Pháp Lục Hòa trong nhà Phật
Lục hòa là sáu phương pháp cư xử với nhau cho hòa hợp từ vật chất đến
tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Hòa ở đây là hòa với mục đích tiến tới
sự cao đẹp, đến con đường giải thoát, toàn thiện toàn mỹ, chứ không phải
hòa một cách nhu nhược, thụ động, ai nói quấy cũng ừ, ai nói phải cũng
gật. Hòa ở ở đây cũng không phải là phương tiện trong giai đoạn để rút
thắng lợi về mình, rồi lại chiến. Hòa ở đây nhằm mục đích làm lợi cho tất
cả, gây hạnh phúc cho tất cả, trong ấy có bòng dáng “tự và tha” không có
so đo “ta và người”.

  1. Thân hòa cùng ở (Thân hòa đồng trụ)
    Nghĩa là cùng nhau ở dưới một mái nhà, trong một phạm vi, một tổ chức,
    hôm sớm có nhau, cùng ăn cùng ngủ, cùng học cùng hành.Khi đã sống
    chung đụng hằng ngày như thế, thì phải hòa thuận với nhau, không dùng
    sức mạnh, võ lực để lấn hiếp, đánh đạp nhau. Nếu là anh em, vợ chồng,
    con cái trong một gia đình, thì phải trên thuận dưới hòa, anh ra anh, em ra
    em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, chứ không được lộn xộn vô trật tự, hiếp
    đáp, sát phạt nhau.
  2. Lời nói hòa hiệp (Khẩu hòa vô tranh)
    Muốn thân không đánh đạp nhau, không đối chọi nhau, khi ở bên cạnh
    nhau, thì lời nói phải giữ gìn cho được ôn hòa nhã nhặn; trong mọi trường
    hợp, nhất thiết không được rầy rà, cãi cọ nhau.Bởi thế, nên thân thể hòa
    chua phải là đủ, mà Phật dạy phải hòa cả miệng nữa. Nghĩa là người Phật
    tử phải nói lời dịu dàng, hòa nhã với nhau, nhất thiết không được cãi lẫy,
    gây gỗ nhau. Nếu có gì thắc mắc, cần phải bàn cãi cho ra lẽ, thì tuyệt đối
    phải dùng lời nói ôn tồn, hòa nhã mà bàn luận.
  3. Ý hòa cùng vui (Ý hòa đồng duyệt)
    Trong một gia đình, một đoàn thể, mỗi người cần giữ gìn ý tứ, tâm địa của
    mình. Nếu ý tưởng hiền hòa, vui vẻ thì thân và lời nói dễ giữ được hòa
    khí. Trái lại nếu ý tứ bất hòa, thường trái ngược nhau, ganh ghét nhau, thì
    thân và khẩu khó mà giữ cho được hòa hảo. Muốn được tâm ý hòa hiệp,
    94
    phải tu hạnh Hỷ xà. Hỷ xả nghĩa là bỏ ra ngoài những sự buồn phiền, hờn
    giận, không chấp chặt trong lòng những lỗi lầm của kẻ khác. Có như thế,
    tâm hồng mới thư thái, vui vẻ được, và ý nghĩ mới trong sáng, thanh tịnh
    được. Vậy Phật tử chúng ta hãy cố gắng tu hạnh hỷ xả mới được.
  4. Giới hòa cùng tu (Giới hòa đồng tu)
    Trong một tổ chức, một đoàn thể nào có trật tự, tất đều có kỹ luật qui cả
    hẳn hoi.Trong một đoàn thể, đạo hay đời, nếu không cùng nhau gìn giữ
    giới điều, kỷ luật, quy tắc, thì chúng ta không bao giờ sống chung với
    nhau được. Vật Phật tử, muốn hòa hợp cùng nhau để tu tập, thì mỗi người
    cần phải gìn giữ giới luật như nhau.
