
  • Thương Hàn Loại Hàn Thấp dùng Tiểu Thanh Long thang (40)
    Tuy đều không phải là Ma Hoàng thang nhưng không ngoài Chứng Ma Hoàng vậy
  • Ngoài ra, Hàn nhập Dương Nhiệt Kinh tất sinh Nục Huyết (chảy máu cam), dùng Ma Hoàng thang giải Dương Khí rất nặng vậy (46)
  • Trái lại Nhiệt nhập Âm Hàn Kinh, khạc ra mủ máu dùng Ma Hoàng Thăng Ma thang, mồ hôi ra thì khỏi (355)
  • Còn như Nhiệt nhập Dương Nhiệt Kinh, mồ hôi ra mà Suyễn dùng Ma Hoàng Hạnh Nhân Thạch Cao Cam Thảo thang (62)
    Trái lại Hàn nhập Âm Hàn Kinh, không thể phát hạn mà cũng không được không ra mồ hôi, Trọng Cảnh chưa ra phương, thiết tưởng nên dùng Phục Linh Tứ Nghịch thang (49), Đương Quy Tứ Nghịch thang (50)
    Tóm lại, tuy Ma Hoàng thang trị Bì Phần, nhưng Ma Hoàng Chứng không cần tất cả đều ở Bì Phần vậy.
    .
    45
    BÀI THỨ 6
    CHỨNG SÀI HỒ (1)
    *Thế nào là Sài Hồ thang ?
  • Sài Hồ hòa giải Hàn Nhiệt ở Tấu phận; Bán Hạ, Sinh Cương giải Hàn; Hoàng Cầm, Cam Thảo giải Nhiệt; Nhân Sâm, Đại Táo hòa Vỵ Khí.
    *Thế nào là Sài Hồ Chứng ?
  • Thương Hàn 5 – 6 ngày Trúng Phong : nói Thái Dương Thương Hàn 5 – 6 ngày tại Tấu với Thiếu Âm Trúng Phong hợp bệnh vậy.
    *Sao không nói là Thiếu Dương ?
    Vì không bằng nói Thiếu Âm trực tiếp Thái Dương. Lúc tại Cơ nói Trúng Phong trước, lúc tại Tấu nói Thương Hàn trước, đủ thấy Trúng Phong Thương Hàn cùng nhau làm chứng trước, chứng sau.
  • Vãng lai Hàn Nhiệt : Dương phần Hàn Nhiệt vãng lai tại Bán Biểu.
  • Ngực sườn đầy khó chịu : Dương phần Hàn Nhiệt bế (bí) nhau tại Bán Biểu.
  • Lìm lịm : ở Tấu khu Cơ không lợi
  • Không muốn ăn uống : Vỵ Khí chủ Tấu không hòa.
  • Tâm phiền : bởi vì Quân Hỏa chủ Tấu.
  • Hay nôn ụa : Hàn trước Phong sau làm thuận, với “ụa nghịch” thì trái lại bởi vì Phong trước Hàn sau.
  • hoặc trong Hung phiền mà không ụa : là trước thọ phải Phong mà chưa thọ phải Hàn, nguyên lai Phong Hàn không có trước sau vậy.
  • hoặc khát : là thọ Thủ Thiếu Âm Nhiệt.
  • hoặc trong bụng đau : thọ Túc Thiếu Âm Nhiệt.
  • hoặc dưới sườn đầy cứng : thọ Phong Hàn tại Bán Biểu đến Đái phần.
  • hoặc dưới Tâm hồi hộp, tiểu tiện không lợi : thọ Phong Hàn tại Bán Biểu đến Cách phần.
    46
  • hoặc không khát mình có hơi nóng : thọ Phong Hàn tại Bán Biểu đến Bì Nhục phần.
  • hoặc Khái : thọ Phong Hàn tại Bán Biểu đến Bán Lý phần.
    Đó đều là tại Tấu Bán Biểu Dương phần Hàn Nhiệt làm bệnh của Chứng Sài Hồ vậy (97).
    BÀI THỨ 7
    CHỨNG SÀI HỒ (2)
    Tiểu Sài Hồ thang là chủ trị Tấu Bán Biểu thọ Dương Phần Hàn Nhiệt
    Vậy thì, tại Bán Biểu mà thọ Âm phần Hàn Nhiệt và
    tại Bán Lý mà thọ Dương phần Hàn Nhiệt thì gọi là gì ?
    Có thể dựa trên Chứng để biện biệt ;
  • Tà Chính chọi nhau Kết ở dưới Hiếp, Phủ Tạng liền nhau, bụng đau mà ụa, là tại Bán Lý (98),nhưng :
  • Hàn Nhiệt qua lại, lúc nghỉ lúc phát : đó là Dương phần Hàn Nhiệt tại Bán Lý thuộc Tiểu Sài Hồ thang (98).
  • Hung Hiếp đầy, cổ gáy cứng, tay chân ấm mà khát : là chứng thuộc Âm phần Hàn Nhiệt (100) nhưng :
  • mình nóng, ghét gió, đó là Âm phần Hàn Nhiệt tại Bán Biểu thuộc Tiểu Sài Hồ thang (100).
    *Lại có khi không phải Sài Hồ Chứng, không thể dùng Sài Hồ thang, nhưng không được không gọi là Thái Dương Sài Hồ Chứng, bởi đó là Dương Nhiệt Âm Hàn tại Tấu Bán Lý.
    *Còn có mạch Trì Phù Nhược, ghét gió lạnh, cổ gáy cứng, mặt mắt vàng, dưới sườn đầy đau, không ăn được, tiểu tiện khó, dùng Sài Hồ thang rồi sau tất hạ trọng (99),đó là chỗ khác nhau giữa Thái Dương Sài Hồ Chứng với Thiếu Dương Sài Hồ Thang, nhưng không thể không gọi nó là Chứng Sài Hồ, bởi vì đều là bệnh tại Tấu.
    47
    BÀI THỨ 8
    CHỨNG SÀI HỒ (3)
    Luận nói rằng : “Thương Hàn Trúng Phong có Chứng Sài Hồ”, là vì Sài Hồ Thang trị Tấu phần cũng có thể trị Bì Nhục phần (102)
    Lại nói : Bệnh chứng của Sài Hồ thang mà cho hạ đi, Sài Hồ Chứng không hết, lại dùng Sài Hồ thang (102), là vì Sài Hồ thang trị bệnh ở Tấu, cũng có thể trị bệnh ở Phủ Tạng khiến cho nó ra ngoài. Do đó, cho nên Sài Hồ thang tả hữu bên nào cũng vận dụng được, thành ra rất là quan trọng :
  • Hàn bệnh ở Tấu, Tâm hồi hộp mà phiền, Tiểu Kiến Trung thang làm chủ (104)
  • Phong Ôn ở Tấu, dưới Tâm cấp, hơi phiền dùng Đại Sài Hồ thang hạ đi (105)
  • Ôn bệnh quá Kinh ở Tấu, ngực sườn đầy đau mà ụa, triều nhiệt dùng Tiểu Sài Hồ gia Mang Tiêu thang (106)
  • Nhiệt bệnh quá Kinh tại Tấu, nói xàm dùng Điều Vỵ Thừa Khí thang (107)
  • Hàn Thấp tại Tấu, ngoài đã giải, nhưng bụng dưới kết gấp khó chịu dùng Đào Nhân Thừa Khí thang (108)
  • Phong Thấp tại Tấu, phiền, kinh sợ, nói xàm, cả mình nặng nề dùng Sài Hồ Long Cốt Mẫu Lệ thang (109)
    Biết rằng tuy không phải Sài Hồ thang nhưng vẫn là Sài Hồ Chứng.
  • Tên gọi là Tung, tên gọi là Hoành, lại là chỗ giao giới của Kinh Lạc tại Tấu, cho nên thảy đều gọi là Chứng Sài Hồ, ai bảo là không nên ? (110, 111)
    .
    48
    BÀI THỨ 9
    CHỨNG SÀI HỒ (4)
    Chứng Sài Hồ gần như chiếm quá nửa trên thân người, ở Thương Hàn Luận nói tới rất nhiều, nhưng còn một điều hỏi rằng : “Tiểu Sài Hồ thang sao không nói đến Mạch ? “
  • Đáp rằng : chỉ vì đã nói rất nhiều, phải nên tùy chỗ mà thể nhận.
  • Chứng Sài Hồ ở Tấu lấy mạch ở Biểu : như mạch Phù Nhược, mạch Phù Khẩn, mạch Phù Hoãn, mạch Phù Sác, đều là Mạch của chứng Ma Quế.
  • Chứng Sài Hồ ở Tấu lấy mạch ở Lý : như mạch Trầm Trì, mạch Trầm Vi, mạch Trầm Khẩn, mạch Trầm Kết, đều là mạch của Phủ Tạng liên quan.
    Mạch của Tiểu Sài Hồ thang không như thế, cũng không ngoài thế, rất là then chốt ở hai mạch Phù Trầm mà thôi. Thuyết này ở Thiên Thiếu Dương có nói : Thái Dương Bệnh chuyển nhập Thiếu Dương, Hàn Nhiệt vãng lai, chưa cho Thổ hạ, mạch Trầm Khẩn, Tiểu Sài Hồ thang làm chủ (265)
    Chưa cho Thổ Hạ, mạch của Sài Hồ há có Trầm Khẩn ư ?
    Đã cho Thổ Hạ, mạch của Sài Hồ há có Phù Khẩn ư ?
    Học giả nên thể nhận ở hai mạch Phù Trầm là được !
    Lại có một chứng cớ thiết thực nữa :”Thái Dương Bệnh mạch Phù Động Sác.
  • Phù thì là Phong là nói mạch của Hàn Phong ở Thái Dương
  • Sác thì là Nhiệt là nói mạch của Nhiệt Khí ở Thiếu Âm
  • Động thì là đau, Sác thì là hư, là nói ở Tấu Thiếu Âm Nhiệt Khí bị hư, cho nên Thái Dương Hàn Khí mới “Động đau”
    Đích thực là Chứng Sài Hồ ở Tấu mạch phải Phù vậy.
  • Thầy thuốc lại cho Hạ, Động Sác biến ra Mạch Trì : bởi vì Hạ cho nên mạch Phù chuyển ra mạch khác (136)
  • Chưa cho Thổ Hạ, mạch Trầm Khẩn, thì Phù Khẩn với Trầm Khẩn khoảng cách không bằng sợi tóc, ý nói rằng Tấu tuy có Bán Biểu Bán Lý nhưng phân ra không thể phân được; không luận như thế thì mạch không thể hình dung được. Vậy thì, khi lâm chứng chúng ta đã có chỗ nắm bắt, chỉ cần lấy hai mạch Phù Trầm làm phương châm.
    49
    BÀI THỨ 10
    CHỨNG SÀI HỒ (5)
    Tổng kết Chứng Sài Hồ :
  • Huyết yếu, Khí hết, Tấu Lý mở : Thái Dương Hàn Khí nhập vào cùng với Thiếu Âm Nhiệt Khí chọi nhau tại Tấu phận. Đó là nguyên nhân phát sinh Chứng Sài Hồ (98)
    Thái Dương và Thiếu Âm là “Đỉnh vạc” của toàn bộ sách Thương Hàn, là “Kim Đơn” cho tất cả Mạch và Chứng.
    Nếu muốn giải hết Tấu Lý bộ, tất phải khảo sát Mạch và Chứng ở Thái Dương trước khi chưa nhập Tấu, với Thái Dương sau khi đã nhập Tấu :
    *Đại để Thái Dương ở Bì Cơ bộ :
  • mạch Phù Khẩn : chứng Âm Nhiệt, Dương Nhiệt đều như vậy
  • mạch Phù Sác : chứng Dương Hàn, Âm Hàn đều như vậy
  • lại có Phù Nhược,Phù Hoãn,Phù Tế:hoặc Hàn thực mà Nhiệt hư, hoặc Dương Vi mà Âm thịnh.
    Bất luận như thế nào, đều lấy mạch Phù làm tất yếu cho việc nhận chứng.
