HÒNG HOA
“Hồng Hoa tân ôn, hượt lạc hành ứ, Sản hậu huyết vựng, điều kinh họp nghi”
BIỆT DANH
Hồng Lam Hoa, Huỳnh Lam
HÌNH LOẠI
Là một thứ hoa của một loại cây nhỏ, có màu đỏ. Người ta có thể trồng để lấy hoa làm thuốc.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào hệ thống Bọc Tim và Gan, để hượt lạc, lương huyết giải độc.
TÁNH VỊ
Vị cay đắng, tánh ấm, không độc.
Trang 117
CHỦ TRỊ
Là thuốc quan trọng để hượt huyết hành ứ, trị đột ngột thổ ra máu bầm, sản hậu huyết vựng, bệnh đậu huyết nhiệt có độc, trị nguyệt kinh không đều trong bụng kết khối.
KINH NGHIỆM
Sức hành huyết của Hồng Hoa rất mạnh nên cẩn thận dùng ít là hom. Nếu xác nhận có huyết ứ dùng rất công hiệu. Sau khi sanh huyết không ra , Nhau không xuống, dùng đều công hiệu. Nên không có huyết ứ thì không nên dùng. Giống Hồng Hoa sản xuất ở Tân Cưong gọi là Phiên Hồng Hoa, vị ngọt tánh bình, không độc, hượt huyết, khai ứ, trị tâm lo khí muộn, kinh hãi sợ, thương hàn phát cuồng. Ngày nay thường dùng làm thuốc khai vị hành kinh. Giống sản xuất ở Tây Tạng gọi là Tây Tạng Hồng Hoa, tánh vị cũng thế. Khi cho vào nước sôi tan ra như máu, có thể pha 4 lần chưa biến sắc, là thứ thiệt. Chủ về hượt thông kinh, trị thổ huyết, kỵ ăn chung với dầu mỡ loại cay nồng và muối, công dụng rất tốt. Còn giống sản xuất ở Phước Kiến gọi là Thổ Hồng Hoa, rễ lá đều dùng vào thuốc, vị ngọt, tánh hơi lạnh, không độc. Trị lao nhiệt, đản ngược và đau nhức khớp xương.
CẤM KỴ
Kỵ với Trầm Hương, Xạ Hương/có thể làm cho Hồng Hoa biến màu, có thể dùng để trục thai chết, nên đàn bà có thai kỵ dùng. Dùng quá lượng Hồng Hoa có thể làm cho loãng máu hoặc ra huyết không ngừng mà chết.
DỤNG LƯỢNG
Từ 5 phân đến 1,5 chỉ.
PHỤ LỤC
Hồng Hoa tuy là thuốc lương huyết, hượt huyết, thông ứ, nhưng thuộc loại hoa nhuyễn nên chỉ lương huyết, hượt huyết, thông ứ ở phần lạc và tôn lạc của hệ thống Bọc Tim và Gan. Người ta nói: Hồng Hoa vị cay đắng, nhưng thực ra tất cả những vị thuốc thông ứ, hượt huyết đều lấy vị mặn làm nền tảng vào máu.
Loại hoa có tính hượt huyết tan ứ ở hệ thống Bọc Tim và Gan, cũng có rất nhiều thứ, như ở Việt Nam có hoa Trúc Đào, hoa không đỏ sậm, bẻ ra có nhựa trong chảy, tánh lạnh, hơi có độc. Cũng có thể dùng làm thuốc hượt huyết, tan ứ, lương huyết ở hệ thống Bọc Tim và Gan nhưng phải dùng tươi, nên ghi vào đây để nhiều người để ý.