  5. Thấy biết giải bày cho nhau hiểu (Kiến hòa đồng giải)
    Trong sự sống chung, mỗi người hiểu biết được điều gì, khám phá được
    điểm gì, phải giải bày, chỉ bảo cho người khác hiểu. Như thế trình dộ hiểu
    biết mới không chênh lệch, sự tu học mới tiến đều về tinh thần bình đẳng,
    mới dễ giữ vững giữa những người cùng ở một đoàn thể.
  6. Lợi hòa cùng chia cân nhau (Lợi hòa đồng quân)
    Về tài lợi, vật thực, đồ dùng phải phân chia cho cần nhau hay cùng nhau
    thọ dụng, không được chiếm làm của riêng, hay giành phần nhiều về
    mình.
    Pháp lục hòa trong châm cứu lục khí
    Trên đây là pháp Lục Hòa của Phật giáo, còn chúng ta là người học châm
    cứu lục khí, chúng tôi xin mạn phép nhìn nhận một chút về pháp Lục Hòa
    này và thử xem sự ẩn hiện của nó trong phương pháp chữa bệnh của châm
    cứu lục khí
    Hòa giải: sử dụng huyệt lục khí trên các đường kinh phối hợp với nhau
    theo bốn cách châm để hòa giải kim mộc, thủy hỏa, thổ thử lập lại cân
    bằng âm dương trong cơ thể
    95
    Hòa hợp: Tĩnh kinh âm + hợp kinh dương, châm tĩnh của kinh tâm bào
    lạc (hành hỏa) là trung xung thì phải châm hợp huyệt của kinh tiểu trường
    (hành thủy) là tiếu hải thì mới thông được thủy hỏa, kim mộc, thổ thử
    Hòa lạc khích: dùng huyệt lạc hoặc huyệt khích để giúp “tăng tốc” quá
    trình hòa giải lục khí
    Hòa mạch: dùng huyệt kì kinh bát mạch phối hợp với huyệt lục khí để
    hòa 12 chính kinh
    Hòa đồng: Kết hợp huyệt Du ở thủ và túc để hòa âm châm, dương châm,
    thủ châm, túc châm để hòa đồng tác dụng của 4 cách châm. Ví dụ: dùng
    bộ Thổ thủ châm 13 huyệt, ta sẽ dùng ở tay 4 du huyệt là hậu khê, trung
    chữ, thái uyên và đại lăng vậy để tạo sự liên lạc, phối hiệp đồng giữa các
    huyệt và kinh mạch trong điều trị ta nên thêm 4 huyệt du ở chân là: thái
    khê, thái xung, thúc cốt, hãm cốc
    Hòa bình: Lục khí hiện ra, lục hòa ổn định: khi dùng chọn được bộ huyệt
    và khi mạch bệnh chuyển về dạng bình mạch, hai bộ quan cao nhất, hai
    bộ thốn và xích thấp hơn, ngang bằng nhau, mạch đi hữu lực và trường
    mạch thì lúc đó lục khí sẽ tồn tại ở dạng ổn định vì kinh mạch đã thông,
    các huyệt lục khí đã thông, các hành đã thông. Cơ thể sẽ được Hòa với
    trời đất.
    Nguyên tắc trị liệu của Châm cứu lục khí
    Cách đây gần 3000 năm, người xưa đã nhận thấy sự vật hiện tượng trong
    vũ trụ và môi trường luôn có mâu thuẫn, nhưng thống nhất với nhau,
    không ngừng vận động, biến hoá để phát sinh, phát triển và tiêu vong từ
    đó tìm ra quy luật âm dương.
    Từ đây ta thấy quy luật âm dương có tồn tại là do trong sự vật hiện tượng
    vốn tự nó đã có một sự quân bình nội tại (Hòa). Chữ hòa là nguồn gốc của
    sự tồn tại và phát triển của con người và vạn vật.
     Hòa thì mới hợp, hợp sẽ có định, có định mới tới an làm cho con
    người vạn vật hài hòa, khỏe mạnh, tốt tươi. Không hòa sẽ có phản
    96
    nghịch, có nghịch thì có động, có động thì có loạn mà loạn sinh ra
    bệnh tật, ô nhiễm.
     Hòa là nguồn gốc của vũ trụ càn khôn: không hòa thì thái cực không
    hiện tướng thành lưỡng nghi, phân ra âm dương, bát quái và vạn vật
     Hòa sinh ra vạn vật: từ hòa con người sinh ra, cũng vậy nhờ sự thuận
    hòa của trời đất, môi trường, khí hậu, điều kiện địa lý thổ
    nhưỡng…thì mọi vật sinh sinh trưởng và phát triển. Trên một số
    hành tinh mà không có đủ các điều kiện thuận lợi của trời đất, môi
    trường, khí hậu, điều kiện địa lý thổ nhưỡng … tóm lại do không có
    đủ điều kiện sống – không có sự hòa giữa các yếu tố tạo nên sự sống
    vì thế không có sự sống.
     Hòa làm cơ sở để cho xã hội phát triển: các nguồn lực trong xã hội,
    các nhóm lợi ích trong xã hội, giữa lãnh đạo và người dân, giữa
    người quản lý và công nhân …nếu không hòa thì không thể có một
    xã hội tồn tại một cách ổn định, thịnh vượng được
     Hòa hợp là nguồn gốc con người: không có tinh cha huyết mẹ hòa
    với nhau thì sẽ không thành hình con người, vậy con người sinh ra
    khởi điểm là bởi chữ hòa
     Hòa tạo ra trí tuệ, sức khỏe và sự sống cho con người: tinh khí thần
    không hòa với nhau con người sẽ chết, giới định tuệ không hòa với
    nhau con người không thể có được tuệ giác tối cao.
     Trong cơ thể con người khí huyết, tạng phủ, không hòa thì cơ thể
    không tồn tại được.Khí huyết lưu thông trong kinh mạch không đúng
    chiều, đúng đường thì chắc chắn sẽ gây ra bệnh, con người sẽ trở
    nên yếu đuối cả về tinh thần và thể xác. Kinh âm khó đi lên, kinh
    dương khó đi xuống hoặc kinh âm và kinh dương vận hành khó khăn
    thì cũng dẫn đến bệnh tật, đau ốm.
    Pháp điều trị của châm cứu lục khí dùng chữ Hòa làm trọng. Và đây cũng
    là nguyên lý của vũ trụ, nguyên lý của âm dương, và nguyên tắc chữa
    bệnh của ngàn năm trước cho tới nay: Chữa bệnh cốt là lập lại cân bằng
    âm dương trong cơ thể
    97
    Trong bát pháp của đông y có nhiều các phương pháp khác nữa, nhưng
    nếu xét cho cùng thì:
  7. Nếu đã hòa thì sẽ tự ra mồ hôi ( phép Hãn )
  8. Nếu đã hòa thì sẽ tự tẩy sổ nhuận tràng (phép Hạ)
  9. Nếu đã hòa thì sẽ tự gây nôn ra rồi (phép Thổ)
  10. Nếu đã hòa thì sẽ tự làm cho cơ thể ấm (phép Ôn)
  11. Nếu đã hòa thì sẽ tự làm cho cơ thể mát(phép Lương)
  12. Nếu đã hòa thì sẽ tự làm hết ứ trệ (phép Tiêu)
  13. Nếu đã hòa thì sẽ tự làm đầy âm dương, khí huyết trong cơ thể(phép
    Bổ)
    CÁCH GIAO TIẾP VỚI HUYỆT
    Đây là bài viết mang tính chất cảm nhận, suy luận dựa trên các công trình
    khoa học của một số nhà nghiên cứu đã có các nghiên cứu, thực nghiệm
    về các trạng thái và tinh thể nước, nghiên cứu về yếu tố môi trường tác
    động lên gene, nghiên cứu về hệ thống mô liên kết của cơ thể…Như chúng
    ta đã biết cho đến nay thực chất huyệt đạo châm cứu là gì cũng như phạm
    trù khí, huyết trong cơ thể hiện vẫn chưa được làm sáng tỏ đến 100%, vì
    cũng còn nhiều ý kiến trái chiều, không tỏ rõ sự đồng ý hoàn toàn khi nói
    đến những vấn đề trên. Trong thời đại phát triển như vũ bão của khoa học
    kỹ thuật, công nghệ, các phát minh, phát hiện mới trên mọi lĩnh vực của
    cuộc sống đã đều đặn xuất hiện, cùng với xu hướng phát triển của y học
    hiện đại, những người làm về y học cổ truyền như chúng ta cũng nên bắt
    nhịp theo những xu hướng phát triển đó, cũng nên học hỏi thêm từ những
    phát minh, phát hiện mới của khoa học hiện đại nhằm làm vững chắc, hiểu
    rõ ràng hơn về kiến thức của y học cổ truyền đã có từ hàng nghìn năm nay
    với nhiều sắc thái của sự tưởng tượng và kinh nghiệm để tạo ra sự liên
    kết, liện hệ ngày càng sâu sắc hơn giữa hai phần không thể tách rời của y
    học là y học hiện đại và y học cổ truyền (bổ sung) để mang lại nhiều sự
    giúp đỡ, lợi ích hơn tới mọi người trên trái đất. Chúng ta không thể cứ mãi
    chỉ nhìn về quá khứ để xem cha ông, tổ tiên ta viết cái gì mà chúng ta còn
    phải mở rộng tầm mắt nhìn về hiện tại và tương lại để biết chúng ta dùng
    y học cổ truyền như thế nào cho phù hợp với thế kỉ 21 này. Đây mới là sự
    hợp lý và chính xác nhất khi áp dụng tinh thần của Dịch vào thời đại mới,
    và nền y học mới. Trong y học cổ truyền nói chung và châm cứu lục khí
    98
    nói riêng chúng ta cũng không thể và cũng không nên tách khỏi xu hướng
    này. Vậy thì chúng ta thấy gì từ những nghiên cứu của các nhà khoa học
    hiện đại và điều gì mang lại sự sáng to cho y học cổ truyền? Chúng tôi xin
    đưa ra ý kiến của mình về vấn đề này như sau:
    Cơ thể chúng ta lúc bé nước chiếm tới 90%, khi lớn lên thì tỉ lệ nước là
    70% cũng tương tự như trên trái đất của chúng ta, nước bao phủ hầu hết
    quả địa cầu nên chúng ta gọi là quả “nước cầu” thì nghe có vẻ hợp lý.
    Nước là yếu tố vô cùng quan trọng cho sự sống, nó là yếu tố gây ảnh
    hưởng, tác động và làm thay đổi cuộc sống nhiều nhất. Ngày này các nhà
    khoa học đã nghiên cứu rất nhiều về Nước nên cụm từ “The social
    behavior of H20” trở nên phổ biến trên thế giới. Các phân tử nước cấu tạo
    bởi 2 nguyên tử Hidro và 1 nguyên tử Oxi, nhưng bên trong một cốc nước
    mà chúng ta rót ra để uống chứa đựng bao điều kì diệu hơn là những gì
    chúng ta nhìn thấy và nếm thấy khi uống vào trong cơ thể mình. Hiện nay
    người ta đã có những thí nghiệm để chứng minh là các phân tử nước có
    những mối liên hệ vô cùng đặc biệt với nhau làm cho Nước trở nên có trí
    nhớ, biết đọc, biết học hỏi và đặc biệt là biết cảm nhận những cảm xúc
    của con người. Những tinh thể nước sẽ có hình dạng khác nhau khi được
    nghe loại nhạc khác nhau của các nhạc sĩ khác nhau, chúng biết “xem
    tranh” để tạo ra các hình dạng tinh thể tương tự như bức tranh đó, chúng
    sẽ bị “buồn” nếu ta có những lời nói không lịch sự và chúng sẽ “hạnh
    phúc” khi được ta nói những lời yêu thương và còn nhiều, rất nhiều những