    *Kịp đến Thái Dương nhập Tấu bộ, nhất quyết là có mạch Trầm :
  • mạch Trầm Vi, chứng của nó ban ngày phiền táo không ngủ được, ban đêm yên tĩnh, không ụa không khát dùng Phụ Tử Càn Cương thang (60)
  • mạch Trầm Trì, chứng của nó mình đau nhức dùng Quế Chi Tân gia thang (61)
  • mạch Trầm Khẩn, chứng của nó dưới Tâm nghịch đầy, Khí xung lên ngực, dậy thì đầu choáng váng, thân bị rung lảo đảo, dùng Quế Linh Cam Truật thang (66) cho đến :
  • Quế Chi Cam Thảo thang : trị Thái Dương nhập Tấu phần trên (63)
  • Linh Quế Thảo Táo thang : trị Thái Dương nhập Tấu phần dưới (64)
  • Bán Hạ Hậu Phác Cương Thảo Sâm thang : trị Thái Dương nhập Tấu phần giữa (65)
  • Thược Thảo Phụ thang : trị Tấu Nhiệt Khí hư (67)
    50
  • Phục Linh Tứ Nghịch thang : trị Tấu Hàn Nhiệt Khí đều hư (68)
  • Điều Vỵ Thừa Khí thang : trị Tấu Nhiệt Khí thực (69)
  • Quế Linh Cam Truật thang : trị Tấu Hàn Nhiệt Khí đều thực (66)
  • đó đều là phương thang gián tiếp khi Chứng Sài Hồ đã hết, lại là phương thang trực tiếp của chứng Kết Hung, chứng Bỉ vậy.
    BÀI THỨ 11
    TÚC THÁI DƯƠNG KHÍ
    Nội Kinh nói “Bàng Quang là Quan Châu đô, được Khí hóa thì xuất ra ”. Trọng Cảnh căn cứ vào luận điều đó diễn dịch Mạch Chứng của Túc Thái Dương nói : “ Quan Châu đô thọ Thái Dương Hàn Thủy, được Thiếu Âm Nhiệt ‘Khí hóa’ mà ra “
    Quả nhiên Túc Thái Dương :
  • thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí thì trong Vỵ Thủy cạn, phiền táo không ngủ được, nên cho uống ít ít nước, để cho Vỵ hòa thì khỏi (70).
  • thọ Thái Dương Hàn Thủy thì Mạch Phù, tiểu tiện không lợi, hơi nóng, tiêu khát, Ngũ Linh Tán làm chủ (70)
  • đều là tài bồi cho công năng của Túc Thái Dương cuối cùng đến chỗ thăng bằng mà thôi.
    Nghĩ như, Khí có thái quá, có bất cập thì Bệnh cũng có thực, có hư :
  • Uống nước vào thì mửa : Thủy Thực vậy (73)
  • Hai tai điếc không nghe : Thủy Hư vậy (74)
    Đã có Hư Thực, tất nhiên có cùng hư, cùng thực :
  • Uống nước nhiều tất Suyễn, lấy nước rót vào cũng Suyễn : thọ Thái Dương Thiếu Âm cùng hư (75)
    51
  • Thuốc và nước không vào miệng được, phát hãn thì thổ hạ không dứt : thọ Thái Dương Thiếu Âm cùng thực (76)
    Chúng ta theo phép diễn dịch này mà suy nghĩ thì thấy toàn bộ sách Thương Hàn chẳng qua là như vậy, như vậy.
    Công năng của “mười hai quan” đều do Thái Dương Thiếu Âm nắm giữ thao túng.
    Ngoài ra, hoặc tại địa phương Hàn Nhiệt không giống nhau, hoặc tính chất khác nhau, phát sanh nhiều loại Mạch Chứng khác biệt. Tóm lại không ngoài sự “Tạo hóa” của Thái Dương Thiếu Âm.
    BÀI THỨ 12
    THỦ THÁI DƯƠNG LẠC
    Thủ Thái Dương Tiểu Trường há năng ngoài Thái Dương Thiếu Âm ư ?
  • Thủ Thái Dương hư thì thọ Thái Dương Thiếu Âm cũng hư, chứng của nó là hư phiền không ngủ được (77).
  • Thủ Thái Dương thực thì thọ Thái Dương Thiếu Âm cũng thực, chứng của nó là “trong Tâm não nuột, phản phúc điên đảo ” (77)
  • Thái Dương Thiếu Âm hổ tương chuyển qua Lạc, có khi thiểu khí (ít hơi), có khi nôn ụa :
  • có tại Cách : phiền nhiệt, trong Hung tức nghẽn (78)
  • có tại Biểu Lý : trong Tâm kết đau, mình nóng không lui (79)
  • có tại Tấu : Tâm phiền, bụng đầy, nằm dậy không yên (80)
    Tất cả dùng Chi Tử Xị thang để trị. Bản Hàn truyền Kinh, Bản Nhiệt chuyển Hệ cũng đều có thể “Chi Tử Xị thang” gia giảm mà dùng.
    Sau cùng nhắc nhở một điều “Chi Tử thang không thể uống” bởi vì Tiểu Trường hư Hàn (82), có thể bảo thật là chu đáo viên mãn !
    52
    BÀI THỨ 13
    TÚC THÁI DƯƠNG KINH
    Đây là Hàn truyền Hàn Kinh, không nên đọc qua loa.
    Phát hãn, hạn ra không giải là sao ? Đó là lý do chúng ta cũng muốn hỏi.
    Hạn ra rồi không giải, vẫn phát nhiệt, dưới Tâm hồi hộp là Âm Dương trong ngoài làm phản nhau.
    Đầu choáng váng mình máy động : là Âm Dương trên dưới ràng buộc nhau
    Run rẩy muốn ngã xuống đất : là Bản Hàn thực mà Bản Nhiệt không có đất dung thân. Dùng Chân Võ thang để trấn nạp (83)
    Người bệnh đã hạn rồi lại cho phát hãn nữa, hoảng hốt tâm loạn là Bản Hàn ở dưới xâm lấn lên trên.
    Tiểu tiện rồi âm vật đau buốt là Bản Nhiệt ở trên mà hãm xuống dưới; dùng Võ Dư Lương Hoàn để ngăn chặn. Ai bảo phương này thất truyền ? (89)
    Túc Thái Dương là Kinh hành Thủy, một khi mất trách nhiệm đó thì “4 mặt” bị hại :
    Lâm gia (chứng Lâm) của Túc Dương Kinh (85)
    Sang gia (chứng ghẻ) của Túc Âm Kinh (86)
    Nục gia (chứng đổ máu mũi) của Thủ Dương Kinh (87)
    Vong huyết gia (chứng bị mất máu) của Thủ Âm Kinh (88)
    đều thọ phải Thủy Khí mà sinh ra.
    Thủy Khí hữu dư thì bệnh, Thủy Khí bất túc cũng bệnh.
    .
    53
    BÀI THỨ 14
    THỦ THÁI DƯƠNG KINH
    Đa số đều biết : Thái Dương Hàn Khí truyền Kinh, với Thiếu Âm Nhiệt Khí hệ thuộc, không Mạch Chứng nào không như vậy, không bộ phận nào không mắc phải.
    Nào ai biết : Hàn Khí truyền Kinh sinh bệnh, Hàn Khí truyền Kinh mà bệnh lành. Nhiệt Khí hệ thuộc sinh bệnh, Nhiệt Khí hệ thuộc mà bệnh lành ư ?
    Hãy xem ở Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh :
  • Trong Vỵ thủy kiệt, nói xàm : là Nhiệt vậy.
  • hơn 10 ngày run rẩy tự hạ lợi rồi bệnh giải : chẳng phải được Hàn truyền Kinh mà bệnh giải đó ư ? (112)
  • Tay chân vật vã quấy động, men áo sờ giường là Nhiệt vậy.
  • tiểu tiện lợi,người bệnh có thể trị : chẳng phải được Hàn truyền Kinh mà có thể trị đó ư ? (113)
  • Tiểu tiện tự lợi, không thể phát hoàng là Hàn vậy
  • đến 7 – 8 ngày hốt nhiên phiền, hạ lợi hơn 10 ngày ắt tự dứt : chẳng phải được Nhiệt Khí mà tự dứt đó ư ? (227)
  • Mạch Khẩn tự hạ lợi là Hàn vậy
  • hốt nhiên mạch Vi, tay chân ấm là muốn giải : chẳng phải được Nhiệt mà muốn giải đó ư ? (286)
    Bởi vì Nhiệt được Hàn thì Nhiệt trừ. Hàn được Nhiệt thì Hàn giải. Hàn Nhiệt làm bệnh, Hàn Nhiệt cũng làm khỏi bệnh. Pháp Lý Âm Dương là như vậy ; không riêng gì Thủ Thái Dương Kinh.
    .
    54
    BÀI THỨ 15
    BIỆN VỀ CỨU NGHỊCH
    *Phàm Dương tại Ngoại, Âm tại Nội; Hàn tại Ngoại, Nhiệt tại Nội, trái lại là Nghịch :
  • Thái Dương Bệnh dùng Hỏa bức hiếp nó(để hạn): dùng Hỏa để trị Dương thì không thể được.
  • Vong Dương : là Dương ở Ngoài mà “Vong” vào Trong vậy.
  • tất sinh Kinh cuồng, nằm dậy không yên : là Hàn ở Ngoài mà vào bên Trong. Như thế là nghịch lắm vậy. Phải cứu thế nào ?
  • Quế Chi khứ Bạch Thược gia Thục Tất Long Cốt Mẫu Lệ cứu nghịch thang làm chủ :
    Quế Chi bảo tồn Dương Khí khiến cho yên ở ngoài
    Khứ Bạch Thược để phòng Hàn Khí
    Gia Mẫu Lệ để ức chế Nhiệt Khí
    Long Cốt để củng cố Dương trên, Âm dưới
    Thục Tất : ngăn chặn nội Nhiệt, ngoại Hàn.
    Mọi mặt chu đáo, các Phương Thang trong Thương Hàn đều như vậy cả (114)
    *Lại có khi Thiếu Âm Nhiệt Khí ở trong mà trái lại làm bệnh bên ngoài, chẳng phải trái nghịch là gì ?
    Thương Hàn vốn ở ngoài, nay Thiếu Âm Nhiệt Khí ở ngoài gọi là “hình dạng làm như Thương Hàn ” đồng nghĩa với Thiếu Âm “mạo” làm Thái Dương gọi là “Mạo gia”
  • Thiếu Âm ra ngoài thì mạch Huyền Khẩn bèn không Huyền Khẩn mà Nhược là vì cớ “hình dạng làm như”
  • mạch Nhược tất khát : do bệnh từ Lý đến Cách
  • bị Hỏa tất nói xàm : là bệnh từ Cách đến Tấu
  • mạch Nhược thì phát Nhiệt : là bệnh từ Tấu đến Cơ
  • mạch Phù thì giải đi hạn ra rồi lành : là bệnh từ Cơ đến Bì (115)
    55
    Thiếu Âm Nhiệt Khí do đường này mà ra, Thái Dương Hàn Khí cũng do đường này mà vào. Người trị bệnh nên tìm ở đó.
    BÀI THỨ 16
    BIỆN VỀ HỎA CHỨNG
    Hỏa chứng thấy ở Bản luận rất nhiều :
  • Bệnh ở Tấu gọi là Bị Hỏa
  • Với Dương Kinh làm Bệnh gọi là Hỏa tà
  • Với Âm Kinh làm Bệnh gọi là Hỏa nghịch
  • Với Hàn làm thù nghịch gọi là Hỏa Kiếp
  • Với Nhiệt đốt nhau gọi là Hỏa Huân
    Thiếu Dương Hỏa Khí chủ Tấu có lý do như thế
    Ở Thái Dương thiên trung, chương thứ 10, tiết thứ 2 – nói rằng : “Tà Phong bị Hỏa Nhiệt” là Thiếu Dương Hỏa Khí với Thiếu Âm Nhiệt Khí nói chung vậy (113)
    Bởi vì Hỏa thuộc Dương loại, Nhiệt thuộc Âm loại
    Thái Dương Hàn Khí vào Tấu :
    Tại Bán Biểu Thiếu Dương Hỏa Khí đương đầu
    Tại Bán Lý Thiếu Âm Nhiệt Khí đương đầu
    Nhưng đều nói là Hỏa, đó là thâm ý vậy. Thiếu Dương là Tướng Hỏa, Thiếu Âm là Quân Hỏa, Hỏa với Hỏa thì đồng mà Quân Tướng thì có khác vậy.
    Cho nên tại Tấu Thiếu Âm Nhiệt Khí thạnh thì hợp với Tướng Hỏa làm “xém xương hại gân “, (118)
    Thiếu Âm Quân Hỏa suy thì trăm bệnh dấy khởi.
    Quan trọng lắm ! Hỏa chứng không thể không biện rõ ràng.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading