NGẢI DIỆP
“ Ngải Diệp ôn bình, khu tà trục quỷ, Lậu huyết an thai, tâm thống tức dũ”.
BIỆT DANH
Ngải Cao, Huỳnh Thảo, Băng Đài, Y Thảo, Tiếng Việt Nam gọi là lá Ngải Cứu hay thuốc cứu.
HÌNH LOẠI
Thụộc loại thấp thảo.
1
ị
.Trang 196
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Gan Tỳ, kiêm vào Thận, để trị bệnh nhiễm lạnh lâu ngày, và làm cho khởi khí dương sắp hết.
TÁNH VỊ
Vị đắng, tánh hơi ấm, không độc.
CHỦ TRỊ
Là thuốc cần thiết dùng để cứu tất cả bệnh, cũng còn làm thuốc uống trị tử cung lạnh, điều kinh, cầm máu, an thai. Dã lấy nước tươi uống cầm bị thương ra máu và trừ lãi đũa.
KINH NGHIỆM
Ngải Diệp lúc sống rất cay, khi chín thì hơi cay rất đắng. Còn sống ấm, chín nóng. Thuộc loại thuần dương. Có thể lấy Thái Dương chơn hỏa, có thể thâu hồi nguyên dương sắp đứt, uống vào thì chạy về phần âm để trục tất cả hàn thấp. Dùng cứu thì thấu các kinh để trị các bệnh. Chữa bệnh trầm kha các loại hàn tà, công dụng rất lớn.
CẤM KỴ
Phụ nữ huyết nóng, kinh đi trước ngày, dùng phải cẩn thận.
DỤNG LƯỢNG
Từ 5 phân đến 1,5 chỉ. Dùng cứu thì không hạn.
PHỤ LỤC
Ngải Diệp rất quan hệ đến thổ nghi và phân bón. Những xứ lạnh, thí dụ Thụy Sĩ, hoặc bón phân hóa học thì lá rất to, mà công dụng rất ít. Những miền cằn cỗi hoặc những xứ ấm, nóng thì tánh chất càng mạnh, cay đắng càng nhiều. Dò sâu vào thực nghiệm thấy Ngải Diệp thuộc loại thảo nhạy lửa, trong chứa nhiều chất lòng trắng trứng. Khi khô rồi vị rất đắng, ít cay, tánh thuần dương. Chuyên làm ấm Gan và mạng môn, để chữa những bệnh hệ thống Gan và tử cung bị nhiễm hàn thấp sanh nước chua rất hay. Nên phương xưa trị bệnh tử cung có phương “Tứ Vật Giao
Ngại”. Khi nào gặp trường hợp tả thốn không chìm hư, màjả qưan hữư xích trì nhược, nhất là phụ nữ càng rất cần hon.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading