QUYỂN NĂM
BÀI THỨ 1
TÚC THÁI DƯƠNG LẠC
- Hàn nhập Bàng Quang Lạc sinh chứng thổ, phương thư (các sách thuốc) ít khi luận đến.
- Trong bụng đói,miệng không ăn được:Hàn vào Dương Hàn Dương Nhiệt Lạc mà sinh thổ.
- Không thích cháo nhừ,muốn ăn đồ lạnh: Hàn vào Âm Hàn Âm Nhiệt Lạc mà sinh thổ (123)
- Nôn nao muốn thổ : Bàng Quang Lạc thọ Dương Hàn chuyển nhập Âm Nhiệt (126)
- Tự cực thổ hạ : Bàng Quang Lạc thọ Dương Hàn chuyển nhập Âm Hàn (126)
*Nắm được phép nhận bệnh này thì biết được phép trị. - Nhiệt nhập Bàng Quang Lạc sinh ứ huyết, người bệnh phát cuồng :
- được Dương Hàn thì Hạ huyết rồi lành.
- được Âm Nhiệt thì bụng dưới rắn đầy, ứ huyết tại Lý, Để Đáng thang làm chủ (127)
- Ở mặt khác : Hàn nhập Bàng Quang Lạc : bụng dưới Kết gấp, Đào Nhân Thừa Khí thang làm chủ (108)
*Một chứng là Nhiệt Kết, một chứng là Hàn Kết, có thể đầy đủ để khảo xét. - Bàng Quang là Kinh hành Thủy – Kinh không lợi thì sinh bệnh Thủy :
- Thủy Kết Xung Nhâm Kinh thì “khổ Lý cấp” (bên trong bức bách khó chịu) (130)
- Thủy Kết Đốc Kinh thì dưới Tâm hồi hộp (130)
- Thủy không lợi thì sinh bệnh Huyết :
57 - Huyết Kết Xung Nhâm Kinh người bệnh như cuồng, dùng Để Đáng thang có thể được (128)
- Huyết Kết Đốc Kinh không dùng Để Đáng hoàn thì không xong (129)
Huyết Kết ở Xung Nhâm dễ chữa, Huyết Kết ở Đốc Kinh khó chữa.
*Một chứng là Huyết Kết, một chứng là Thủy Kết, có thể loại suy mà biết được.
BÀI THỨ 2
CHỨNG KẾT HUNG (1)
Chứng Kết hung là chứng hiểm. Sao là hiểm ? Vì ở Tấu Bán Lý vậy. Tấu Bán Lý với Phủ Tạng tương liên, là cửa ải của sự sống chết vậy.
Trong chứng Sài Hồ có Đại Sài Hồ thang, Tiểu Sài Hồ gia Mang Tiêu thang, Sài Hồ Long Cốt Mẫu Lệ thang dùng Huyền Minh Phấn, Đại Hoàng đều là phương dự bị giải Kết Hung. Đào Nhân Thừa Khí thang, Để Đáng thang hoàn là sớm dự liệu cách trị nếu có chứng Thủy Kết hay Huyết Kết.
Chúng ta đối với chỗ giao giới của Sài Hồ Chứng và Kết Hung Chứng phải phân hiểu như thế nào ?
Mạch Phù Khẩn là Sài Hồ Chứng – Mạch Trầm Khẩn là Kết Hung Chứng
Còn có Chứng Kết Hung “mạch Thốn Phù, Quan Trầm” (131) hoặc “Thốn Phù, Quan Trầm, Tiểu Khẩn ” (132)
Biện biệt chỗ giao giới giữa Phù Trầm, nếu không tế Tâm quan sát thì không thể được. Để đến Phù Đại thì trong Vỵ trống rỗng, hư nhược quá độ không phép gì dám hạ (135)
Vậy thì, Mạch Phù lúc làm bệnh tại Bán Biểu, với Mạch Phù lúc làm bệnh ở Bán Lý.Đồng là mạch Phù mà sống chết khác nhau vậy.
.
58
BÀI THỨ 3
CHỨNG KẾT HUNG (2)
Mạch với Chứng không thể lìa nhau : - Thốn Phù là Thiếu Âm Nhiệt Khí hướng ra ngoài
- Quan Trầm là Thái Dương Hàn Khí nhập vào trong
- Nội Ngoại hợp Kết tại Hung ; đè tay vào thì đau : là Kết tại Thượng Tiêu.
- Nếu Thốn Phù Quan Trầm Tiểu Khẩn là Thái Dương Hàn Khí vào sâu Kết tại Trung Tiêu.
- Ăn uống như thường là bệnh không ở Thượng Tiêu, thường thường hạ lợi là bệnh đến Hạ Tiêu.
- Trên lưỡi trắng là Hàn ; rêu lưỡi trơn là trong Hàn có Nhiệt. Hàn Nhiệt Kết ở Trung (giữa) mà hiện thấy ở Thượng (trên) là khó trị (132)
- Kết ở Hạ Tiêu không có Dương Chứng là Chứng Kết thuộc Âm phần Hàn Nhiệt :
- Không có Hàn Nhiệt vãng lai, trái lại là Chứng Mẫu Ngược.
- Người bệnh yên tĩnh, trái lại thì là “vật vã không có lúc tạm yên”
- Trên lưỡi có rêu trơn là Hàn Nhiệt ở Hạ Tiêu rất sâu không thể công phạt (133)
*Lưỡi có rêu (bợn) trắng, rêu trơn là Chứng Âm Kết
Rêu vàng, rêu đen là Chứng Dương Kết; đó là phép xem lưỡi.
BÀI THỨ 4
CHỨNG KẾT HUNG (3)
Sau khi chứng Sài Hồ đã dứt, trước khi chứng Kết Hung hiện ra, việc làm nên bệnh với phép trị đã nói ở bài thứ 2.
59
Đại để “phải nên hạ nhưng không nên hạ sớm”. Nên xét cẩn thận : - Bệnh ở Dương phần Hàn Nhiệt mà Hạ sớm làm thành Kết Hung.
- Bệnh ở Âm phần Hàn Nhiệt mà Hạ sớm thì sinh Bỉ (134)
Hạ sớm đã không lợi ở Hung phần (ngực), lại cũng không lợi ở Bối phần (lưng) - Dương bệnh làm Cương Kỉnh, Âm bệnh làm Nhu Kỉnh
- Đại Hãm Hung Hoàn trị ở Bối phần, Đại Hãm Hung Thang trị ở Hung phần
Sự dùng thuốc mãnh liệt của Thang,Hoàn như thế: có thể không cần hiểu biết cái nguyên ủy của chứng này ư ? - Phù Động Sác là mạch của nó
- Đầu đau, phát sốt, hơi ra mồ hôi trộm mà trái lại sợ lạnh là chứng của nó.
- Động Sác biến ra Mạch Trì là do Hạ sớm mà biến ra.
- Trong Cách đè vào đau, hơi thở vắn, phiền táo, dương tà hãm vào thì sinh chứng Kết Hung tại Trung phần.
- Chỉ đầu đổ mồ hôi từ cổ trở lên là Kết tại Thượng phần.
- Tiểu tiện không lợi, mình tất phát vàng là Kết tại Hạ phần.
Đó là một lý do của Mach Chứng Kết Hung theo con đường Thái Dương mà đến (136) - Mạch Trầm mà Khẩn, án tay vào mạch thấy rắn tựa đá.
Đó lại là một lý do của Mạch Chứng Kết Hung theo con đường Thiếu Âm mà đến (137) - Nhiệt Kết tại Lý, vãng lai hàn nhiệt : là Kết ở trong mà ra ngoài.
Thủy Kết tại Hung Hiếp, chỉ đầu ra mồ hôi là Kết ở dưới mà lên trên
Đây lại thêm một lý do theo con đường Thái Dương Thiếu Âm phân kết mà đến(138) - Không đại tiện 5 – 6 ngày, trên lưỡi ráo mà khát, hơi có triều nhiệt (sốt cơn) từ dưới Tâm đến bụng dưới rắn đầy mà đau không thể đụng vào.
Đây lại thêm một lý do theo con đường Thái Dương Thiếu Âm hợp kết mà đến (139) - Lại có khi :
60 - 3 phần Nhiệt 1 phần Hàn mạch Phù Hoạt là chứng của Tiểu Kết Hung Thang (140)
- 3 phần Hàn 1 phần Nhiệt mạch Vi Nhược hoặc là Kết hoặc là Hiệp Nhiệt lợi, tùy chứng mà trị (141).
