ĐÀO NHƠN
“Đào Nhơn khổ bình, chuyên nhập tâm can, Phá huyết nhuận táo, tến ứ thành công”
BỆT DANH
Thoát Hạch Nhơn, Thoát Hạch Anh.
HÌNH LOẠI
Là một thứ hột của một thứ trái cây, ở miền Nam Việt Nam chưa thấy.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Bọc Tim và Gan để phá huyết thông ứ với trường hợp bệnh mới.
TÁNH VỊ
Vị đắng ngọt, tánh bình, không độc.
CHỦ TRỊ
Là một vị thuốc quan hệ có công năng phá huyết, nhuận táo, hành ứ, tiêu trừ huyết kết ở vùng dưới Tim, trị sản phụ huyết vựng, huyết bĩ, huyết tích, huyết lỵ, huyết nóng ráo sanh phong ngứa, huyết súc tích phát cuồng, thông kinh kỳ, trị trừng hà.
KINH NGHIỆM
VỊ đắng dùng để tiết huyết trệ, ngọt dùng để sanh huyết mới, nên muốn phá huyết ngưng thì phải có nó. Công dụng có 4:
■ Trị nhiệt nhập huyết thất
■ Tiết huyết trệ trong bụng
■ Trừ huyết nhiệt khô ráo sanh ngứa ở ngoài da
■ Làm lưu thông huyết ngưng trệ ở khắp mặt da.
CẤM KỴ
Đào sống ăn nhiều làm cho con người bị bành trướng sanh ghẻ choc, ăn chung với thịt Ba Ba sanh ra bệnh đau tim. Phàm kinh bế do huyết khô, sản hậu đau bụng do huyết hư, đại tiện bế bón do tân dịch không đủ đều rất kỵ. Hột sanh đôi có độc không nên dùng.
Trang 76
DỤNG LƯỢNG
Phổ thông mỗi lần dùng từ 1 chỉ đến 2, 3 chỉ.
PHỤ LỤC
Dùng Đào Nhơn có hái điều phải biết:
- Mặc dù nỏ có dầu nhuận táo, nhưng là thuốc đi vào hệ thống bọc tim và Gan để tan ứ giáng huyết; nên mạch nếu tả thốn, tả quan không ngưng kết trệ nghịch, trái lại trầm hư thì quyết định không nên dùng.
- Nếu huyết ứ ở hệ thống bọc tim lâu ngày từ 6 tháng trở lên, thì Đào Nhơn rất ít công hiệu – là hai điều cần phải biết.