NGATRUẬT
“Nga Truật tánh ôn, hành khí phá huyết, Tiêu tích công kiên, thông Can trục ứ”
BIỆT DANH
Mê Dược, Nga Mậu, Quảng Mậu, Hồng Truật, Bồng Nga Truật, Bồng Nga Mậu, Thanh Cương.
HÌNH LOẠI
Là củ của một loài thảo mọc hoang trong rừng núi, có hàm chứa nhiều chất dầu măng màu vàng lợt đậm đặc, chất mủ cây và chất bột.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Gan để giải trừ huyết tích trệ trong phần khí của Gan.
TÁNH VỊ
Vị đắng cay, tánh ấm, không độc.
Trang 194
CHỦ TRỊ
Là thuốc cần thiết để hành khí phá huyết, tiêu tích, có công năng phá kết cứng, hành trệ, mạnh Vị, trừ đàm, thông kinh, trục ứ, trị bệnh trật đả, tổn thương, huyết độc kết lại.
KINH NGHIỆM
Nga Truật, Tam Lăng, Cương Hoàng tánh gần giống nhau, cùng là phá huyết, hành khí, tiêu cứng hóa trệ, nhưng không mãnh liệt như Đại Hoàng, Bã Đậu, Đại Kích, nên người ta thường dùng để làm tiêu mòn tích trệ hợp với thuốc phò chánh để thâu hưỡn công. Gặp rượu, gặp giấm rất tốt.
CẤM KỴ
Phàm khí huyết đều hư, Tỳ Vị vốn yếu, không có tích trệ đều kỵ.
DỤNG LƯỢNG
Phổ thông dùng từ 8 phân đến 2 chỉ.
PHỤ LỤC
Sở dĩ gọi nó là Nga Truật vì củ ở trên tựa củ gừng, dưới củ có trứng tựa như các thứ trứng không như nhau, nên gọi là Nga Truật. Sự thật là của Ngải Xanh. Áp dụng vào thực tế, thì thấy đối với chứng Tây Y gọi là Gan Chai (là bệnh Cam Tích)
Trang 195
thì Nga Truật là thuốc thánh, nhưng phải tả_quan cứng^gấp, nếu chỉ thấy ở tạng Gan mà tượng mạch không thấy, thì dùng phải châm chước. Nếu Gan không có bệnh thì chớ nên dùng, điều nầy không riêng về Nga Truật. Tất cả các thứ cây lên một mùa, củ sống nhiều năm như Tam Lăng, Nga Truật, Cương Hoàng, hay Nghệ Xà Cừ cùng tất cả dạng củ dạng lá tương tự đều có công năng trừ tích trệ, trị chai cứng rất hay, nhưng phải tùy thuộc vào màu sắc, khí vị, tánh chất đi vào tạng nào thì có công dụng ở tạng ấy.

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc