10.1.MIỆNG Ngũ tạng lục phủ đều nhờ khí của vị, khí của ngũ tạng lục phủ cũng đều phát hiện ở vị, miệng là của ngõ của vị. Cho nên khí của ngũ tạng lục phủ đều hiện ra ở miệng. Miệng đắng là do đảm nhiệt. Dùng Tiểu sài hồ gia Hoàng liên. Miệng ngọt là tỳ nhiệt, dùng Giáp kỷ hóa thổ thang gia Hoa phấn , Nhân trần, Sao chi, Phục linh, Chỉ xác, Hoàng cầm, Hậu phác, Thạch cao. Miệng chua là do thấp nhiệt, xem như trời nóng, canh và thịt cá để cách đêm đều chua, thì biết rằng chua là do thấp nhiệt sinh ra, dùng Cát căn hoàng cầm hoàng liên thang gia Phòng kỷ, Nhân trần, Mộc thông, Hoạt thạch, Hoa phấn, Bạch linh, hoặc dùng Thương truật, Hoàng bá, Hoàng liên, Ngô thù du cũng trị được vậy. Miệng mặn là do tỳ thấp nhuận xuống làm vị mặn, tỳ không hóa thủy cho nên mặn, vậy dùng Nhị trần thang giaToàn phúc hoa, Hoắc hương, Bạch thược, Đàn hương, Ngô du. Hoặc dùng Vị linh thang hoặc Lục vị thang gia Toàn phúc hoa, Ngưu tất, Bạch tiền theo thận trung để hóa thủy nạp khí đi xuống là dùng phép cách trị vậy. Miệng lạt là do vị hư, theo hàn nhiệt để gia giảm, miệng có rít lại là phong nhiệt, dùng Thông thánh tán bỏ Mang tiêu, Đại hoàng. Miệng tê là do huyết hư, dùng Thánh dũ thang gia Bạc hà. Miệng thối là do hỏa của thực tích, dùng Bình vị tán gia Sơn tra, Mạch nha, Thần khúc, Hoàng cầm và Thạch cao. Miệng lở loét là do bàng quang đem nhiệt cho tiểu tràng, nhiệt khí không thể tiết xuống được cho nên sinh lở loét miệng, dùng Đạo xích tán gia Hoa phấn, Thiên môn, Mạch môn, Kim ngân hoa, Đăng tâm, Xa tiền, Chi tử. Họng tanh là do phế hỏa làm trệ đàm, dùng Tả bạch tán hợp Cam kết thang, gia Xạ can, Mã đâu linh, Hoàng cầm, Hạnh nhân, Bối mẫu, Thiên môn, mạch môn, Bách hợp, Qua lâu. Tóm lại: Miệng là của ngõ của vị, nên lấy trị vị làm chủ, nên phân ra hàn nhiệt mà trị, dùng Cam lộ ẩm, Bình vị tán gia giảm mà dùng.
10.2.LƯỠI Lưỡi là cái mầm của tâm mà ở trong miệng, khí của tạng phủ phát hiện ra miệng đều liên quan đến lưỡi, cho nên xem rêu lưỡi có thể xét biết các bệnh của tạng phủ. Thương hàn tà còn ở biểu thì lưỡi không có rêu, ở bán biểu bán lý thì lưỡi có rêu, khi nhập đến lý thì rêu kết lại, cho nên hễ có rêu đều là chứng bên trong. Rêu trắng là thấp nhiệt, dùng Tiểu sài hồ thang gia Hoa phấn, Thạch cao, Hoạt thạch, Mộc thông. Rêu vàng là do táo nhiệt, dùng Tê giác địa hoàng thang gia Tri mẫu, Thạch cao, Hoa phấn, Đại hoàng, Chỉ xác. Rêu đen có gai ở thực nhiệt, dùng Đại thừa khí thang, nếu rêu đen mà lưởi trơn mềm là thủy cực độ giống như hỏa, là chứng chân hàn giả nhiệt. Dùng Tứ nghịch thang gia Trư đảm trấp, Nước tiểu, Thông bạch. Huyết gia có hư hỏa nên dùng Đại hoàng thang gia Ngưu tất, Ngũ vị, Long cốt, Nhục quế để dẫn hỏa đi xuống. Phàm lưỡi sưng, lưỡi nức ra đều là hỏa độc của tâm tỳ, dùng Tả tâm thang hay Đại thanh lương tán. Nếu cuống lưỡi bị cứng hay lưỡi co ngắn lại đều là kinh thiếu âm bị phong tà động ở bên trong, âm hỏa vượt lên, dùng Đại hoàng ẩm tử gia Linh dương giác. Trên đây bàn các chứng của miệng lưỡi, cần lấy huyết chứng làm chủ, tham khán các phép trên đây thì gốc ngọn đều đủ.
