Châm cứu theo “Y DỊCH LỤC KHÍ” là một lối châm riêng biệt đặc thù
của người Việt Nam, kết hợp và thừa kế sự vận dụng lục khí với nhóm Cổ
Du huyệt (huyệt lục khí, huyệt ngũ du), phố hợp với mạch lý để chẩn đoán
trị liệu, nâng cao trình độ nghiên cứu, lý luận đối với môn châm cứu, liên
quan đến y dịch. Thầy Trần Ngọc Hậu (Lão y Vuông Tròn) đã bỏ nhiều
công sức và tâm trí để nghiên cứu và để lại bộ sách viết tay “KHÍ HÓA,
Y LÝ HÓA, TRONG CHÂM CỨU Y ĐẠO”. Đây là một công trình đặc
biệt, một điểm son về châm cứu Việt Nam, mở đường cho môn Y dịch lục
khí ra đời.
Thời gian trôi đi, bộ môn Y dịch lục khí đã có nhiều câu lạc bộ, nhiều
nhóm phát triển khác nhau. Môn Y dịch lục khí đã và đang được đem vào
áp dụng trong nhiều phương diện khác nhau của YHCT Việt Nam, như
chẩn mạch, thảo dược, châm cứu, thời châm…
Với chúng tôi việc có “duyên” với thầy Đặng Đức Thảo, người đã làm
sáng tỏ rất nhiều về Châm CứuLục Khí (CCLK) quả là rất may mắn, nhờ
những bài giảng rất cẩn thận và tỷ mỉ của thầy mà dần dần chúng tôi đã
thâm nhập, mở được cửa vào căn nhà Lục khí. Nhờ thầy Thảo soi rọi,
chúng tôi biết sử dụng huyệt lục khí theo các phương pháp châm: thủ
châm, âm châm, dương châm, túc châm, dùng 1 bộ rưỡi, dùng 2 bộ, dùng
3 bộ … những phương pháp châm này quả là hết sức vi diệu, đơn giản và
hiệu quả khác thường, khác hẳn so với những pháp châm đã có trước đây.
Chìa khóa để áp dụng CCLK nằm ở: BỘ MẠCH LỤC KHÍ – HUYỆT
LỤC KHÍ – PHÁP HÒA.
BỘ MẠCH LỤC KHÍ: được hình thành dựa vào Tiên thiên bát quái, và
lý luận của Y dịch lục khí
HUYỆT LỤC KHÍ: được tìm ra dựa vào việc xác định lại giá trị của Nhóm
huyệt ngũ du, huyệt nguyên, huyệt lạc, huyệt khích và Kì kinh bát mạch.
Khi một người có bệnh ở một cơ quan bộ phận nào đó, một kinh mạch
nào đó hoặc bị mệt mỏi toàn thân thì khi xem mạch thốn khẩu chúng ta sẽ
87
thấy Bình mạch sẽ biến đổi thành mạch bệnh. Ngay lập tức sự cân bằng
động của lục khí THỔ – THỬ, KIM – MỘC , THỦY – HỎA trong cơ thể
bị thay đổi ngay lập tức. Tùy vào mức độ nặng nhẹ của bệnh, thời gian bị
bệnh, vị trí bị bệnh thì 6 bộ mach THỐN – QUAN – XÍCH ở hai tay phải
và trái sẽ thay đổi và có dạng của 1 trong 8 quẻ của bát quái.
Bộ mạch lục khí thay đổi là sự phản chiếu của cơ quan ha bộ phận đang
có bệnh. Tác động vào các huyệt lục khí để điều chỉnh mạch bệnh thành
Bình mạch là cách trị bệnh cũng như phòng bệnh TỰ NHIÊN nhất, vì NÓ
LÀM CHO CƠ THỂ TỰ ĐIỀU CHỈNH lấy để đạt được trạng thái cân
bằng ổn định su đó.
Hình thức tác động lên các huyệt lục khí rất đa dạng và phong phú, tùy
hoàn cảnh, thời gian và điều kiện mà người thầy thuốc hoặc bệnh nhân
tùy biến lựa chọn: châm kinh, day huyệt, dán cao salonpas, ấn huyệt bằng
bút, bằng đũa, xoa nhẹ lên huyệt, day phớt, chấm cao …
Việc lựa chọn THỦ CHÂM, TÚC CHÂM, ÂM CHÂM, DƯƠNG CHÂM
là tùy vào tình trạng mất cân bằng của Âm Dương, Khí Huyết trong cơ
thể nói chung, và trong các kinh mạch bị bệnh nói riêng. Công phu bắt
mạch được luyện tập lâu dài, cộng với kinh nghiệm và trực giác sẽ giúp
người thầy thuốc mau chóng quyết định mình sẽ sử dụng bộ huyệt nào,
theo cách châm nào để lập lại cần bằng hay HÒA được lục khí trong cơ
thể người bệnh nhanh nhất. Ngoài ra sự Quán tưởng và suy ngẫm hằng
ngày về lục khí cũng là bí quyết giúp người thầy thuốc hiểu rõ mối liên
hệ của lục khí trong cơ thể một cách sâu xa và nhanh chóng.
88
ƯU ĐIỂM TRÊN LÂM SÀNG CỦA CHÂM CỨU LỤC KHÍ

