QUYỂN SÁU
BÀI THỨ 1
DƯƠNG MINH THỂ LỆ
Lục Kinh đều có thể lệ của mỗi Kinh. Thể lệ của Thiên Thái Dương là thể lệ chung cho toàn sách Thương Hàn.
Dương Minh thọ (chịu) Thái Dương Trúng Phong Thương Hàn truyền đến, lấy đó làm thể lệ.
Thương Hàn truyền Kinh vốn không định luật. Cho nên sự truyền của nó :
- có khi thủy chung vẫn ở Dương Minh.
- có khi mắc phải rồi thì Trực truyền (truyền thẳng) vào Tam Âm.
- có khi mắc phải rồi gọi là Chuyển thuộc là truyền Trực tiếp vậy.
- có khi mắc phải rồi gọi là Chuyển hệ là truyền Gián tiếp vậy.
Nói thông thường thì Dương Minh với 6 Kinh đều có liên quan với nhau. Nói đơn giản thì Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm sinh bệnh cũng đủ. Không riêng gì Dương Minh, tất cả các Kinh đều như vậy.
Nhưng có một đặc điểm chúng ta phải nên chú ý là Bản Kinh đơn độc Dương tính: - Bệnh tại Hàn Khí thuộc trị lệ của Thái Dương.
- Bệnh tại Nhiệt Khí thuộc trị lệ của Bản Kinh.
Tuy nhiên,Thiếu Âm Nhiệt Khí mỗi mỗi cùng với Dương Minh cảm ứng. Vì thế trị bệnh Dương Minh nên nhận rõ giới hạn của Dương Nhiệt, Âm Nhiệt là điều cốt yếu vậy.
.
73
BÀI THỨ 2
DƯƠNG MINH Ở BIỂU (1)
Thọ Thái Dương Phong Khí gọi là Trúng Phong.
Thọ phải Thái Dương Hàn Khí gọi là Trúng Hàn.
Dương Minh chủ Nhục phần, cho nên đều xưng là Trúng: - Không ăn được, tiểu tiện không lợi, tay chân ra mồ hôi: đó là Trúng Hàn truyền các Dương Kinh(192).
- Muốn ăn, tiểu tiện trái lại không lợi, đại tiện tự điều, xương khớp nhức, đó là Trúng Phong truyền các Dương Kinh (193).
- Không ăn được, người bệnh vốn hư, công nhiệt tất ụa, đó là Trúng Hàn truyền các Âm Kinh (195).
- Mạch Trì, ăn no thì phiền, đầu choáng váng, tiểu tiện khó, đó là Trúng Phong truyền các Âm Kinh(196).
Phép nhận chứng có : - Hàn truyền các Dương Kinh thì Hàn ít : thủy cốc không phân biệt,
truyền các Âm Kinh thì Hàn nhiều : trong Vỵ hư lạnh (192). - Phong truyền các Dương Kinh thì Nhiệt nhiều : xương nhức phát cuồng,
truyền các Âm kinh thì Nhiệt ít : hạ rồi bụng đầy như cũ (193).
Lại có khi : - Hàn được Nhiệt mà Hàn lui : khớp xương đau nhức, mồ hôi rỉ rã ra rồi giải là vậy (193).
- Nhiệt được Hàn mà Nhiệt trừ : thủy không thắng Cốc Khí, với hạn cộng dồn lại, mạch Khẩn thì khỏi là vậy (193).
Đều phải biện kỹ.
.
74
BÀI THỨ 3
DƯƠNG MINH Ở BIỂU (2)
Dương Minh thọ Thái Dương Phong Hàn phân truyền vào các Âm Dương Kinh như trên đã nói rõ rồi.
Còn như thọ Thái Dương Phong Hàn hợp truyền vào 12 Kinh thì sao ? - Truyền Túc Thái Dương Kinh : mình như trùng bò trong da là Bàng Quang Kinh hư, Phong Hàn dồn vào rồi không ra (197).
- Truyền Túc Dương Minh Kinh : nôn ụa, ho là Phong; tay chân quyết [lãnh] là Hàn; tất khổ vì đau đầu là tại Vỵ Kinh (198).
- Truyền Túc Thiếu Dương Kinh : chỉ đầu choáng váng là Hàn; mà ho là Phong; tất cổ họng đau là tại Đởm Kinh (199).
- Truyền Thủ Thái Âm Kinh : không mồ hôi là Hàn; tiểu tiện không lợi là Phong; mình tất phát vàng là Phế Kinh chủ Bì mao (200).
- Truyền Thủ Thiếu Âm Kinh : trên trán hơi có mồ hôi là Tâm Kinh thọ truyền, tiểu tiện không lợi mình tất phát vàng là Phong Hàn ứ ở trong mà phát ở ngoài (201).
