KIỆN VONG (Lú lẫn mau quên)
Kiện vong là thoáng vậy mà quên các việc, hết sức nghĩ lại mà không thể nhớ ra các sự việc đã nói hay đã làm rành mạch như thế nào nữa. Bệnh này chủ về 2 kinh tâm tỳ, vì cơ quan của tâm chủ về nghĩ, cơ quan của tỳ cũng chủ về nghĩ, đây là bởi lo nghĩ quá độ, tâm huyết hao tán mà thần không giữ nhà, tỳ khí suy yếu mà ý không mạnh, hay cái ấy đều làm cho người thoáng vậy mà quên hẳn sự việc. Phép trị trước phải dưỡng tâm huyết, trị tỳ khí lấy thuốc ngưng thần định trí mà bổ, cũng nêu ở chổ u nhàn để dứt mọi đều tư lự, thì lâu ngày dần dần được yên, dùng Quy tỳ thang. Nếu tâm kinh hỏa vượng thì hỏa tà quấy nhiễu tâm thần, phép chữa nên thanh hỏa yên tâm, dùng Thiên vương bổ tâm đan. Ngoài ra cũng có chứng đàm lưu ở tâm bào, nấp vào tâm khiếu làm cho tinh thần hoảng hốt, các việc đều không nhớ được. Dùng On đởm thang hợp với Kim sa long chấn tâm hoàn hay Chu sa an thần hoàn gia Long cốt, Viễn chí, Xương bồ, Phục thần, Hoàng đan (sao). Thất huyết gia tâm tỳ huyết hư hằng dễ động đờm sinh hỏa có chứng rất nhiều kiện vong. Nếu tâm có ứ huyết cũng làm cho kiện vong, nội kinh nói rằng: “huyết ở dưới thì như cuồng, huyết ở trên thì hay quên”. Người ta mà không quên là do thần thanh minh vậy, vậy thần là cái gì?, tức là huyết dịch ở trong tâm sáng sủa mềm mại cho nên soi tráng mọi sự vật, huyết ở trên thì trọc trệ thì không sáng.
Thất huyết gia thốt nhiên mắc bệnh kiện vong thường thường có ứ huyết, dùng Huyết phủ trục ứ thang gia Uất kim, Xương bồ. Hay Chu sa an thần hoàn gia Đào nhân, Đan bì, Uất kim, Viễn chí.
6.HOẢNG HỐT
Sau khi mắc đại bệnh thương hàn muốn ăn nhưng không ăn được, muốn nằm cũng không thể nằm, muốn đi nhưng cũng không đi, tinh thần hoảng hốt như co quỉ thần bám vào mình, gọi là bách hợp bệnh, là bảo rằng 100 bệnh qui vào một dòng mà làm thành bệnh vậy, phế chủ 100 mạch, phế phách không yên cho nên mách bệnh như vậy rất nhiều hoảng hốt không thể nào nói hết danh tạng bệnh được, chứng bệnh thấy đái đỏ, mạch sác, là phế kim bị khắc vậy. Ong Trọng Cảnh dùng Sinh địa, Bách hợp, Hoạt thạch để trị, đấy là nói dư tà của tạp bệnh đã làm hóa ra bệnh. Thất huyết gia tâm mạch bị thương hễ thấy hoảng hốt không được yên đều thuộc về bách hợp bệnh, đều nên dùng Thanh kim định phách, dùng Thanh táo cứu phế thang gia Bách hợp, Phục thần, Hỗ phách, Hoạt thạch, Sinh địa, Kim bạc, Địa phách cũng trị được. Hay Quỳnh ngọc cao gia Linh dương giác, Bách hợp, Long cốt. Hoặc dùng Nhân sâm thanh phế thang gia Bách hợp, Hoạt thạch. Phàm những chứng đêm ngủ không yên ổn là do hồn không yên vậy, hồn là dương, đêm thì hồn tàng mà không dùng, hồn không tàng cho nên đêm mộng không yên vậy. Phách là âm, lúc thức ma âm khí không đầy đủ cho nên hoảng hốt không định, trị hồn lấy can làm chủ, còn trị phách lấy phế làm chủ, hai bệnh này đối kháng thì biết, song hoảng hốt kinh quí, chính xung, điên cuồng đều là chứng thần không thanh minh. Người ta có hồn phách mà chủ cho hồn phách là thần vậy, cho nên tất cả các chứng ấy đều lấy an thần làm chủ, dùng An thần hoàn hay Kim bạc trấn tâm hoàn mà chữa. Còn nói năng lẫn lộn là điên, phần nhiều bởi tán tâm thất phách, đàm mê tâm khiếu mà sinh ra, đều dùng Kim bạc trấn tâm hoàn mà chữa. Giận chửi hay chạy nhảy là cuồng, do hỏa là bức bách, tâm thần mê loạn, tay chân táy máy, dùng Cổn đàm hoàn. Thấy quỷ cũng thuộc về điên cuồng dương minh bệnh, vị có phân táo thì trong mắt thấy quỷ, nên dùng Tam thất thừa khí thang để hạ đi, thất gia ứ huyết ở trong cũng nói nhảm. Thấy quỷ vì là thực tà cho nên đều quấy nhiễu sự sáng suốt của mắt, dùng Đào nhân thừa khí thang.