10.3.YẾT HẦU Yết hầu là cửa của phổi, là ngõ của vị, kinh mạch thiếu âm tâm nối vào đó, can kinh xung mạch củng khớp vào đó, bốn kinh ấy đều là do huyết giữ gìn, cho nên thất huyết gia thường thường có chứng yết thống (đau hầu họng).
Phàm chứng yết thống mà tiếng không thanh là do phế hỏa, phế chủ khí, trong khí quản đau cho nên tiếng không thanh. Dùng Cam cát thang gia Mã đâu linh, Hoàng cầm, Hạnh nhân, Xuyên bối mẫu, Hoàng liên, Mạch đông, Bách hợp, Bạc hà. Nếu yết thống mà ăn uống không lợi là do vị hỏa, miệng trên của vị là thực quản, thực quản bị đau cho nên ăn uống không lợi. Dùng Bạch hổ thang gia Kim ngân hoa, Cát cánh, Chỉ xác, Đại hoàng. Yết hầu đau mà thở ngược lên mà đỏ là do hỏa can kinh xung mạch ngược lên. Dùng Ngọc nữ tiễn gia Toàn phúc hoa, Xạ can, lại dùng một chút An quế (Quế tốt ở việt nam) sao muối để dẫn hỏa đi xuống. Trong họng sưng tắc cùng là lở loét, đều là hỏa của thiếu âm tâm kinh, nên dùng Tả tâm thang gia Sơn đậu căn, Ngưu bàng tử, Cát cánh, Cam thảo, Bac hà, Tế tân, Đảm tinh, Ngưu bàng. Còn sưng tắc thì dùng móng tay chân của người ta, Kê nội kim, Cấp tính tử (hột bông móng tay), Toàn yết, hợp cùng Ba đậu sao kỹ, sau đó bỏ BA đậu đi gia thêm Hỏa tiêu, Bằng sa, Băng phiến, Đởm phàn, Thanh đại, Hoàng liên, Khô phàn tán nhỏ thổi vào để thổ đàm huyết ra thì khỏi. Lở loét thì ngoải dùng Hùng hoàng, Hoàng liên, Trân châu, Tang phiêu diêu, Hàn thủy thạch, Ngưu bàng, Bằng sa, Xạ hương tán nhỏ thổi vào. Lại có chứng mai hạch nên xem ở đàm ẩm, xét rằng huyết gia yết thống phần nhiều là lui hỏa của phế vị cùng là xung mạch hỏa nghịch lên, các đều khái thấu đã nói rõ ràng, lao trùng ăn họng nói rõ ở thanh âm môn, nên xem cho tường tận.
10.4.THANH ÂM (Tiếng nói) Thất huyết gia mới mắc bệnh mất tiếng phần nhiều là phong hỏa, thanh âm thì chủ ở phế, phế kim trong sáng thì thanh âm rõ ràng. Khi thất huyết gia phế kim âm hư bị hỏa làm hại, phế khiếu không thông, mũi tắc, khan tiếng, nếu là ngoại cảm làm bế khí thì nên dùng Tiểu sài hồ thang gia Hạnh nhân, Cát cánh, Kinh giới, Bạch hà. Nếu trong phế có thực nhiệt, úng tắc phế khiếu mà âm thanh bị bế tắc, thì dùng Nhân sâm tả phế thang. Lại có chứng tân dịch khô khan, phế nuy lá phổi héo đi mà tiếng nói khan nhỏ, là chứng thất huýêt gia phế bị hư nhược. Dùng Nhân sâm thanh phế thang hay Thanh táo cứu phế thang. Dùng Mật ong, Xuyên bối, Xuyên bối mẫu, Nhân sâm, Bồ đào, Bách hợp chưng lên mà ngậm. Lại có chứng lao trùng ở trong phổi, ăn nát lá phổi, kim bị bệnh mà không kêu (kim phá bất minh), trong họng bị ngứa, ho suyễn phát sốt li bì, đây là chứng lao trái khó chữa. nên dùng Bách bộ, Nhân sâm, Minh hùng, Hải tảo, Bạch cập, Bách hợp, Tàm sa, Sạ hương, Cam thảo, Cát cánh, Gan rái cá, Xương cá lạc tán ra mà uống. Phàm chứng lao trái mà hầu họng bị vỡ nát, đều là chứng bất trị, đều dùng phương thuốc trên. Ngoài dùng Trân châu, Nhân sâm, Ngưu hoàng, Minh hùng để thổi vào. Thanh âm là khí theo đi ra, khí gốc ở thận, cho nên thanh âm phát ra thực là bởi thận sinh ra, khí không về gốc thì ho càng nhiều, khí càng ngược lên mà tiếng càng rít lại. Dùng Đô khí hoàn gia Nhân sâm, Trầm hương, Kha tử hay dùng Thận khí hoàn.