- Truyền Thủ Thiếu Dương Kinh : tất triều nhiệt phát lên có lúc là Tam Tiêu Kinh cùng thọ Phong Hàn (202).
- Truyền Thủ Thái Dương Kinh : miệng ráo là Phong; súc miệng không muốn nuốt nước là Hàn; tất đổ máu cam là Dương Hàn Kinh thọ Nhiệt (203).
- Truyền Thủ Dương Minh Kinh : vong tân dịch, đại tiện rắn là Phong; tân dịch đang quay trở vào Vỵ là Phong Hàn làm bệnh, Phong Hàn lại làm cho lành bệnh (204).
- Truyền Túc Khuyết Âm Kinh : ụa nhiều không thể công vì là Vỵ Hàn thọ Can Phong (205).
- Truyền Túc Thái Âm Kinh : dưới Tâm cứng đầy, cho công hạ thì lợi mãi không dứt rồi chết là Vỵ hư Tỳ cũng hư (206).
- Truyền Túc Thiếu Âm Kinh : mặt hợp sắc đỏ, công thì phát Nhiệt sắc mặt vàng, tiểu tiện không lợi là Thận bệnh Tâm cũng bệnh (207).
Đó là 12 Kinh tại Nhục phần thọ Dương Minh Phong Hàn truyền.
75
Lại xem nơi Thái Dương thiên trung, Chương thứ nhất (7) gồm 15 tiết, thuyết minh 12 Kinh tại Nhục phần thọ Thái Dương Phong Hàn truyền.
Đồng thọ Phong Hàn Khí, đồng bệnh tại Cơ Nhục phần, nhưng mà thuộc Thái Dương, thuộc Dương Minh thì khác nhau :
Tất cả bệnh Thái Dương nên Hạn, tất cả bệnh Dương Minh nên Giải.
Trong 12 Kinh phải phân tích rõ ràng, không thể bảo là Biểu bệnh Phong Hàn mà vội vàng sơ xuất vậy.
BÀI THỨ 4
DƯƠNG MINH Ở LÝ (1)
Dương Minh bệnh dùng 3 phương Thừa Khí Thang, lấy chữ Thừa Khí đặt tên thang, là nói rõ Dương Minh thừa nhận cái Khí Phong Hàn ở Thái Dương truyền vào.
Duy Bộ phận thừa nhận không đồng,cho nên tên thang phương Đại,Tiểu,Điều Vỵ có khác.
Sao gọi là Điều Vỵ Thừa Khí Thang Phương ?
Thang này chủ trị Thiếu Âm Nhiệt Khí, Bộ phận ở tại Tấu Bán Lý vậy. - Thiếu Âm là Âm Nhiệt Khí, là Thận Khí vậy.
- Dương Minh là Dương Nhiệt Khí, là Vỵ Khí vậy.
Ở Âm gọi Thận Khí, ở Dương gọi là Vỵ Khí, cho nên chủ trị Thiếu Âm gọi nó là Điều Vỵ, để cho thấy Điều Vỵ Khí tức là Điều Thận Khí, mà ở Thận ở Vỵ thì có khác vậy.
Tấu Bán Lý là Nhiệt phần, thừa nhận Thái Dương Phong Hàn ở đó, cho nên nói là “Thừa Khí”. Nhưng mà không nói “chủ chi” (chủ đấy, làm chủ) lại nói “khả dử” (có thể dùng), càng thấy trị Thiếu Âm tức là trị Thái Dương, mà Thái Dương Thiếu Âm thì rất là khác biệt.
Vì sao như thế ? Vì Âm Dương bất trắc (không lường được) cho nên vậy.
.
76
BÀI THỨ 5
DƯƠNG MINH Ở LÝ (2)
Tiểu Thừa Khí với Đại Thừa Khí phân biệt như thế nào ? - Chủ trị riêng Thái Dương ở Bán Biểu, hoặc riêng Thiếu Âm ở Bán Biểu, đó là giới hạn của thang Tiểu Thừa Khí.
- Hiệp trị Thái Dương Thiếu Âm Kiêm tại Bán Biểu Bán Lý, đó là giới hạn của thang Đại Thừa Khí.
Vậy thì sự khác nhau giữa Đại Tiểu Thừa Khí nên theo Thái Dương Thiếu Âm sinh bệnh mà phân biệt.
*Phân biệt Dương Minh tại Tấu thọ Thái Dương Hàn Khí,có khi dùng Đại Tiểu Thừa Khí khác nhau: - mạch Trì : là mạch Hàn Khí tại Tấu.
- tuy đổ mồ hôi không ghét lạnh : là Dương Minh bệnh.
- người bệnh mình nặng nề : là thọ phải Hàn Khí.
- thở vắn, bụng đầy mà suyễn, có sốt cơn là thọ cả Thái Dương lẫn Thiếu Âm.
- tay chân dâm dấp ra mồ hôi, đại tiện rắn : là chứng của Dương Minh Kinh, lại là chứng của Dương Minh Phủ vậy.
Đấy là Thái Dương Thiếu Âm cùng bệnh, Bán Biểu Bán Lý cùng thọ (chịu)
chẳng phải dùng phương thang Đại Thừa Khí thì dùng gì ? - mồ hôi ra nhiều, hơi phát nhiệt, ghét lạnh, không có sốt cơn là chỉ ở Bán Biểu.
- bụng lớn đầy, không thông : là chỉ thọ Thái Dương hoặc chỉ thọ Thiếu Âm.
chẳng phải dùng phương thang Tiểu Thừa Khí thì dùng gì ? - hơi hòa Vỵ Khí, chớ nên cho xổ mạnh : là nói dùng Đại Tiểu Thừa Khí phải nên phân biệt rõ ràng, không thể dùng bừa (209).
77
*Phân biệt Dương Minh tại Tấu thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí lại có khi dùng Đại Tiểu Thừa Khí khác nhau: - phát sốt cơn, đại tiện rắn : thọ tại phần Lý của Thiếu Âm.
Tại Lý của Thiếu Âm do từ Biểu của Thái Dương mà đến, chủ trị bằng Đại Thừa Khí là nên vậy.
Nhưng mà ở Lý nên phân biệt có thất Khí (đánh hơi trung tiện) hay không thất Khí. Tại Lý dùng Tiểu Thừa Khí để dò xem Vỵ Khí Hư Thực : - có phân ráo khô là Âm Nhiệt đã hóa Âm Hàn, có thể dùng Thừa Khí.
- đại tiện lúc đầu rắn sau nát : là Âm Nhiệt chưa hóa Âm Hàn. Đại Tiểu Thừa Khí đều không thể dùng được.
- sau đó phát nhiệt, đại tiện rắn nhưng lại ít là chỉ có Âm Nhiệt tại Tấu Bán Biểu, dùng Tiểu Thừa Khí thang chủ trị.
- không thất Khí cẩn thận không thể công : là nói Vỵ Khí với Thận Khí không tiếp nhau thì không công được.
BÀI THỨ 6
DƯƠNG MINH Ở LÝ (3)
Ba Kỳ Kinh bệnh ở Thái Dương duy chỉ sợ nó Hàn.
bệnh ở Dương Minh duy chỉ sợ nó Nhiệt.
*Xung Kinh ở giữa Nhâm Đốc, trực tiếp với Dương Minh : - thọ phải Âm Nhiệt truyền vào mà nói xàm.
- thọ phải Dương Hàn truyền mà nói năng loạn.
- suyễn đầy là chết : là Âm Nhiệt không cộng với Dương Hàn.
- hạ lợi cũng chết : là Dương Hàn không cộng với Âm Nhiệt.
Âm Dương ly tán đều là chứng chết vậy (211).
78
*Đốc Kinh đi phía sau Xung Kinh : - mồ hôi ra nhiều là Dương Hàn Kiệt.
- phát hạn nhiều lần là Âm Nhiệt cạn.
- Vong Dương của nó sinh nói xàm : Thái Dương là Dương, Nhiệt Khí cũng là Dương, là Âm Dương đều vong vậy.
- mạch Đoãn là chết : là Âm Dương đều vong, tân dịch của Đốc Kinh vong.
- mạch tự điều hòa thì không chết : là Âm Dương đều còn, tân dịch của Đốc Kinh còn vậy (212).
*Nhâm Kinh đi phía trước Xung Kinh : - Thổ hạ rồi không giải : là do Dương Minh Kinh truyền Nhâm Kinh vậy.
- không đại tiện 5-6 ngày đến hơn 10 ngày : là Dương Hàn Kiệt.
- xế chiều phát sốt cơn, không sợ lạnh : Dương Hàn Kiệt thì Âm Nhiệt quay trở lại.
- nói một mình như trạng thấy quỷ : Âm Dương cùng Kiệt mà Nhâm Kinh huyết táo vậy.
- Bệnh nặng thì không biết người : bệnh tại Bán Lý, do Cách nhập Vỵ vậy.
- mò áo sờ giường : là do Cách nhập Đại Trường.
- kinh sợ không yên : là do Cách nhập Đốc Kinh.
- hơi suyễn trực thị : là do Cách nhập Xung Kinh.
- mạch Huyền thì sống : là tân dịch trong Vỵ chưa mất.
- mạch Sáp thì chết : là tân dịch đã vong mất.
- Bệnh nhẹ thì phát nhiệt nói xàm : là từ Cách ra Bán Lý rồi ra Bán Biểu.
- dùng Đại Thừa Khí thang làm chủ : trị tà ở Bán Biểu, Bán Lý.