7.VỰNG THỐNG
Thương hàn tạp bệnh đầu choáng đau là phong hàn, huyết gia vựng thống thì phần nhiều là đàm hỏa, dùng lầm thuốc phát biểu càng làm cho bệnh nặng thêm. Đàm khí công lên thì đầu mắt nặng nề mờ lóa, thở cũng khó khăn, đầu như có vật gì trùm lên, mạch tay phải hoạt thực, trời mưa râm thì bệnh nặng thêm lên, đó là bệnh đàm vậy, dùng Nhị trần thang gia Phòng phong, Xuyên khung, Hoàng cầm, Bạc hà, Tế tân, Thạch cao. Bệnh nặng thì dùng Tiêu hóa hoàn. Bệnh hỏa nghịch vượng mà choáng đau thống thì phiền khát uống nước, thấy lửa bệnh càng tăng, ngẩng đầu lên lại càng đau, miệng đắng, họng khô, đái đỏ, tiện bí, tay trái mạch sác thực, đó là hỏa chứng vậy, dùng Đại sài hồ thang hay Đương quy lô hội hoàn, nhẹ thì dùng Tiểu sài hồ gia Cúc hoa. Những lời bàn trên đây đều là choáng đau thuộc chứng thực, ngoài ra lại có choáng đau thuộc chứng hư, nên phân biệt choáng và đau làm hai môn mà trị liệu. Can hư thì đầu choáng, nội kinh nói rằng: “Các chứng phong đầu choáng mắt hoa đều thuộc can”. Can huyết không đủ thì sinh phong, phong chủ động cho nên choáng hoa. Thất huyết gia phần nhiều huyết hư sinh phong, dùng Tiêu dao tán gia Thanh tương tử, Hạ khô thảo, hoặc chỉ tư bổ can tạng để làm căn bản để tức phong. Dùng Tả qui ẩm gia Ba kích thiên, Ngưu tất, Hàn cúc hoa, Tế tân, Kỷ tử. Thận hư đầu thống, Nội kinh nói rằng: “Đầu nhức bệnh ở trên đỉnh đầu là hạ hư thượng thực, lỗi tại thiếu âm vậy”, dùng Lục vị địa hoàng hoàn gia Tế tân, Thông xạ hương. Nếu là thận quyết đầu thống là trọc âm ở trong thận nghịch lên trên đầu, trên thực dưới hư chân tay lạnh lẽo. Nên dùng Thận khí hoàn gia Tế tân, Thông bạch. Sự đau nhức của chứng này liền vào răng vào não cùng với chứng đầu nhức tầm thường có khác nhau, chứng đầu thống của huyết gia như chứng này là có ít, nhưng dùng Lục vị hoàn là nhiều.
Lại nói thêm rằng: Bệnh đầu choáng đau tuy là hai bệnh, thất huyết gia thường thường kiêm thấy cả hai chứng bởi vì huyết hư vì phong động mà choáng, hỏa động thì choáng. Tôi bảo rằng không cần phân biệt can với thận, tổng dùng Tứ vật thang gia Huyền sâm, Kỷ tử, Nhục thung dung, Ngọc trúc, Thiên ma, Tế tân, Tri mẫu, Hoàng bá, Sơn thù và Ngưu tất.
8.NHÃN MỤC (Bệnh vế mắt)
Mắt là khiếu của can, mạch lạc dương minh quanh ở đấy, cho nên làm bệnh đều do lỗi ở hai kinh can va vị. Nhãn châu vàng ra, ở vị kinh thì thuộc thấp nhiệt, bệnh nặng thì khắp mình đều vàng, tiểu tiện không lợi. Dùng Ngũ linh tán gia Nhân trần, Chi tử, Trần bì, Hoàng bá, Tri mẫu. Ơ can kinh là ứ nhiệt, ông Trọng Cảnh có nói rằng: “Nục gia mắt vàng là nục chưa khỏi đó, là huyết có nhiệt vậy”. Phàm là huyết nhiệt thì phần nhiều mắt vàng ra, dùng Tứ vật thang gia Sài hồ, Hoàng cầm, Đan bì, Tô mộc, Nhân trần, Hồng hoa. Nục châu đỏ cũng là ứ huyết, cũng trị như trên. Trong mắt nẩy lửa là vị hỏa quá tăng lên thì kiêm thấy những chứng miệng khát, mình nóng dùng Tê giác địa hoàng thang gia Thạch cao, Hoa phấn, Kim ngân hoa, Chỉ xác. Nhưng cũng có khi dan hỏa vượt ra ngoài thì kiêm có các chứng miệng đắng, tai ù, dùng Đương quy lô hội hoàn. Trong mắt thấy quỷ, một là trong vị có phân táo có khi mờ lóa. Dùng Tam thất thừa khí thang. Hai là can kinh huyết thất có ứ nhiệt dùng Đại sài hồ thang gia Đào nhân, Đan bì. Mắt quầng là phong hỏa của can kinh vậy, xem chứng dương giác phong thì biết nên dùng Tiểu sài hồ thang gia Đương quy, BẠch thược, Phòng phong, Cúc hoa. Mắt hoa là thuộc thận hư, đồng nhân thuộc thận, khách nhiệt phạm vào thì thấy mắt hoa tối đen hay ra ngũ sắc. Dùng Địa hoàng thang gia Kỷ tử chu sa, Từ thạch, Nhục thung dung, Thạch quyết minh, Huyền sâm, Tri mẫu và Tế tân. Lại có chứng dương hư sau khi thổ huyết quá nhiều, thần mắt tan tác hết không thể thấy được, chứng thấy đái nhiều nên dùng Thận khí hoàn. Những lời nói trên đây đều là những chứng của huyết gia hoặc có sinh ra ngoài những chứng đau mắt không huyết gia kiêm thấy thì không nói đến.
9.NHĨ BỆNH
Ông Trần Tu Viên nói rằng: “Thận khai khiếu ra tai, mà thận mạch lại thông lên đầu”. Thận cung với tâm giao nhau, mượn đường của tâm phủ là mạch kinh tiểu tràng để vào trong tai gọi là: “thính cung” là thần giữ việc nghe, hình như hạt châu, có màng bao bọc chân thủy, nếu chân thủy bị vỡ thì tai bị điếc, có khi vì tiếng lớn chấn động mà sinh ra điếc, là màng bọc bị vỡ vậy, hoặc lúc điếc lúc không điếc là tâm thận bất giao vậy, nên dùng Từ chu hoàn để giao tâm thận. Có người trước tai ù rồi sau tai điếc là do thận hư không thể bế tàng âm khí vùi nấp ở dương khiếu vậy, nên dùng Lục vị hoàn bỏ Đan bì gia Từ thạch, Ngũ vị, Quy bản để cho âm khí tự thịnh lên không xúc phạm đến dương khiếu thì khỏi. Nếu bị ngoại cảm mà sinh điếc thì kỵ kinh thiếu dương, túc thiếu dương đảm kinh quanh ngoài tai, thủ thiếu dương tam tiêu vào trong tai bị tà khí úng tắc, thính cung bị che lấp, nên dùng Tiêu dao tán bỏ Bạch truật gia Hoàng cầm, Bán hạ, Sinh khương, Thiên trúc hoàng, Linh dương giác, Ngọc trúc. Phong hỏa đều phiến động lên dùng Phòng phong thông thánh tán. Can hỏa mạnh quá dùng Đương quy lô hội hoàn. Mạch xích nhược dùng Thận khí hoàn.mạch xích sác dùng Đại bổ âm hoàn đều gia Từ thạch, Xương bồ, Nhục thung dung. “Thần nhi minh trí, tồn hồ kỳ nhân” tạm dịch: Lấy thần minh để xét rõ ràng là do ở từng người. Xét câu nói của ông Trần Tu Viên trên đây thật là rõ ràng, nhưng có người bệnh đã lâu ngày hoặc người đàn bà đẻ, trung cung bị hư nhiều quá không thể giữ khí của can thận, để hư hỏa xông lên mà phát ra tai ù, tuy là hỏa của đảm của thận, nhưng cần phải điều bổ tỳ vị để giữ gìn khí của can thận. Dùng Quy tỳ thang gia Sài hồ, Sơn chi, Ngư phiêu (bong bóng cá), Liên tử, Ngũ vị. Hay dùng Tứ quân thang gia Liên tử, Khiếm thực, Ý dĩ, Hoàng tinh, Bạch thược, Hoài sơn cũng trị đựơc vậy.
