Ung thư và Đông-Y – Trần Văn Tích

TRAN-VĂN-TÍCH

TRONG các thư liệu kinh điền của Đông Y, nhất là trong các thư liệu trước tác từ đời nhà Thanh (1644-1911) về trước, khái niệm về ung thư có phần mơ hồ. Ung thư thường được mô tả bằng những danh từ hầu hết có tính cách phiếm xưng và khác hẳn với các tên gọi hiện đại: phục lương, tỷ khí khoan tiết, é cách phiên vị tương đương với chứng trạng ung thư dạ dầy; tọng độc, khí bành mô tả ung thư tử cung, ung thư gan; hà, trừng, tịch, huyền, anh lựu… nhằm chỉ các loại u bướu ngoài da v.v… Tiền nhân phương Đông cũng đề xướng rất nhiều phương thang trong điều trị ung thư, mà y lý cổ truyền không liệt kê hẳn vào tứ chứng nan y 1.

Ngay trong Nội kinh đã thấy nêu ra một khuôn vàng thước ngọc cho hậu thế về vấn đề trị liệu ung thư: câu trả lời của Kỳ Bá, đáp câu hỏi của Hoàng đế, có lẽ là phương- châm cồ xưa nhất liên hệ đến ung – thư không những đối với Trung-Y, mà đối với cả kho tàng thư liệu y khoa thế giới : Không nên dùng châm cứu đề trị u bướu “2.

Người y sĩ đầu tiên dùng phương pháp giải phẫu chữa trị các loại bướu dường như là Du Phụ (2698-2592 trước TCGS), ít nhất là theo truyền thuyết.

Đời Hán, Thương Công trình bầy một y án chi tiết về ung thư bao tử, đây chắc chắn là y án đầu tiên về loại nầy trong y sử.

Trương trọng Cảnh, trong bộ Kim Quỹ, đã đề cập đến chần đoán và trị liệu ung thư sinh dục nữ giới (142-220 sau TCGS).

Thực ra thì chữ nham mà Trung Y hiện đại dùng đề chỉ ung thư có lẻ xuất xứ từ Triều Tiên: lần đầu tiên chữ nham xuất hiện là vào năm 1435, trong cuốn Hương Dược Tập Thành Phương của Cao ly.

Vả lại, các bộ sách Đông Y bảo giám của Hứa Tuân (1597-1611 sau TC), Y Phương tân giám, Phương Dược hợp biên đều có liệt kê nhiều thang phương trị ung, và những thang phương Đại Hàn này cũng có ít nhiều dị biệt so với các phương tễ đồng loại của Trung Quốc.

Đa số các trường hợp ung thư được tổ tiên chúng ta mô tả là những u bướu hoặc lở loét ở bì phu. / Đối với tạng phủ, ung thư nhũ hoa, ung thư tử cung, ung thư phồi và ung thư vị trường cũng thường được đề cập đến.

Chứng phế ung chẳng hạn đã được trình bày khá chi tiết trong thiên Phế ung của bộ Kim quỹ yếu lược. Các bậc tiên y Đông phương cho rằng phế ung là do cảm phải gió, nóng bên ngoài (ngoại cảm phong nhiệt), hoặc uống rượu

nhiều quá, huyết ử nhiệt tắc, rồi thành nhọt, thành ung.

Vì phạm vi bài khảo luận không cho phép, chúng tôi chỉ xin trình bay đề làm mẫu về một loại ung thư, ung thư ruột, mà Trung Y gọi là trường ung, đã được khảo sát tường tận trong kho tàng sách thuốc cổ truyền. Bài viết quả nặng về chuyên môn, và do đó, rất khô khan. Nhưng người viết rất tiếc không thể tỉnh lược hơn nữa, vì nếu không đề cập đến sinh lý bệnh lý ung thư chẳng hạn thì không thể trình bày các phương pháp trị liệu. Và lại, giới Tây y sĩ chắc cũng muốn biết quan niệm của Đông Y về bệnh nguyên học nham khoa.

CẢI SÀY NÀY CÁI UNG

Trường ung là chứng bệnh mọc ung ở ruột, bắt cứ ruột non hoặc ruột già. Kim quỹ yếu lược đã ghi chép rất sớm về trường ung. Theo Đông Y, ung thư ở ruột tuy rằng tương đối nặng, nhưng vẫn chữa được, và nhìn chung, ung thư ruột già nhẹ hơn ung thư ruột non, cho nên đau ở đại trường dễ chữa hơn đau ở tiều trường. Ngoài ra, vì trên chứng trạng biều hiệu những đặc điềm không giống nhau, nên lại có những tên gọi như sức cước trường ung (ung ruột co chân), bàn trường ung (ung ruột chảy máu). Tuy nhiên, danh xưng dẫu có khác nhau, nhưng trị tắc vẫn là một.

Về nguyên nhân gây ra ung thư ruột, y lý Đông phương mô tả ba loại nguyên nhân chính.

Trước hết, vì ruột thuộc chức năng tiêu hóa, nên nguyên nhân thứ nhất là ăn uống bừa bãi, không dè dặt.

Phùng thị cầm nong ghi nhận: “Trường ung là do những thức cao lương tích nhiệt gây ra” Trần thục Công cũng nhận định: “Đói no thất thường, nhọc mệt thương tồn, đội vác nặng làm cho tồn thương trường vị… hoặc ăn thức ăn sống lạnh, trở ngại đến khí huyết, thắp đọng sinh đàm, phần nhiều làm cho trường vị đầy tác, vận hóa không thông, khí huyết ngưng trệ mà sinh ra». Nói cách khác, tiền nhân quan niệm rằng vì ăn uống bừa bãi không có điều độ nên ruột bị đầy tắc, không vận hóa được, khiến khí huyết ngừng trẻ, uất kết thành nhiệt, chứa đọng lại không tan nồi, đưa đến huyết nhục mục

nát rồi hóa thành mủ. Nguyên nhân thứ hai là lao lực tòn thương quá độ, thất tình uất kết, vui buồn tức giận quá mức bình thường, hoặc vấp ngã chấn thương, nên hậu quả là kinh lạc khí huyết bị ngưng trệ. Chẳng hạn bộ Ngoại khoa chính tồng chép: “Chạy nhảy vội vàng, làm cho trường vị truyền tổng không được khoan khoải, bại huyết trọc khí ủng tắc lại mà gây nên (ung thư)». Chúng ta cũng có thề đan cử lập trường của bộ Ngoại khoa y kinh:

«Trèo cao nhảy xuống, nhày bị đụng chạm hoặc bị đảnh, bị ngã, làm choử huyết ngừng đọng trong ruột nên sinh ra trường ung». Tóm lại, nguyên nhân này chú trọng đến sự kiện lao lực tồn thương, vì vấp ngã. hoặc tình chí uất kết, khiến khí trệ huyết ngừng, uất đọng lâu ngày, gây nên chứng ung.

Nguyên nhân thứ ba là một nguyên nhân độc đáo, liên hệ đến các chứng trạng hậu sản. Trần thục Công chẳng hạn, quan niệm rằng : « Đàn bà sau khi đẻ, người yếu hay nằm, ngồi dậy không được hoặc khi đẻ khó khăn, dùng sức quá nhiều, sau khi để rồi không trục huyết ứ, làm cho bại huyết chứa đọng ở trường vị, kết trẻ lại mà gây ung ». Giới Đông y sĩ cho rằng phụ nữ sau khi lâm bồn, ở âm đạo thường chảy ra một chất nhờn, trong chất nhờn này có cả huyết dịch (Đông Y gọi là ác lộ hay chất phân bí). Ác lộ chẳng qua chỉ là hậu quả của tình trạng sau khi sanh nở huyết xấu không tiêu, vừa bị tổng xuất ra ngoài qua âm đạo, vừa kết chứa lại ở trường vị rồi sinh chứng trường ung.

Như vậy, nhìn chung, trong bệnh lý học trường ung, tiền nhân phương Đông chủ xướng rằng nguyên nhân chứng này không ngoài thấp nhiệt (àm nóng) và ứ huyết, mà điền hình là danh ngôn của Trần thục Công « Chíừng trường ung là đều do thấp nhiệt ử huyết chảy vào trong tiều trường mà sinh ra ».

Trên lâm sàng, trường ung do thấp nhiệt thường phát triền nhanh chóng, tiến trình của bệnh dồn dập, các triệu chứng xuất hiện đầy đủ trong một thời gian ngắn ngủi. Trái lại, nếu ung ruột do hàn tà và ử huyết đưa tới mà chuyền hóa thành thấp nhiệt thì tiến trình của bệnh kéo lê, bệnh cảnh lâm sàng tuần tự, mỗi ngày mỗi thêm phong phú, và các triệu chứng lần lượt xuất hiện trong một thời lượng tương đối dài lâu.