- uống một lần lợi được thì thôi : uống nữa sợ thương Vỵ Khí là chủ tại Cách vậy (213).
.
79
BÀI THỨ 7
TÚC DƯƠNG MINH (1)
Chứng nói xàm có nhiều mối, đều do Túc Dương Minh Vỵ Kinh sinh ra : - Xung Kinh thực thì nói xàm.
- Đốc Kinh vong Dương nói xàm
- Nhâm Kinh thấy quỷ nói xàm.
Là chứng ở Dương Minh Kinh, nhưng không thể bảo rằng không phải chứng ở Túc Dương Minh Vỵ Kinh. - Vỵ Kinh với Thủ Dương Kinh làm bệnh : tân dịch ra ngoài, đại tiện rắn, nói xàm. Chủ trị dùng Tiểu Thừa Khí thang, uống một lần, nói xàm dứt, thôi không uống thêm nữa (214).
- Vỵ Kinh với Thủ Âm Kinh làm bệnh : nói xàm, phát sốt cơn, mạch Hoạt Tật, dùng Tiểu Thừa Khí thang; uống rồi Vỵ hư, mạch Vi Sáp không thể lại dùng (215).
Có thể thấy được phép dùng Tiểu Thừa Khí cho chứng ở Thủ Kinh; Thủ Dương dễ trị, Thủ Âm khó trị lại là phép của nó vậy. - Vỵ với Túc Dương Kinh làm bệnh : trong Vỵ [Dương Minh bao gồm Vỵ + Đại Trường] có phân táo 5-6 cục, nói xàm, có triều nhiệt, không ăn được là thọ Dương Hàn; ăn được,chỉ phân rắn là thọ Âm Nhiệt, dùng Đại Thừa Khí thang (216).
- Vỵ với Túc Âm Kinh làm bệnh : hạ huyết nói xàm, bệnh ở dưới là Nhiệt nhập huyết thất, bệnh ở trên thì chỉ đầu ra mồ hôi. Âm Dương hợp bệnh cho nên châm huyệt Kỳ Môn, tùy chứng thực mà tả (217).
Có thể thấy tại Túc Dương Kinh, Âm Dương cùng bệnh dùng Đại Thừa Khí cùng trị là phép của nó; tại Túc Âm Kinh Âm Dương phân bệnh thì phân trị, lại cũng là phép của nó vậy.
.
80
BÀI THỨ 8
TÚC DƯƠNG MINH (2)
Chứng nói xàm không chỉ như thế. - Hạn ra nói xàm là trong Vỵ thọ Phong Thấp, do có phân táo làm ra. Phong Thấp ở trong Vỵ, là do Thái Dương Thiếu Âm hợp lại, hạ đi là phải, nhưng hạ sớm thì Nhiệt lui mà Hàn ở lại, nói năng tất loạn, đó là Phong Thấp làm ra nói xàm vậy (218).
- Để lâu thì nói xàm do trong Vỵ thọ Hàn Thấp mà Suyễn đầy làm ra. Hàn Thấp ở trong Vỵ do Thái Dương Thiếu Âm gây ra, không thể phát hãn, phát hãn thì Biểu hư mà Lý thực, đó là Hàn Thấp làm ra nói xàm vậy (219).
- Són cứt – nói xàm là Ôn bệnh thọ Hàn truyền; cho ra mồ hôi thì bị Nhiệt hóa, cho hạ thì bị Hàn hóa; Nếu tự đổ mồ hôi thì Hàn thọ phải Nhiệt hóa dùng Bạch Hổ thang chủ trị, đó là Ôn bệnh sinh ra nói xàm vậy (220).
- Đại tiện khó – nói xàm là Phong Ôn bệnh thọ phải Hàn với Nhiệt cùng truyền, chỉ phát triều nhiệt, tay chân nhâm nhấp ra mồ hôi, nên dùng Đại Thừa Khí thang, đó là Phong Ôn sinh ra nói xàm vậy (221).
BÀI THỨ 9
TÚC DƯƠNG MINH (3) - Vỵ Kinh Trúng Phong: là trúng Thiếu Âm Nhiệt Khí.
- mạch Huyền: là vì thọ phải Nhiệt Khí tất trước tiên đã thọ Hàn Khí cho nên mạch Huyền.
- mạch Phù: là tại Tấu.
- mạch Đại: là Dương Nhiệt lại thọ phải Âm Nhiệt.
- hơi thở vắn, cả bụng đầy: là trước khi thọ phải Hàn Khí tất đã có Nhiệt Khí ở trong rồi.
81 - từ dưới hiếp đến Tâm đau, đè tay vào lâu Khí không thông: là thọ phải Nhiệt Khí truyền Xung Nhâm Kinh.
- Ưa nằm,khắp mình và mặt mắt đều vàng:là thọ Nhiệt tất có Hàn truyền ở Xung Nhâm Kinh.