    điều kì diệu nữa về Nước. Nói tóm lại là nước biết tiếp nhận và phản hổi
    lại những sóng rung động phát ra từ bộ não con người được ẩn chứa bên
    trong những sản phẩm về tinh thần mà con người tạo ra nhờ sự tư duy và
    cảm nhận của mình như các bản nhạc, các bức họa, các ngôn ngữ…
    Nhìn về y học hiện đại ta thấy rằng hệ thống mô liên kết trong con người
    chúng ta được trải rộng khắp cơ thể từ bề mặt da cho đến các cơ quan nội
    tạng của cơ thể, chúng bao quanh khắp tất cả các tế bào của con người,
    mà thành phần chủ yếu của loại mô này là nước. Nhìn về y học cổ truyền
    huyệt đạo châm cứu dù chưa được biết chính xác 100% về vị trí và công
    năng nhưng có thể chắc chắn một điều là chúng phải ở trên cơ thể con
    người và nếu như thế thì có thể suy ra là tối thiểu thành phần của mỗi
    huyệt đạo phải có ít nhất 70% là nước và cấu tạo nên thành phần huyệt
    99
    đạo cũng chủ yếu là mô liên kết giữa các tế bào. Vậy nếu như nước có khả
    năng đọc, khả năng hiểu, khả năng cảm nhận, khả năng ghi nhớ v.v.. thì
    ít nhất huyệt đạo châm cứu cũng có thể làm được 70% những khả năng
    này. Điều này thật sáng tỏ và rõ ràng cả trong lý luận và trong thực hành,
    đã có rất nhiều trường hợp khi ta châm cứu, hoặc bấm huyệt nếu như ta
    chăm chú, tập trung, thông cảm, yêu thương người bệnh và vùng bị đau
    yếu thì hiệu quả của buổi chữa trị cho người bệnh đó và vùng đau yếu đó
    cao hơn nhiều và kéo dài hơn là khi ta chữa bệnh với tâm trí không toàn
    tâm toàn ý, cẩu thả, chữa cho xong, chữa lấy lệ…Một sự lý giải hợp lý cho
    sự khác biệt này chính là do NƯỚC.
    Theo lý luận của y học phương đông, trong học thuyết âm dương thì Nước
    là thuộc về âm, là huyết, là hữu hình, không thể có nước khi không có khí
    đi kèm , điều này đúng với cả khoa học hiện đại vì nếu nhìn sâu vào nước
    ta thấy ngay các nguyên tử khí oxi và hydro, vì vậy mà không có khí thì
    không thể nào có nước, không có nước thì không có khí đó chính là âm
    dương, đó chính là nhất nguyên luận. Vậy những cái mà nước bị ảnh
    hưởng như âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ là từ đâu? Là do hoạt động của bộ
    não con người, hoạt động của sự liên kết giữa cá neuron thần kinh với
    nhau, chính là các loại cảm xúc dựa trên hoạt động của sóng não do Tâm
    con người tạo ra và được ẩn vào trong các bài nhạc, các bức họa, ngôn
    ngữ được viết ra v.v… Chúng ta có thể chung quy nó lại là hành Thử trong
    y dịch lục khí. Vậy nếu như ta không áp dụng và đưa hành Thử vào huyệt
    châm cứu nói chung và huyệt lục khí nói riêng thì chúng ta đã mất đi rất
    nhiều tác dụng và hiệu quả của huyệt châm cứu rồi. Truyền thông với
    huyệt tức là làm gì, tức là dùng hành Thử để nói chuyện với huyệt, để yêu
    thương, để cảm thông với những sự bế tắc của huyệt và tạng phủ từ đó
    cùng nhau người bệnh và thầy thuốc cùng làm lành các vết thương do
    bệnh tật gây ra.
    KHẨU VỊ CỦA HUYỆT
    Du khách nào đến thủ đô Hà Nội của nước Việt Nam, thì một việc không
    thể thiếu được trong sổ tay thông tin của họ là những món ngon đặc sản
    của Hà Nội, bao gồm một số món sau: chả cá lã vọng, bún ốc phủ tây hồ,
    bánh tôm hồ tây, kem tràng tiền…tóm lại nếu như ai là người sống ở hà
    nội lâu thì đều biết những món ăn đặc sản này. Khi một du khách tới Hà
    nội, thì chắc chắn là họ phải thử những món ẩm thực “nức tiếng” gần xa
    100
    này rồi, không thể nào mà bỏ qua được, kẻo đến khi về người thân, bạn
    bè họ hỏi nếu nói là chưa nếm thử thì thể nào cũng bị “trách” cho mà xem.
    Tất nhiên ở đây chúng tôi muốn nói về châm cứu chứ không phải là một
    bài viết về ẩm thực Hà Nội. Giờ ta thử nghĩ xem là liệu vị khách du lịch
    này có thấy ngon miệng với tất cả những món ăn nổi tiếng ngon bổ rẻ này
    ở hà nội hay không? Tôi nghĩ là chưa chắc, vì hiếm có ai mà lại “dễ miệng”
    như vậy, ăn gì cũng thấy ngon, uống gì cũng thấy thích, món nào cũng
    thưởng thức được. Nói thế để biết là, dù ngon đến mấy, đặc sản đến mấy,
    đặc biệt đến mấy thì cũng chỉ với đa số người thôi chứ không thể với tất
    cả mọi người được.
    Quay ra nhìn châm cứu lục khí ta thấy, để kích hoạt các huỵệt lục khí để
    chúng vận hành, nhằm ổn định bổ mạch, ổn định lục khí, đẩy lùi bệnh tật
    trong cơ thể thì việc dùng salonpas quả thật rất tuyệt vời, vừa tiện dụng,
    vừa rẻ tiền, vừa không đau đau một chút nào, đồng thời còn biến bệnh
    nhân thành thầy thuốc của chính họ tức là họ sẽ theo sự hướng dẫn của
    thầy thuốc để dán huyệt tại nhà, salonpas quả là một thứ “đặc sản” trong
    việc kích thích huyệt lục khí và môn châm cứu lục khí. Nhưng trên thực
    tế của hoạt động du lịch thì không phải lúc nào khác du lịch cũng thích ăn
    đặc sản, không phải bạn cứ bẻ tour vào những nhà hàng chả cá lã vọng,
    nhà hàng bánh tôm hồ tây mà họ lại thấy thỏa mãn, thoải mái mà nhiều
    khi họ lại thích ăn những món thật thông thường ví dụ như kẹo lạc chẳng
    hạn mà lại thấy ngon thấy thích.Trên thực tế lâm sàng trị liệu bằng châm
    cứu lục khí ta thấy thế này,nhiều bệnh nhân sau khi dùng salonpas dán
    huyệt thì mạch chuyển ngay lập tức lại còn chuyển rất đẹp nữa, nhưng có
    người dán huyệt thì lại thấy mạch chuyển chậm, thêm huyệt cũng vẫn thấy
    chậm, tuy nhiên nếu như “đổi món” sang dùng kim châm vài huyệt trong
    bộ huyệt đã dùng thì lại thấy mạch chuyển ngay, và chuyển đẹp nữa. Có
    người thì phải dùng ngải cứu để hơ lên huyệt, có người thích hợp với day
    bấm, có người lại thích mắc điện vào kim châm cứu – điện châm v.v…rất
    là đa dạng. Nên là nếu thầy chữa chỉ biết nấu món “đặc sản” thôi thì nhiều
    khi chưa đủ, ngon mấy thì ngon, sạch mấy thì sạch nhưng một khi đã
    không hợp khẩu vị là không hợp khẩu vị, nên đa dạng “thực đơn ẩm thực”
    của mình, để mà nhiều người khách du lịch thấy thích thú khi đi du lịch
    với châm cứu lục khí của Việt nam.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading