BIỆT DANH
Hắc Táo, Ô Táo
HÌNH LOẠI
Trái táo chín còn tươi phơi khô gọi là Đại Táo.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Tỳ Thận
TÁNH VỊ
Vị ngọt, tánh hơi ấm, không độc.
CHỦ TRỊ
Là thuốc cần thiết để bổ trung ích khí, hòa giải các thứ thuốc, dưỡng Tỳ, bình vị; điều hòa dinh vệ, sinh tân dịch, nhuận tim phổi, trị hư tổn.
KINH NGHIỆM
Phàm dùng thuốc chữa bệnh muốn điều hòa dinh vệ, muốn thâu bố tân dịch, lưu thông khí huyết, kết hợp các vị thuốc nên trong phương xưa thường thêm vào Cương Táo để cho tánh thuốc được thuần, công dụng được lớn. Sĩ Dinh nói: ở trong không đủ thì dùng vị ngọt để bổ, hình không đủ thì dùng khí để ấm. Đại Táo vị ngọt, phàm vị ngọt là mang theo tánh ấm. Nên bổ Tỳ Vị, sanh tân dịch thì kinh mạch tự thông. Người nay ôn Tỳ kiện Vị thì dùng Hồng Táo, tư âm dưỡng vị thì dùng Hắc Táo. Hắc Táo sanh ở miền Nam nhiều nước, tánh ấm ít, lại còn có tên là Nam Táo. Điều này phải phân biệt.
CẤM KỴ
Táo tươi ăn nhiều quá làm cho sanh nóng khát, bụng trướng động tạng phủ, tổn Tỳ nguyên, trợ thấp nhiệt. Kỵ ăn chung với Hành Lá. Ăn ĐạỉTáo nhiều quá thì ngăn hơi, trợ thấp. Phàm bụng đầy, trẻ con có bệnh cam tích, răng đau và đàm nhiệt đều kỵ.
DỤNG LƯỢNG I Ỵ
Phổ thông mỗi lần dùng từ 2 đến 3 chỉ.
Đại Táo
Written by