- Tiểu tiện khó, có triều nhiệt, lúc lúc ọe: là Hàn Nhiệt cùng thọ phải, cho nên Hàn Nhiệt cùng truyền Xung Nhâm Kinh.
- Do từ Vỵ vào Xung Nhâm Kinh mà truyền đến Tam Dương: Ma Hoàng thang, Tiểu Sài Hồ thang có thể trị.
- Do từ Vỵ vào Xung Nhâm Kinh mà truyền đến Tam Âm: són cứt, bụng đầy, thêm ọe không trị được (232).
- Lại có tân dịch bên trong khô kiệt bệnh tới Đốc Kinh cần phải tự muốn đi đại tiện, dùng Mật Tiển Đạo, Trư Đởm Trấp đều có thể được (233).
- Còn như Vỵ Kinh trúng Hàn truyền đến Xung Nhâm Đốc, ở ngoài thì dùng Ma Quế thang; ở trong thì dùng Bọn Tứ Nghịch riêng có thành phần vậy (234,235).
BÀI THỨ 10
TÚC DƯƠNG MINH (4) - Sao gọi là Túc Dương Minh Bệnh ? là nói ở Tấu sinh bệnh vậy ?
- Sao gọi là Túc Dương Minh Chứng ? là nói ở Cách sinh chứng vậy ?
Bệnh với Chứng chẳng phải có khác nhau, bởi ở Tấu với ở Cách thì có khác nhau vậy. - Trị Thương Hàn lấy Tấu làm chỗ giao giới “Nội Ngoại” (trong ngoài).
- Trị Tạp Bệnh lấy Cách làm chỗ giao giới “Thượng Hạ” (trên dưới).
Chỗ trọng yếu là ở đấy, cho nên trị bệnh càng phải chú ý ở đó vậy. - Phát nhiệt hạn ra: Túc Dương Minh thọ phải Dương Nhiệt ở Tấu.
82 - nhiệt việt (vượt) không thể phát vàng: là Dương Nhiệt chuyển Âm Hàn ở Biểu.
- chỉ đầu ra mồ hôi đến cổ thì hết: là Âm Hàn ở Biểu, Âm Nhiệt cùng theo ra ở Biểu.
- tiểu tiện không lợi: là Túc Dương Minh thọ phải Dương Hàn ở Tấu.
- khát uống nước … : là Dương Hàn chuyển sang Âm Nhiệt ở Lý vậy.
- Ứ nhiệt ở Lý mình tất phát vàng: là Âm Nhiệt ở Lý thì Dương Hàn cùng theo vào Lý, dùng Nhân Trần Cao thang chủ trị (236).
- Người bệnh hay quên, tất có súc (tích) huyết: ở Cách, Túc Dương Minh Chứng chuyển Âm Nhiệt lên trên.
- vốn có súc huyết từ lâu cho nên khiến hay quên: chuyển Âm Nhiệt lên trên thì Âm Hàn cùng theo lên trên.
- phân tuy rắn: là chuyển Âm Nhiệt xuống dưới.
- đại tiện trái lại dễ, sắc của nó tất đen: chuyển Âm Nhiệt xuống dưới thì Dương Hàn cùng theo xuống dưới, dùng Để Đáng thang chủ trị (237).
Có thể thấy Âm Dương không lìa nhau, Hàn Nhiệt cùng nhau chuyển biến, từ trước đến nay chưa từng thấy ở sách khác, nếu chẳng phải Thánh Nhân thì ai nói lên được như vậy.
BÀI THỨ 11
THỦ DƯƠNG MINH (1)
Nhìn chung phép trị ở Thủ Dương Minh Đại Trường thì thấy rằng: - hai phương Chi Tử Xị thang giống với phép trị ở Thủ Thái Dương Tiểu Trường (222,229).
- hai phương Tiểu Sài Hồ thang giống với phép trị ở Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu (230,231).
. chỗ giống nhau bởi đều là Thủ Dương Kinh.
. chỗ khác nhau bởi các Kinh đều có chủ Khí của bản Kinh.
83 - trong lòng não nuột: giống với chứng ở Tiểu Trường (222,229).
- hung hiếp rắn đầy: giống với chứng ở Tam Tiêu (230,231).
- Nhưng trên lưỡi đóng bợn trắng thì riêng Đại Trường mới có (231).
Huống hồ, Thủ Dương Minh Đại Trường với Túc Dương Minh Vỵ là đồng Kinh Dương Minh, đồng là “trưởng” của 12 Kinh, cho nên: - mạch Phù Khẩn, cổ họng ráo, miệng đắng bụng đầy mà Suyễn: là ở Lý Trúng Phong, với Vỵ Kinh giống nhau (222).
- phát nhiệt hạn ra, không ghét lạnh trái lại ghét nóng: là ở Biểu Trúng Phong, với Vỵ Kinh không chỗ nào không giống nhau (222).
BÀI THỨ 12
THỦ DƯƠNG MINH (2)
Ngoài ra như: - Nhiệt hóa ở Đại Trường Kinh thì Tâm bồi hồi trái lại nói xàm,
- Hàn hóa ở Đại Trường Kinh thì sợ sệt bứt rứt không ngủ được,
- thọ cả Hàn lẫn Nhiệt thì Vỵ hư, khách khí động Cách và trên lưỡi có bợn (rêu) trắng.
Đó là Chi Tử Xị thang ở chỗ tất phải dùng (222). - Thọ Thiếu Âm ở Ngoại mà tay chân ấm,
- thọ Thái Dương ở Nội mà đói lại không muốn ăn,
- cùng thọ cả hai mà chỉ đầu ra mồ hôi.
Đó là Chi Tử Xị thang lại ở chỗ tất phải dùng vậy (229). - Hàn Nhiệt đều thọ phải mà phát triều nhiệt, đại tiện nát, tiểu tiện tự đi được, hung hiếp đầy mãi không dứt.
84
Đó là Tiểu Sài Hồ thang ở chỗ tất phải dùng (230). - Ở dưới thọ phải Thiếu Âm mà không đại tiện,
- ở trên thọ phải Thái Dương mà nôn ụa,
- cùng thọ phải cả hai mà Hiếp rắn đầy, trên lưỡi có bợn.
Đó là Tiểu Sài Hồ thang lại ở chỗ tất phải dùng vậy (231).
Cho đến : - Ôn Bệnh dùng Bạch Hổ gia Sâm thang (223); Phong Ôn dùng Trư Linh thang (224); Hiệp Bệnh (!) không phải chỉ dùng một mình Trư Linh thang mà được (225).
- Uống nước vào thì ọe ở chứng Hàn Thấp (227); ăn được thì Nục ở chứng Phong Thấp (228); Hiệp Bệnh thì dùng Tứ Nghịch thang cũng không hại gì (226).
Còn như Bụng đầy, Hàn sán, Túc thực đều là chứng trị của Đại Trường mà chưa luận đến; thọ bệnh rất nhiều, dùng phương rộng rãi, há không phải Đại Trường chiếm một vị trí lớn trong thân người ư ?
(!) Quá ngắn gọn ! Sự thật thì Phong Ôn là bệnh hiệp bởi 2 Khí Dương Minh Táo và Thiếu Âm Nhiệt; cần thận trọng trong trường hợp bệnh đã mất nhiều tân dịch mà Trư Linh thang lại lợi tiểu tiện.
BÀI THỨ 13
THỦ DƯƠNG MINH (3)
Âm Dương phản phúc, Hàn Nhiệt biến thiên, ở Đại Trường Kinh không thể không cạn xét sự biến chuyển của nó: - Cho hạ thì trong Tâm não nuột mà phiền: là Dương Nhiệt hợp Âm Hàn mà lên trên.
- trong Vỵ có phân táo: là Âm Hàn đã ở trên, Âm Nhiệt theo cùng lên trên.
Đó là Âm tòng Dương mà cũng có Âm tòng Âm vậy.
85 - trong bụng đầy, đại tiện trước rắn, sau nát: là Âm Hàn hợp Dương Nhiệt mà xuống dưới.
- nếu có phân táo nên dùng Đại Thừa Khí thang: là Dương Nhiệt đã ở dưới, Âm Nhiệt theo cùng xuống dưới (238).
Đó là Nhiệt tòng Hàn mà cũng có Nhiệt tòng Nhiệt vậy. - Không đại tiện 5-6 ngày, quanh rốn đau, phiền: là Âm Nhiệt ở Ngoài.
- phát lên có lúc: là Âm Nhiệt ở ngoài tất theo Dương Hàn, bởi vì Thái Dương chủ Ngoại vậy.
- đấy là có phân táo, cho nên khiến không đại tiện: là Dương Hàn vào trong tất theo Âm Nhiệt, bởi vì Thiếu Âm chủ Nội vậy (239).
Chúng ta đọc đến đoạn văn này thì thấy Âm Dương vô cùng ảo hóa, chẳng những trong mình người như thế mà thế vận cũng vậy. Người nghiên cứu học thuyết Âm Dương sao chẳng lấy đó mà suy ngẩm ?
BÀI THỨ 14
THỦ DƯƠNG MINH (4)
Nội Kinh nói rằng: “Đại Trường là quan truyền đạo, biến hóa do đấy mà ra”.
Chỗ gọi Truyền đạo là “tế bí biệt trấp” (giúp đỡ nội phân bí, phân chia dưỡng trấp và các chất lỏng) theo đường tiểu tiện xuống dưới.