Lý luận

Hệ thống lý luận của châm cứu lục khí xây dựng trên cơ sở các học thuyết cơ bản của triết học phương đông đó là: kinh dịch, âm dương, kinh lạc, tạng phủ, lục khí, tam tài

Việc sử dụng hành Thử kết hợp với các học thuyết trên đã làm cho bộ môn cclk mang tính logic, đầy đủ, trọn vẹn đã làm sáng rõ hơn rất nhiều những “uẩn khúc” hiện đã và đang còn tồn tại trong bộ môn châm cứu hiện nay

Nguyên tắc trị liệu lấy việc hòa hợp và cân bằng của lục khí trong cơ thể bao gồm : Thổ – Thử, Kim – Mộc, Thủy – Hỏa. Theo y học cổ truyền, gốc của tất cả bệnh tật trong cơ thể con người là do sự mất cân bằng về âm dương, khí huyết… nếu như có một phương pháp nào có thể lập lại được cân bằng của âm dương, khí huyết … thì phương pháp đó sẽ điều chỉnh được gốc của các loại bệnh tật khác nhau đang tồn tại trong cơ thể đó. Vì thế cclk không chỉ tập trung vào việc chữa một bệnh nào đó mà hơn thế nữa nó còn điều hòa, lập lại cân bằng của âm dương trong cơ thể từ đó những bệnh khác nữa sẽ cùng được bình phục

Chẩn đoán

Lấy nền tảng cơ bản là tứ chần: Vọng chẩn, Văn chần, Vẫn chẩn và Thiết chẩn, nhưng phương pháp chẩn đoán của celk tập trung phần lớn vào thiết chẳn tức là sử dụng phương pháp xem mạch để tìm tận đến gốc rễ của bệnh tật

Dùng bát quái (tám quẻ đơn) ứng dụng vào chắn mạch làm cho những người hậu học hoàn toàn có thể nắm rõ, thuần thục phương pháp thiết chẳn chỉ với một thời gian ngắn học tập, không còn tình trạng mơ hồ, học mãi không thông, không rõ như

trước kia nữa

Ngoài ra môn cclk chỉ sử dụng duy nhất một bộ mạch mang tên “bộ mạch lục khí” đề

áp dụng trong chẩn đoán cũng đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong việc tìm ra gốc

của bệnh tật nằm ở đâu.

Sử dụng bộ mạch để tìm huyệt, đánh giá kết quả châm cứu ngay sau khi châm là

điểm đặc biệt khó có thể tìm thấy ở các phương pháp châm cứu khác trên thế giới

Cách châm

Châm bố hay châm tả hay bình bố bình tả?

Châm nông hay sâu?

Châm có cần đắc khí hay không?

Đây là một loạt các câu hỏi mà những người học châm cứu dù học nhiều năm đều vẫn có sự “lấn cấn” trong điều trị lâm sàng. Vì thật sự là có rất nhiều kiểu châm khác nhau, rất nhiều thủ pháp bố tả khác nhau, rất nhiều ý kiến khác nhau xung quanh những câu hỏi lớn này trong bộ môn châm cứu.

Vậy ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi lớn này ở đâu, và làm sao chúng ta có thể biết được đáp án đấy là đúng hay là sai. Vậy thì phải có một tiêu chuẩn nào đó để đánh giá sự đúng đắn trong việc trả lời các câu hỏi này, Rất may, chúng ta đã có một công cụ kiểm chứng đó chính là mạch lý, tức là sao? Tức là sau khi châm dù là châm bố hay tả hay bình bố bình tả, dù là nông hay sâu, hoặc đắc khí hay không thì nếu mạch của người bệnh sau khi châm và lưu kim phải chuyến về mạch của người bình thường, tức là bình mạch thì cách châm đấy là đúng, còn nếu chỉ chuyển biến một bộ mạch hoặc chỉ chuyến một lúc rồi sau đó lại trở về với tình trạng mạch bệnh thì chắc chắn rằng cách châm đó là sai. Chúng ta hãy xem sự giải thích từ châm cứu lục khí:

Châm cứu lục khí không châm bố, không châm tả

Châm cứu lục khí chấm cạn, chỉ cần qua da là được

Châm cứu lục khí châm huyệt không bắt buộc phải châm cho đến đắc khí

Sau khi châm xong bộ mạch ở hai bên tay sẽ chuyển thành đúng với dạng bình mạch mà châm cứu lục khí đã nói từ trước đó là: bộ quan hai bên cao hơn thốn xích, thốn xích ngang bằng nhau, mạch đi hữu lực, càng lưu kim lâu mạch càng có dạng bình mạch một cách rõ ràng.

Ứng dụng

Cũng như châm cứu cổ điển từ trước đến nay, châm cứu lục khí có phạm vi ứng dụng tương tự như thế.

Tuy nhiên có một số yếu tố sau giúp cho cclk có phạm vị điều trị rất rộng rãi và an toàn

Thứ nhất: không dùng thủ pháp bổ hoặc tả

Thứ hai: chỉ dùng salonpas dán trên huyệt hoặc nếu châm thì cũng chỉ châm qua da

Thứ ba: tìm ra huyệt nối của tĩnh huyệt kinh âm là hợp huyệt của kinh dương có hành đối nghịch

Thứ tư: pháp chữa là pháp Hòa

Chính vì những yếu tố này làm cho bộ môn cclk có thể áp dụng vô cùng rộng: phụ nữ mang đang mang thai, phụ nữ đang cho con bú, trẻ em, người già, người rất ốm yếu …

Tác dụng

Lấy việc điều chỉnh bộ mạch lục khí từ dạng mạch bệnh trở về dạng bình mạch, cclk tuy chỉ dùng salonpas dán lên các huyệt lục khí hoặc châm kim rất nông nhưng khi dùng đầy đủ chọn bộ mạch thuộc thủ châm, túc châm, âm châm hay dương châm thì nó có tác dụng điều chỉnh bộ mạch rất cao và nhanh. Chính vì vậy mà tác dụng chữa bệnh, tác dụng điều chỉnh các triệu chứng cấp tính rất tốt. Ví dụ như có người bị sốt cao, bạn có thể dụng 1 bộ huyệt bất kì vd: bộ hỏa thủ châm 13 huyệt thì chỉ sau 5-10 phút day bấm các huyệt này thì bệnh nhân sẽ đỡ sốt ngay. Hoặc nếu bạn bị đau đầu cũng vậy, hãy thử dùng 1 bộ huyệt nào đó, dù là thủ châm, túc châm hay âm châm hoặc dương châm thì chỉ sau một thời gian ngắn day bấm bạn sẽ thấy đầu của mình đã nhẹ đi một chút rồi.

Ngoài tác dụng đối với các bệnh cấp tính, hoặc triệu chứng cấp tính, cclk còn có tác dụng điều chỉnh bệnh tận gốc rễ của nó, vì cclk dựa vào bộ mạch để điều chỉnh, nếu mạch của người bệnh chuyển hoàn toàn sang dạng bình mạch một cách vững chắc thì người đó đã được điều chỉnh gốc bệnh

Thêm một điều thú vị nữa là, khi áp dụng cclk nếu cơ thể bạn đang có độc tố tích tụ ở đâu đó, trong hệ tiêu hóa, trong máu, trong gan thì khi áp dụng các bộ huyệt trị liệu thì cơ thê bạn sẽ sảy ra quá trình giải độc, Độc tố sẽ đi ra khỏi cơ thể của bạn bằng nước tiểu, bằng đường đại tiện, bằng mồ hôi…ví dụ khi bạn uống vài cốc bia hoặc vài chén rượu mà đã thấy đầu hơi “lầng lâng”, nếu bạn dùng 1 bộ huyệt trị liệu thì thường bạn sẽ thấy rất là buồn ngủ, mồ hôi bắt đầu rịn ra bề mặt của da bạn, và khi bạn ngủ dậy sẽ thấy cơ thể thoải mái, dễ chịu không còn thấy sự mệt mỏi, uể oải nữa.

Huyệt vị

Một điều chứng minh lý luận của châm cứu lục khí là đầy đủ, trọn vẹn, có tính logic và hợp lý là việc thầy chữa sử dụng cclk có thể dùng được các huyệt ngũ du, huyệt kì kinh bát mạch, huyệt lạc, huyệt khích, huyệt nguyên cùng phối hợp với nhau trong một đơn huyệt để cùng phối hợp trong điều trị

Châm cứu cổ điển có những giải thích không được đầy đủ và thấu đáo cho công năng của các huyệt vị. Khó có thể dùng lỗi lý luận này để sử dụng được ngũ du huyệt, nguyên huyệt của kinh âm, khích huyệt …

Hiện tại các đơn huyệt thường dùng đều là được lưu truyền trong sách vở từ xa xưa, các kinh nghiệm của những người đi trước, người ta khó có thể giải thích với đầy đủ vai trò của các huyệt đạo được chọn trong phương huyệt đấy, huyệt nào là chính huyệt nào là phụ, huyệt nào bỏ đi được huyệt nào không bỏ đi được… và sẽ còn rất nhiều câu hỏi với các nhà châm cứu hiện nay.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading