- LOÀI MỄ CỐC
- Cánh mế: Gạo tẻ, mùi thơm ngon, tính mát bình, dưỡng vệ điều vinh, đại bồ cho cơ thể, nhờ đó làm nguồn sổng. Một tên gọi là Cương mề, trong tráng ngon thơm, gạo hiến cho nhà vua dùng gọi là Ngự mễ,
- Dạo mễ: Gạo nếp, một tên gọi là Nhu mễ, một tên gọi là Dư mễ, vị ngọt, tính ăm, thơm mềm, dẻo, bổ, trung ích thận, trị đi tiểu ra chất nhờn (đái dưỡng trap: cao lâm), trị các chứng ẩu thổ đau bụng, tỳ vị hư yếu.
- Lang vĩ: Hột kê, vị ngọt, tính bỉnh, không độc, ăn đỡ đo’i, chảc ruột mạnh dạ dày, dùng ăn chống đói khi mất mùa ít dùng làm thuốc.
- Hồ ma tử (Hột vừng): Hột lòng trứng (mè), có tên là chi ma, vị ngọt, hàn, lành, trơn chảy, nhuận trường, giải độc, tiêu nhiệt kết, sát trùng, thúc đẻ, chữa mụn lở.
- Mạ du: Dàu mè, có tên là Hương du, vị ngọt, hân, lành, trơn chảy, nhuận trường, giải độc, tiêu nhiệt kết, sát trùng, thúc đẻ, chữa mụn lở.
- Ý dĩ: Hột Ý dĩ, vị hơi ngọt, tính hơì hàn, không độc, trừ phong, thấp, nhiệt, trị co quắp, uổng lâu nhẹ mình tăng trí nhớ.
- Hắc dậu: bột Đậu. đen, vị ngọt, tính hòa không độc, trị được nhiều bệnh, trừ phong, thấp, nhiệt, giải độc, công hiệu kể không cùng.
- xỉch tiểu dâu: Hột Đậu đỏ, vị ngọt chua, tỉnh bình không độc, kiêm cả công và bổ, trị chứng mụn lở, thủy thũng, đi tả, đau buốt, bế trướng, đái tháo và nôn mửa.
- Lục dậu: Đậu xanh, vị ngọt, hơi tanh, tính hàn, không độc, bổ ích nguyên khí, ‘. thanh nhiệt giải độc, thanh tiểu tiện, chửa lở, lãm sáng mắt.
- Bạch dậu: Hột Đậu trắng, vị ngọt, tính mát không độc, khai thông, ẫm bụng, mạnh chân thủy, trừ bệnh lao truyền nhiễm, giúp 12 kinh, hòa 5 tạng.
- Bạch biển dậu: Đậu ván trắng, vị ngọt, tỉnh mát không đpc, hòa các tạng, trìí phong, giải cảm náng, mạnh tỳ, trị thổ tà, nôn ói, tiêu độc.
- Đao dâu: Đậu rựa, vị ngọt, tính bình, không độc, ích nguyên khi, ấm trong lòng, -khoan khoái ruột, khi bị nấc cụt cho uống thì hạ ngay.
- Đậu sị: Vị đắng, tính hàn, không độc, kiêm cà bổ và công, các chứng lục dâm đều chửa được cả, hơn 40 phương thuổc dùng đến no’.
Cách chế Đậu sị: Mùa hè tháng 5 – 6, chọn hột đậu đen to béo, tùy dùng nhĩẽu ít, bỏ vào nước, hột nào nổi lên thì bỏ đi, ngâm một đêm, vớt ra cho ráo, đổ vào nôi hông đồ chín, rải ra trên chiếu, chò lức hơi âm ấm, liền lấy Thanh hao trài lên một lớp dày độ 3, 4 ngày xem lại thấy đã sinh vàng đều, đừng để lên mốc nhiều quá, đem ra phơi khô, sấy sạch mốc vàng, lấy nước tưới đều, vùa ướt tay làm chừng, rồi đổ vào vò, lấy lá dâu đậy lên dày độ 3 tấc, lấy bùn trát kín, phơi ra giữa nắng 7 ngày, bỏ lá dâu cũ đi, lại mang phơi một lúc ròi lấy gạo tráng trộn vào, lại lấy lá dâu khác ủ lên rồi trát bùn lại, làm như thế 7 lần cộng 49 ngày lại cho vào nòi hông đồ qua phơi khô, cất kín mà dùng.
- Trằn Thương mễ: Gạo thóc lâu năm, chua hơi mặn, tính ẩm, không độc, ít khí mạnh tỳ, thông huyết mạch, trừ phiền, chữa đi lỵ và đau bụng.
- Tửu khúc: Bánh men rượu, vị ngọt, tính ấm, không độc, khoan khoái trong lòng, khai vị, trừ đàm tích, khi nghịch, hòn cục trong bụng và chữa hoác loạn (thổ tả).
- Mế thố: Giấm tinh (giẫm thanh) cũng gọi là Khổ tửu. Vị đắng, chưa, không độc, khí ân, tính chạy khắp, làm mềm chất rán, phá hòn cục, thu liêm vết thương, tiêu hạch khỏi đau, tan đinh nhọt sưng tăy.
- ‘Hảo tửu: Rượu tăm, (rượu đế) vị đắng, ngọt, cay, tính nhiệt có dộc, khử tà, hạ khí, hành huyết, khai uất, trừ phong, dũng để tẩm chế các vị thuốc-
- Tửu tào: Bã (Hèm) rượu, vị ngọt, cay, tỉnh không độc, dẫn tiêu thức ăn, ẩm trong lòng, trừ máu ứ, chữa bệnh lở, nẻ, bị đánh, bị ngã và bị trùng thú cắn.
- Khang Tỳ: Cám, vị ngọt nhạt, tính hòa bình, hạ khí, thông ruột, phá tan hòn cục, trị chứng nghẹn, ọe.