Chỗ gọi biến hóa là “du chuyển tao phách”(chuyển vận cặn bả) theo đường đại tiện ra ngoài.
Vậy thì việc bồi dưỡng hậu thiên, Đại Trường và Vỵ rất có công đối với sự sống con người. Cho nên, 3 Kỳ Kinh thọ phải bệnh chứng của Đại Trường truyền qua có thể thấy đại khái được : - tiểu tiện không lợi, đại tiện thoạt khó thoạt dễ, suyễn mạo, không nằm được là Đốc Kinh thọ phải “phân táo ở Đại Trường” dùng Đại Thừa Khí thang chủ trị (242).
- không đại tiện, phiền không giải, bụng đầy đau: là Nhâm Kinh thọ phải “Túc thực ở Đại Trường” dùng Đại Thừa Khí thang chủ trị (241).
86 - ăn cơm vào muốn nôn ụa là Đại Trường thọ phải “Hàn truyền Xung Kinh” dùng Ngô Thù Du thang chủ trị; nếu uống thuốc rồi trái lại nặng thêm là Đại Trường thọ phải “Nhiệt truyền Xung Kinh”, Ngô Thù Du thang chẳng phải là cách chữa nó vậy (243).
BÀI THỨ 15
DƯƠNG MINH Ở TẤU (1)
Cái đạo Âm Dương, hễ: - Khí hữu dư thì “chế ” (lấn áp) chỗ mình thắng, mà “vũ ” (khinh nhờn) chỗ thắng mình.
- Khí bất cập thì chỗ mình không thắng (nó) coi khinh mà “thừa” (cỡi lên) mình, còn chỗ mình thắng “nó ” coi rẽ mà “vũ “ (khinh nhờn) mình.
Đó là nói Khí hữu dư và Khí bất cập.
Nếu như Hư Thực thừa trừ, bên này bên kia ràng buộc lẫn nhau gọi là chuyển thuộc.
Nhưng Lục Kinh, Lục Khí thảy đều tụ tập tại Tấu Lý; cho nên chỗ “chế” chỗ “thừa” tất ở tại Tấu, “chuyển thuộc” tất cũng ở Tấu, chẳng có bộ phận nào có được như vậy.
Sách Thương Hàn biện Mạch Chứng chuyển thuộc, giảng giải như thế nào ? - Dương Minh bệnh:
- mạch Thốn Hoãn là ở Biểu Dương Minh hư.
- mạch Quan Phù là ở Tấu Dương Minh hư.
- mạch Xích Nhược là ở Lý Dương Minh hư.
Đó là lý do của Dương Minh Mạch chuyển thuộc các Kinh vậy. - phát nhiệt hạn ra: là ở Biểu hư.
- lại ghét lạnh không nôn ụa: là ở Tấu hư.
- dưới Tâm Bỉ (đầy hơi): là ở Lý hư.
87
Đó là duyên cớ Dương Minh Chứng chuyển thuộc các Kinh vậy. - Nếu như không hạ thì Dương Minh Thực, các Kinh trở lại chịu chuyển thuộc:
- không ghét lạnh mà khát: là Dương Nhiệt chuyển thuộc.
- không đại tiện 10 ngày không thấy khó chịu: là Âm Hàn chuyển thuộc.
- khát muốn uống nước dùng pháp này để cứu: là Âm Nhiệt chuyển thuộc.
- khát dùng Ngũ Linh tán: là Dương Hàn chuyển thuộc (244).
BÀI THỨ 16
DƯƠNG MINH Ở TẤU (2)
Phàm Mạch Chứng đều lấy Vỵ Khí làm gốc, có Vỵ Khí thì sống, không Vỵ Khí thì chết, ai cũng biết điều đó.
Vỵ Khí là Dương Minh Khí, Dương Minh Khí là do Thái Dương Hàn Khí và Thiếu Âm Nhiệt Khí làm ra vậy.
Thái Dương Hàn Khí là Tân dịch trong Vỵ, Thiếu Âm Nhiệt Khí cùng nó điều hòa để vận hành tân dịch, một khi có chuyển thuộc thì sinh bệnh: - Thái Dương Hàn Khí nhiều thì Thiếu Âm Nhiệt Khí ít, Tân dịch trong Vỵ không hành là Dương Minh chuyển thuộc ở Thái Dương (245).
- Thiếu Âm Nhiệt Khí Thực thì Thái Dương Hàn Khí Hư, Tân dịch trong Vỵ Kiệt là Dương Minh chuyển thuộc Thiếu Âm (246).
Người khéo nói về Vỵ Khí là người khéo quan sát ở Thái Dương và Thiếu Âm. Còn như : - Đại tiện khó sinh chứng Tỳ ước là Dương Minh với Thái Âm chuyển thuộc nhau, dùng Ma Nhân hoàn chủ trị (247).