Về triệu chứng học, Đông Y mô tả ba giai đoạn trong chu kỳ biến hóa của trường ung: giai đoạn ung chưa nung mủ, giai đoạn ung đã nung mủ và giai đoạn vỡ mủ.

Đối với hai giai đoạn trước, Kim quỹ yếu lược nói rất rõ ràng : « Trường ung sinh bệnh, mình nồi vay, da bụng căng, ăn vào mềm, như thể trạng chứng thủng, bụng không tích tụ, người không sốt, mạch sác, đó là trong bụng có ung mủ ». Và còn bồ túc thêm : « Chứng trường ung thời bụng dưới sưng đầy, ấn vào đau như chứng lâm ¹, tiều tiện điều hòa, thường thường phát nóng, tự ra mồ hôi, lại sợ rết. Nếu mạch trì hoặc khần là ung chưa nung mủ, nên hạ 2, sẽ có ra huyết; nếu mạch hồng sắc là đã nung mủ, không nên hạ».

Sau khi đã nung mủ và vỡ mủ, nhiều triệu chứng rầm rộ, trầm trọng có thể xuất hiện, như rồn chảy mủ, quanh rốn mọc mụn, đại tiện ra máu mủ, rốn lỗi bụng trướng, trở mình nghe có nước v.v…

Về chần đoản giám biệt, y lý Đông phương chủ yếu nhấn mạnh đến sự phân định giữa ung thư ruột non và ung thư ruột già, vì tương lai người bệnh hoàn toàn khác biệt tủy theo loại bướu: tương đối lạc quan trong ung thư ruột già, bị đe dọa nặng nề trong ung thư ruột non. Có hai điềm cơ bản đề chần đoán phân biệt giữa đại trường ung và tiều trường ung: nếu là ung thư ruột già thì xung quanh huyệt Thiên khu bị sưng đau, chân phải của người bệnh không co duỗi được; trong khi ung thư ruột non sẽ khiến sưng đau xung quanh huyệt Quan nguyên và khiến chân trái người bệnh không co duỗi nồi.

TRỊ LIỆU VÀ PHƯƠNG THANG.

Ung thư ruột già và ung thư ruột non, nhìn chung đều do hỏa độc và phong nhiệt, cho nên phương pháp trị liệu tương đối gần giống nhau. Nhưng như đã nói ở trên, phần nhiều ung thư ruột non nặng hơn ung thư ruột già, do sự kiện vị thế ruột non nằm trên ruột già, cho nên ruột già dễ tả mà ruột non khó tả. Về đại cương, nguyên tắc chữa không ngoài cách thanh nhiệt tiêu thấp (làm nhẹ nóng làm hết ầm), trừ ứ trệ, thông đại tiều tiện.

Nếu ung mới phát chưa thành mủ, thang phương phò thông là Đại hoàng mẫu đan bì thang (Đại hoàng, Mẫu đan bì, Đào nhân, Qua tử, Mang tiêu) dùng đề hạ; hoặc Hoạt huyết tản ứ thang (Xuyên khung Quy vĩ, Xích thược, Tô mộc, Đan bì, Chỉ xác, Lâu nhân, Đào nhân, Tân lang, Đại hoàng) có công năng điều hòa và thông lợi, giúp đại tiều tiện dễ dàng.

Nếu thế bệnh có vẻ hòa hoãn, thầy thuốc xét không cần công hạ, thì Đông Y khuyên dùng Thanh trường ồm (Kim ngân hoa, Đương qui, Địa du, Mạch môn, Huyền sâm, Cam thảo, Dĩ nhân, Hoàng cầm). Ngoài ra, bài Trường ung đơn phương của Trương cảnh Nhạc cũng rất đắc dụng: trước tiên, dùng một lượng Hồng đằng, lấy hai bát rượu ngon, nấu còn một bát, uống một lần vào buồi sáng, say nằm ngủ. Buổi chiều dùng một lượng Tử hoa địa đinh, cũng nấu uống như lần trước, sau khi uống, thấy chứng đau nhẹ bớt dần là hữu hiệu.

không được ngăn ngừa hoặc chữa kịp thời, đến nỗi ung thành mủ, thì về phương diện phục được, người xưa chủ trương phải kiêng công hạ mà lại nên lấy hoạt huyết phả ử tiêu thùng làm chủ yếu, tức là cố gắng giúp máu huyết lưu thông, tấn công các khối huyết xấu đang tích kết và

tiêu hủy phù thũng. Trong trường hợp thành mủ lâu ngày không vỡ, y sĩ có thể dùng Ý dĩ phụ tử bại tương tán đề lấy sức nóng của thuốc giúp huyết lưu thông (Phụ tử, ý dĩ, Bại tương thảo). Nhưng nếu chần mạch, thấy mạch chậy hồng sác, thề bệnh có vẻ cấp hơn, thì nên lương huyết phá ử (làm mát máu, phá huyết đọng) bằng phương Ý dĩ nhân thong (Ý dĩ nhân, Thược dược, Ma hoàng, Quế chi, Đương qui, Thương truật, Cam thảo, Sinh khương).