BÀI THỨ 5
CHỨNG KẾT HUNG (4)
Do Thái Dương Hàn Khí, Thiếu Âm Nhiệt Khí thành Chứng Kết Hung, theo trên hệ thống mà xem thì như thế.
Do Tấu Bán Lý bộ, các Âm Dương Kinh Lạc có khác biệt, theo chỗ phân bố mà xem thì không như thế.
Sở dĩ như vậy là vì cần phải xét sự biến chuyển của bệnh.
Thế nào là các Lạc trên Bán Lý Kết Hung ? - Mạch Xúc là Thái Dương hướng ra ngoài không làm thành Kết Hung.
- Mạch Phù là Thiếu Âm hướng ra ngoài làm Kết Hung.
- Mạch Khẩn ắt yết đau : Âm Nhiệt Lạc thọ Hàn Kết.
- Mạch Huyền ắt 2 bên sườn câu cấp : Âm Hàn Lạc thọ Nhiệt Kết.
- Mạch Tế Sác đầu đau chưa dứt : Dương Nhiệt Lạc thọ Hàn Kết.
- Mạch Trầm Khẩn ắt muốn ụa : Dương Hàn Lạc thọ Nhiệt Kết.
- Mạch Trầm Hoạt là hiệp Nhiệt Lợi : các Hàn Lạc thọ Nhiệt Kết.
- Mạch Phù Hoạt ắt hạ huyết : các Nhiệt Lạc thọ Hàn Kết (142).
Học giả cần phải tỉ mỉ phân biệt thì mới có thể nói đến Mạch Lý vậy.
.
61
BÀI THỨ 6
CHỨNG KẾT HUNG (5)
Thế nào là các Khí trên Bán Lý Kết Hung ? - Bệnh tại Bán Biểu trở ra nên phát hãn ; nếu dùng nước lạnh để hạn thì từ Bán Lý trở vào Nhiệt Khí không có chỗ ra, tất nhiên Hàn Nhiệt Kết nhau trên Nhục phần nổi lấm tấm mụn nhỏ gọi là Ban Chẩn.
- Muốn uống nước trái lại không khát là Dương Hàn Dương Nhiệt Khí Kết :
- Thiên về Dương Nhiệt Kết dùng Văn Cáp Tán (143)
- Thiên về Dương Hàn Kết dùng Ngũ Linh Tán (143)
- Kết Hung không có Nhiệt Chứng là Âm Hàn Âm Nhiệt Khí Kết :
Thiên về Âm Nhiệt dùng Tam Vật Tiểu Hãm Hung thang (143)
Thiên về Âm Hàn dùng Bạch Tán cũng được; mình mát da nổi mụn muốn đắp chăn mặc áo là Nhiệt lui vào trong, tại Cách dùng Bản phương, tại Đái dùng Bạch Thược (143)
Thế nào là các Kinh trên Bán Lý Kết Hung ? - Đầu gáy cứng đau hoặc xây xẩm choáng váng là Âm Dương Kinh ở Lưng (Kết)
- Giống như Kết Hung, dưới Tâm Bỉ Ngạnh là Âm Dương Kinh ở Ngực (Kết)
- Châm huyệt Đại Chùy để tả các Dương Kinh ở Lưng.
- Châm các huyệt Phế Du, Can Du để tả các Âm KInh ở Lưng.
- Phát hạn thì nói xàm, mạch Huyền : các Dương Kinh ở Ngực.
- 5 – 6 ngày nói xàm không dứt : các Âm Kinh ở Ngực.
- Châm huyệt Kỳ Môn : để tả chỗ hội trước Ngực của các Âm Dương Kinh (144)
.
62
BÀI THỨ 7
THỦ THIẾU DƯƠNG (1)
Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu là Kinh rất phức tạp trong 12 Kinh. Tất cả các Phủ Tạng đều nằm trong Liên võng của Tam Tiêu.
Từ Cách Mô trở xuống, giữa các Phủ Tạng đều có vài lớp Mô võng chằng chịt buộc quanh các Phủ Tạng để phân Bộ vị, và che chở huyết quản các nơi đi từ Tạng này đến Tạng kia để thông hành khí huyết.
Ở chỗ này Trọng Cảnh có bảo rằng : Chứng của đàn bà, Kinh thủy vừa đến, vừa dứt, nhiệt nhập huyết thất, có 3 Chứng nhưng mà mỗi Chứng đều có chỉ rõ : - Thọ Thái Dương Hàn Khí để nhập huyết thất, huyết đó tất Kết, Hàn Nhiệt lúc nghỉ lúc phát, dùng Tiểu Sài Hồ thang làm chủ (146)
- Thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí để nhập huyết thất, nói xàm như trạng thấy quỷ, Trọng Cảnh nghiêm dặn rằng chớ phạm Vỵ Khí (147)
- Lại có cùng thọ Thái Dương Thiếu Âm Hàn Nhiệt để nhập huyết thất, Ngực sườn đầy, như trạng Kết Hung, nói xàm, châm huyệt Kỳ Môn, tùy theo chứng thực mà tả đi (145)
Còn như Bệnh do Tam Tiêu mà xuất ra, cũng không ngoài điều này : - Phát nhiệt hơi sợ lạnh, khớp xương tay chân đau nhức, dùng Sài Hồ Quế Chi thang, cho nó theo đường Thái Dương Kinh mà ra (148)
- Tiểu tiện không lợi, khát nước, chỉ đầu ra mồ hôi, dùng Sài Quế Càn Cương thang, cho nó theo đường Thiếu Âm Kinh mà ra (149)
- Đầu ra mồ hôi, hơi sợ lạnh, tay chân lạnh là chứng ở Biểu. Miệng không muốn ăn, đại tiện rắn, mạch Tế là chứng ở Lý. Có Biểu lại có Lý, cùng cho nó theo đường Thái Dương Thiếu Âm mà ra vậy. Tiểu Sài Hồ thang để giải Thái Dương, đi ngoài được để giải Thiếu Âm (150)
.
63
BÀI THỨ 8
THỦ THIẾU DƯƠNG (2)
Nội Kinh nói : “Thượng Tiêu như Vụ (sương mù), Trung Tiêu như Âu (bọt nước), Hạ Tiêu như Độc (mương rạch), không có hình thể nhất định, cho nên bảo rằng Tam Tiêu có danh mà không hình.
Lại nói : “Tam Tiêu là Quan quyết Độc (khơi thông ngòi nước) thủy đạo (đường nước) do đấy mà ra “ ; là có công năng xác thật, không thể bảo là vô hình. Thực ra Khí của Tam Tiêu chủ tại Tấu tại Cách : - tại Tấu chuyển Âm tà ra ngoài, dưới Tâm Bỉ, ghét lạnh ra mồ hôi, dùng Phụ Tử Tả Tâm thang làm chủ (157)
- tại Tấu chuyển Dương tà vào trong, dưới Tâm Bỉ, miệng ráo khát, tiểu tiện không lợi, dùng Ngũ Linh tán làm chủ (158)
- tại Cách chuyển Âm Khí lên trên ợ khan mùi thức ăn hôi; chuyển Dương Khí xuống dưới trong bụng ruột kêu sấm, hạ lợi dùng Sinh Cương Tả Tâm thang để phân giải trên dưới (159)
- tại Cách Âm Dương cùng dồn xuống dưới thì Thượng Tiêu hư, hạ lợi ngày vài mươi lần, ụa khan, Tâm phiền, dùng Cam Thảo Tả Tâm thang giải ở trên (160)
- tại Cách Âm Dương cùng dồn lên trên thì Hạ Tiêu hư, hạ lợi không dứt, các thuốc thảy đều không nghiêm, dùng Xích Thạch Chỉ Võ Dư Lương thang là phép “tắc nhân tắc dụng” ; lại dùng cách lợi tiểu tiện là “thông nhân thông dụng” vậy (161).
Cho đến do Tam Tiêu vào các Kỳ Kinh : - dưới Hiếp đau, xung lên yết hầu không thở được là vào tại Xung Kinh.
- huyền mạo (xây xẩm choáng váng), kinh mạch động giật là vào tại Đốc Kinh.
- lâu rồi thành Chứng Nuy là vào tại Nhâm Kinh (162).
.
64
BÀI THỨ 9
THỦ THIẾU DƯƠNG (3)
Nan Kinh bảo rằng Tam Tiêu với Bào Lạc cùng nhau làm Biểu Lý. Hai Kinh này làm bệnh mỗi mỗi đều có liên quan với Tâm, Thận.
Bào Lạc là quan sứ Thần của Tâm, Tam Tiêu có gốc buộc ở Thận cho nên :
Bệnh ở Tâm Thận tất do Tâm Bào Tam Tiêu Kinh bị Thực.
Bệnh ở Tâm Bào, Tam Tiêu ắt do Tâm Thận bị Hư.
Thương Hàn nói về Nhiệt nhập huyết thất có 3 Chứng, Tạp Bệnh nói về Nhiệt nhập huyết thất có 4 Chứng, có thể suy tưởng thấy được. Huống chi, - Bào Kinh bệnh Lịch Tiết (sưng đau các khớp xương) ắt do Tiêu Thủy (nước ở Tam Tiêu) đem lại.
- Tiêu Kinh bệnh Bỉ ngạnh (đầy có cục cứng) ắt do Bào Hỏa (lửa ở Tâm Bào) dẫn đến.
Vậy thì Bào Kinh giống tựa Tạng mà không phải Tạng, Tiêu Kinh giống tựa Phủ mà không phải Phủ, cùng nhau làm Biểu Lý, bao bọc tất cả Phủ Tạng.
Từ đây, học giả xẻ chia các Khích (lổ hổng), soi dẫn các “Khiếu”, phân biệt các Kinh Lạc, với nhà giải phẩu có khác gì ?
BÀI THỨ 10
TÚC THIẾU DƯƠNG
Đởm Kinh đảm trách chỗ giao giới của Bán Âm Bán Dương : - Bệnh tại Dương phần làm Kết Hung ấn tay vào cứng đau, dùng Đại Hãm Hung thang làm chủ (151).
- Bệnh tại Âm phần đầy mà không đau, đấy là Bỉ, dùng Bán Hạ Tả Tâm thang làm chủ (151).
65 - Hạ lợi không dứt, nước cháo không xuống được là thọ Âm Dương hợp bệnh mà thiên về Bán Âm, chưa ra phương (152).
- ra mồ hôi, phát có lúc,dưới Tâm Bỉ rắn đầy dẫn đến dưới hiếp đau, thở vắn không ghét lạnh là thọ Âm Dương hợp bệnh mà thiên về Bán Dương, dùng Thập Táo thang làm chủ (154).
- dưới Tâm Bỉ, sắc mặt xanh vàng, da thịt máy động là khó trị, sắc hơi vàng, tay chân ấm dễ khỏi, đấy là Âm Dương tại Đởm Kinh đều hư (155).
- Bệnh hiệp Hàn mạch Khẩn nhập Lý theo phép trị Đởm Hàn, dùng Quế Chi Nhân Sâm thang (153).
- Bệnh hiệp Nhiệt mạch Phù Hoạt tại trên Bộ Quan theo phép trị Đởm Nhiệt, dùng Đại Hoàng Hoàng Liên Tả Tâm thang làm chủ (156).
Đến như : - thọ phải Âm Nhiệt mà ợ hơi không dứt dùng Toàn Phúc Hoa Đại Giả Thạch thang làm chủ(163)
- thọ phải Dương Nhiệt Hạn ra mà Suyễn, dùng Ma Hạnh Cam Thạch thang làm chủ (164).
- thọ phải Âm Hàn mà Hạ lợi không dứt, Biểu Lý không giải dùng Quế Chi Nhân Sâm thang làm chủ (165).
- thọ phải Dương Hàn ở trên Cách Khí xung lên yết hầu không thở được, dùng Qua Đế tán cho thổ (168).
Cho đến Đởm Kinh bị Bỉ nhập vào 3 Kỳ Kinh thì là Chứng Chết vậy (169).
BÀI THỨ 11
CÁCH MÔ BỘ
Thương Hàn Luận đề cập đến Cách rất nhiều. - Dương Khí Vi, Cách Khí hư mạch bèn Sác – lại Động Sác biến ra Trì – trong Cách đè tay đau, đấy là mạch chứng đề cập đến Cách vậy.
66 - Bệnh tại Cách thượng tất thổ, bệnh tại Cách hạ tất lợi, đấy là Bộ Vị Thang Phương đề cập đến Cách.
- Trong Vỵ hư trống, Khách Khí động Cách, lại Cách thượng có Hàn ẩm, đấy là tại Cách lấy Vỵ Khí làm chủ.
- Phiền Táo muốn chết, là Hàn Khí phạm Cách.
- Phát tác muốn chết rồi lại dứt, là Tà Khí phạm Cách.
Cách phần quan hệ không phải ít, mà qua được trên dưới của Cách phần thì bệnh dứt, có thể thấy được.
Sở dĩ như thế là vì 12 Kinh Lạc từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới (đi Tung) đều không thể ngoài Cách mà riêng có con đường tắt khác. Cùng với 12 Kinh Lạc từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong (đi Hoành), sự trọng yếu của nó đồng như nhau.
Lại nữa, tất cả Kinh Lạc đều do ở dưới Đái phần mà lên trên, sự trọng yếu của nó không khác gì ở Cách ở Tấu.
Vì sao từ trước đến nay, các nhà chú giải Thương Hàn chưa từng một lần thảo luận đến 3 bộ phận này ? Bộ phận của bệnh còn chưa biết, nguyên nhân của bệnh theo đâu mà trị ? Cho nên cuối cùng sách Thương Hàn bế tắc là phải !!
BÀI THỨ 12
NHIỆT BỆNH DO THƯƠNG HÀN Ở CÁCH PHẦN
Người đời bảo rằng : “ Sách Thương Hàn trị Hàn “. Sao lại thô sơ đến thế ?
Phàm Nhiệt Bệnh đều là Thương Hàn loại. Nội Kinh có nói rõ. Trọng Cảnh, tổ thuật ở Thái Dương, thiên hạ, chương thứ 21, ngay ở đầu chương nêu rõ Thương Hàn 3 lần, liên tiếp 3 lần dùng Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang. Sách Thương Hàn rõ ràng cũng trị Nhiệt Bệnh vậy.
Lấy Hàn đặt tên sách, vì Nhiệt Bệnh do Hàn đưa đến.
Xem nơi sách này nói rằng :
67 - Thương Hàn 7 – 8 ngày không giải, Biểu Lý đều Nhiệt, khát tợn, miệng khô ráo, muốn uống vài thùng nước : là các Lạc tại Cách Nhiệt tột độ. Nhưng mà, thường thường ghét gió thì có thể biết là do thọ Bản Hàn, dùng Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ (170).
- Thương Hàn phát nhiệt, miệng ráo khát, Tâm phiền là các Kinh tại Cách nóng nhiệt tột độ, nhưng mà ở lưng ghét lạnh thì biết là thọ phải Bản Hàn, dùng Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ (171).
- Thương Hàn mạch Phù phát nhiệt, không mồ hôi, Biểu không giải là các Khí tại Cách thọ Bản Hàn không thể dùng Bạch Hổ thang ; muốn uống nước không có Biểu chứng là Thương Hàn chuyển làm Nhiệt Bệnh, thì tất nhiên phải dùng Bạch Hổ gia Sâm thang vậy (172).
BÀI THỨ 13
CÁCH PHẦN THƯƠNG HÀN LOẠI (1)
Bốn chữ “Thái Dương Hàn Khí ” bao quát tất cả không thiếu không thừa. - Gọi là Ôn Bệnh Phong Ôn, chẳng gì khác, đó là Thái Dương Dương Khí thái quá mà thôi !
- Gọi là Hàn Thấp Phong Thấp, há lại khác, chẳng qua Thái Dương Hàn Khí rất nhiều mà thôi !
Sao lại nói như vậy ? - Thái Dương Kinh Khí có sai biệt, cho nên Trúng Phong Thương Hàn có khác nhau :
.Thái Dương Kinh bệnh là Trúng Phong ; Thái Dương Khí bệnh là Thương Hàn. - Kinh Khí không phải một, không phải hai ; Phong Hàn cũng không phải một, không phải hai ; vận hành ở bộ vị nơi thân người có khác nhau :
. Bì Phu thuộc Hàn phần
. Tấu Lý thuộc Nhiệt phần
. Cơ Nhục thuộc Phong phần
Như vậy cho nên Mạch Chứng có khác nhau, phép trị có khác nhau. Người khéo học nên dung hội để quán thông :
68 - Dựa trên Thái Dương Kinh Khí để nhận ra Trúng Phong Thương Hàn.
- Dựa trên Trúng Phong Thương Hàn để nhận ra Ôn Bệnh Phong Ôn Hàn Thấp Phong Thấp.
Một đường mà trăm nẽo, khác dòng nhưng cùng nguồn. Tóm lại, không ngoài Dương Khí có nhiều ít, Hàn Khí có nhiều ít, chuyển biến phát sinh ra mà thôi.
BÀI THỨ 14
CÁCH PHẦN THƯƠNG HÀN LOẠI (2) - Thế nào là Ôn Bệnh Phong Ôn ? há không nói đến ư ? là Dương Khí ở Thái Dương thái quá rư ! ?
- Thế nào là Hàn Thấp Phong Thấp ? há không nói đến ư ? Là Hàn Khí ở Thái Dương rất nhiều rư ! ?
- Thế nào là Mạch Chứng không đồng, phép trị không đồng, há không nói đến ư ? là Kinh Khí làm bệnh không là một, bộ vị mắc bệnh có khác nhau rư ! ?
Phàm Nhiệt Bệnh tất thọ phải Hàn truyền : - Thương Hàn truyền Âm Nhiệt Kinh, dưới Tâm rắn, gáy cổ cứng mà xây xẩm là Phong Ôn ở Cách phần ; châm Đại Chùy, Phế Du, Can Du với Kỳ Môn (173).
- Thương Hàn truyền Dương Nhiệt Kinh, tự hạ lợi là Ôn Bệnh ở Cách phần, Hoàng Cầm thang làm chủ. Nếu có ụa dùng Hoàng Cầm Cương Bán thang, là Ôn Bệnh muốn chuyển dần làm Thương Hàn (174).
- Thương Hàn trong Hung có Nhiệt, trong Vỵ có tà Khí, trong bụng đau, muốn ụa, dùng Hoàng Liên thang làm chủ, là trong Nhiệt có Hàn, Ôn Bệnh muốn chuyển hết sang làm Thương Hàn (175).
- Thương Hàn 8 – 9 ngày, Phong Thấp chọi nhau, mình mẩy đau nhức, không day trở được, mạch Phù Hư mà Sác, dùng Quế Chi Phụ Tử thang làm chủ, là Thương Hàn ở Cách phần chuyển làm Hàn Thấp.
69 - Đại tiện rắn, tiểu tiện tự lợi, dùng khử Quế Chi gia Bạch Truật thang, là Hàn Thấp ở Cách phần chuyển làm Phong Thấp (176).
- Phong Thấp chọi nhau, xương khớp phiền nhức, đau rút không co duỗi được, mồ hôi ra, thở ngắn, ghét gió không muốn bỏ áo, dùng Cam Thảo Phụ Tử thang làm chủ, là Phong Thấp ở Cách phần chuyển làm Thương Hàn (177).
BÀI THỨ 15
CÁCH PHẦN THƯƠNG HÀN LOẠI (3)
Chúng ta lấy bàn tính làm con toán : - Thái Dương Thương Hàn truyền Âm Nhiệt Kinh làm Phong Ôn, truyền Dương Nhiệt Kinh làm Ôn Bệnh, Ôn Bệnh chuyển làm Thương Hàn, là bởi Dương Nhiệt không lìa Dương Hàn vậy.
- Thái Dương Thương Hàn truyền Âm Hàn Kinh làm Hàn Thấp, truyền Âm Nhiệt Kinh làm Phong Thấp, Phong Thấp chuyển làm Thương Hàn, là bởi Âm Nhiệt không lìa Dương Hàn vậy.
Như vậy là Âm Dương lưu chuyển dù Kinh Khí nào, dù Bộ phận nào, thảy đều không ngoài phạm vi của Thái Dương Hàn Khí. Nhưng mà tại Tấu tại Cách, bệnh Chứng rất là gian hiểm; đấy là điều sở dĩ phải đọc kỹ Thương Hàn, mà chứng ở Tấu Cách lại càng không thể không đọc kỹ vậy.
BÀI THỨ 16
THƯƠNG HÀN Ở LẠC MẠCH THUỘC CÁCH PHẦN
Đọc thiên Thái Dương nơi cuối có nói : “Thương Hàn mạch Phù Hoạt, đó là Biểu có Nhiệt Lý có Hàn, dùng Bạch Hổ thang làm chủ ”, chưa từng không ngờ vực là điều này không ổn. Lại xem khắp các nhà chú giải thấy hết thảy ai ai cũng vậy.
70
Đến khi đọc kỹ toàn luận xét từng ngành thớ thỉ chung rồi quán thông, mới biết loại văn như thế tác giả dùng rất nhiều : - Thái Dương thiên hạ, chương 10 (21), tiết 1 (170) nói : lúc lúc ghét gió dùng Bạch Hổ gia Sâm thang ; tiết 2 (171) nói : lưng ghét lạnh dùng Bạch Hổ gia Sâm thang.
- Dương Minh thiên, chương 6 (25), tiết 7 (220) nói : bụng đầy, són cứt, tay chân quyết lãnh dùng Bạch Hổ thang.
- Khuyết Âm thiên, chương 4 (43), tiết 2 (349) nói : mạch Hoạt mà Quyết dùng Bạch Hổ thang.
- Tạp Bệnh Luận chương Trúng Yết (Kỉnh – Thấp – Yết), tiết [43] nói : mình nặng, ghét lạnh dùng Bạch Hổ gia Sâm thang.
Phàm dùng Bạch Hổ thang tất có 1,2 Hàn chứng ở trong, thường thường thấy luôn, không phải chỉ thấy một lần : - Nội Kinh nói : “Thương phải Hàn thì sinh Nhiệt “ cho nên trước nêu : “Thương Hàn mạch Phù Hoạt” là mạch Nhiệt của Thương Hàn vậy. Trọng Cảnh giải rằng : đó là Biểu có Nhiệt Lý có Hàn, dùng Bạch Hổ thang làm chủ, là theo “ bệnh nguyên ” do Hàn sinh ra mà nói vậy (178).
- Hoặc bảo rằng chỉ nói Mạch không nói Chứng sao mà chẳng ngờ ?
Đáp rằng : Mạch là hiện tượng trước tiên của Khí Huyết, Chứng dựa vào Mạch mà phát hiện, có chứng ấy tất có mạch ấy. Luận điều này chẳng phải chỉ có một, như Mạch chỉ Phù dùng Ma Hoàng thang (37), mạch chỉ Phù không có chứng gì khác dùng Ma Hoàng thang (232). Không có chứng, nào có trở ngại gì ?
Vậy thì, Nhiệt Bệnh tất thọ phải Hàn truyền Kinh, cũng như thế Hàn Bệnh tất thọ phải Nhiệt chuyển hệ, dùng Tứ Nghịch thang để trị Biểu Nhiệt sắc mặt đỏ trái lại không ghét lạnh, lại đâu có quái lạ ! (316)
BÀI THỨ 17
THƯƠNG HÀN Ở KINH MẠCH THUỘC CÁCH PHẦN
*Thương Hàn mạch Phù Hoạt là nói tại Cách, Lạc mạch bị Nhiệt.
71
“Cực Nhiệt thương Lạc“, sao gọi là Thương Hàn ? Vì trước lúc đó tất là “Hàn cực thương Kinh” vậy.
Sách Tố Vấn thiên Mạch Độ nói : “Kinh là Lý, chia nhánh đi ngang là Lạc (ở Biểu) nay Lạc mạch tại Biểu có Nhiệt, cho nên biết Kinh mạch tại Lý có Hàn, Bạch Hổ thang làm chủ, thấy Nhiệt nên trị Nhiệt trước, nhưng mà Hàn tại Lý không thể quên vậy (178).
*Thương Hàn mạch Kết Đại là nói tại Cách Kinh mạch bị Hư, Kết là Khí hư - Mạch Hoãn, có lúc dừng 1 chỉ rồi lại đến, là nói tại Cách Âm Dương đều hư.
- Mạch Động mà trong lúc dừng, lại đến (Tiểu Sác), trong Tiểu Sác có quay trở lại Động tên là Kết là nói Dương Khí tại Cách không thể thông đạt ra ngoài được.
- Mạch Động mà trong lúc dừng không thể tự quay lại, nhân đó mà Động trở lại, tên là Đại là nói Âm Khí tại Cách không thể thuận tiếp vào trong được.
Âm Hư thì Dương Động, Dương Hư thì Âm Quý, Âm Dương tân dịch đều khô kiệt dùng Chích Cam Thảo thang làm chủ, còn gọi là Phục Mạch thang là do Cách mà phát xuất ra (179, 180).
Hiệp lại mà xem, Thái Dương Bệnh Trúng Phong,Thương Hàn do Hàn Khí gây ra, chẳng những Ôn Bệnh, Phong Ôn, Hàn Thấp, Phong Thấp đều do Hàn Khí gây ra, cho đến Kinh mạch, Lạc mạch cũng do Hàn Khí gây ra. Đến khi Cách phần thọ bệnh thì Thương Hàn rất nặng.
Giới hạn của Thương Hàn Luận dừng ở đây.