- Phát hãn không giải,hầm hầm phát sốt là Dương Minh với Thiếu Dương chuyển thuộc nhau (248)
88 - Thổ rồi bụng đầy trướng là Dương Minh với Khuyết Âm chuyển thuộc nhau đều dùng Điều Vỵ Thừa Khí thang để hòa (249).
BÀI THỨ 17
DƯƠNG MINH Ở TẤU (3)
Bảo rằng Khí hữu dư thì “Chế ” (lấn áp) chỗ mình thắng, “ Vũ ” (khinh lờn) chỗ mình không thắng, giảng giải thế nào ? - “Chế ” chỗ mình thắng là bệnh thế có thể trị hoãn, cho nên :
- Sau khi Hãn Thổ Hạ rồi, tiểu tiện đi luôn, đại tiện nhân đó rắn là bởi Dương Minh “chế ” Thái Dương, dùng Tiểu Thừa Khí thang để hòa (250).
- Dương Nhiệt, Dương Hàn hiệp bệnh là Chứng Tiểu Sài Hồ.
- Dương Hàn, Âm Nhiệt hiệp bệnh là Chứng Đại Sài Hồ.
- Dương Nhiệt, Âm Hàn hiệp bệnh gọi là không có Chứng Thái Dương Sài Hồ (251) là vì Khí của nó hữu dư; cho nên Dương Minh có thể “chế” Khuyết Âm (251), cũng có thể chế Thái Âm (255) đều có thể dùng Đại Thừa Khí thang vậy.
- Còn như “ Vũ ”(khinh lờn) chỗ mình không thắng là bệnh thế không thể “hoãn”, phải trị gấp :
- trong mắt lờ mờ, tròng mắt không hòa, đại tiện khó, mình hơi nóng là Dương Minh táo hóa Thiếu Dương nên gấp hạ (252).
- phát sốt mồ hôi ra nhiều là Dương Minh bản Kinh tự táo hóa nên hạ gấp (253).
- phát hạn rồi không giải, bụng đầy đau là Dương Minh táo hóa Thiếu Âm, nên gấp hạ (254).
.
89
BÀI THỨ 18
DƯƠNG MINH Ở TẤU (4)
Bảo rằng Khí bất cập thì chỗ mình thắng (nó) coi rẽ mà vũ (khinh nhờn) mình, chỗ mình không thắng (nó) coi khinh mà thừa (cởi lên) mình, giảng giải thế nào ? - Dương Minh hợp Thiếu Dương là Dương Nhiệt hợp Dương Nhiệt vậy :
- tất hạ lợi vì Nhiệt tòng Nhiệt thì Hàn tòng Hàn cho nên vậy.
- Dương Minh không thua Thái Dương là thuận : là Dương Minh Thương Hàn.
- Dương Minh thua Thái Dương là “Khắc tặc” vì Dương Nhiệt hợp Dương Nhiệt, lại bệnh ở Tấu Nhiệt phần vậy.
- mạch Hoạt mà Sác là có Túc Thực: tuy rằng Nhiệt lắm nhưng chưa từng không có Hàn Khí, nên dùng Đại Thừa Khí thang (256).
- Dương Minh hợp Thiếu Âm là Dương Nhiệt hợp Âm Nhiệt vậy :
- Tuy mạch Phù Sác nhưng Hạ rồi chưa giải, hiệp Âm Nhiệt thì ứ huyết, hiệp Dương Nhiệt thì tiện ra mủ máu: là khi có Âm Nhiệt chưa từng không thọ Dương Hàn vậy (257).
Trước đây là Dương Minh ở Biểu Trúng Phong Trúng Hàn, giờ đây là Dương Minh ở Tấu thọ Hàn, thọ Nhiệt.
*Trước đây là Dương Minh ở Biểu Trúng Phong Hàn truyền 12 Kinh, giờ đây thì Dương Minh ở Tấu: - phát hãn rồi mình mắt đều vàng là Hàn Thấp, tìm nơi Hàn Thấp mà cầu trị (258).
- mình vàng như màu quả quít, tiểu tiện không lợi, bụng hơi đầy là Phong Thấp, dùng Nhân Trần Cao thang chủ trị (259).
- mình vàng phát Nhiệt là Ôn Bệnh, dùng Chi Tử Bá Bì thang chủ trị (260).
- ứ Nhiệt ở Lý, mình tất phát vàng là Phong Ôn, dùng Ma Hoàng Liên Kiều Xích Tiểu Đậu thang chủ trị (261).
Tóm lại, không ngoài Thái Dương Trúng Phong Thương Hàn, cũng không ngoài Trúng Phong loại, Thương Hàn loại. Đấy là chỗ quán suốt trước sau và nhất trí của Thương Hàn Luận vậy.