Khi gập thề bệnh kéo dài, cã phát triền đến thời kỳ vỡ nử sẽ xuất hiện những hiện tượng hư. Nếu nhẫn thấy bụng mềm, đau, mủ chảy thường xuyên, lương y sẽ dùng Mẫu đan bì tán (Nhân sâm, Hoàng kỳ, Đan bì, Bạch thược, Phục linh, Ý dĩ nhân Đào nhân, Bạch chỉ, Đương qui, Xuyên khung, Cam thảo, Quan que, Mộc hương). Nếu mủ ứa từ rốn ra, bụng trưởng, ăn uống kém, sắc mặt trầng nhợt, tinh thần mỏi mệt, chứng tỏ khí huyết đều hư, thì phải cố gắng thu góp chút sức lực đang suy tàn, đồng thời bồi bồ nguyên khí chẳng hạn bằng bài Bát trân thang gia Hoàng kỳ, Nhục quế, Đan bì, Ngũ vị tử (Đương qui, Thược dược, Xuyên

khung, Đại hoàng, Nhân sâm, Cam Nếu bệnh nhân đến trễ, bệnh đã thảo, Bạch truật, Phục linh).

Tóm lại, về cách chữa trị trường ung, Đông y chủ trương nên phần biệt ung có mủ hay không có mủ, đã vỡ mủ hay chưa vỡ mủ, có thể dùng trừ ử công hạ. Nếu đã nung mủ rồi trì phải kiêng hạ, nên xử dụng những phương pháp hoạt huyết phá ử tiêu thũng. Nếu mủ đã vỡ, thường phần nhiều xuất hiện hình trạng hư, cần phải bồ hư, giải độc, thức mủ.

DƯỢC THẢO KHÁNG UNG

Con người đã ghi nhận được khả năng của cây cỏ ngăn cản sự phát triền các tế bào từ rất lâu đời. Ngay những ngày xa xưa, khi mà tiền nhân chưa hề có một ý niệm nào về tế bào-học, người ta đã nghiệm thấy rằng dùng một vài thứ cây cỏ đặp rịt vào các u, các bướu có thể khiến những u, những bướu ấy ngưng phát triền và teo quất dần dần.

Hartwell trong một công trình biên khảo 1 công phu, đã thâm cứu hằng ngàn tài liệu đề liệt kê các giống loài thực vật được y giới xử dụng qua thời gian và không gian trong trị liệu ung thư. Với tài liệu này, chúng ta thấy đan cử từ Dioscoride, Thần Nông, Đào hoàng Cảnh, Rhazes cho đến những tác giả hiện đại. Chúng ta cũng thấy đề cập đến các nền y học dân gian của Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn độ bên cạnh những kinh niệm quần chúng Nam Mỹ, Bắc Phi v.v… và dĩ nhiên cả Việt Nam nữa.

Riêng ở phương Đông, các tài liệu y khoa tối cồ đã đề cập đến những dược thảo và phương thang được mô tả như là có công năng kháng ung.

Thần Nông bản thảo chẳng hạn đã kề đến Xạ can Belamcanda sinensis

(L.) DC trong điều trị các bướu thanh quản và thực quản; Hạ khô thảo Brunella vulgaris L. trong trị liệu các ung loét; các vị Đồng qua tử và Đồng qua bì Benincasa hispida (Thunb.) và Phòng kỷ Cocculus sp. trong chiến đấu chống các loại bướu, u nói chung.

Đào hoàng Cảnh (452-536 sau TCGS) khuyên dùng vị Giới bạch Alliumbakeri Regel dưới hình thức thuốc xoa bóp đề làm teo quắt các bướu lồi.

Công năng của Duyên vĩ Iristectorum Max.. của Tục đoạn Dispacus Japonicus Miq. (trong điều tri ung thư vú), của Mộc phù dung Hibiscus mutabilis L. cũng được tần dương trong Bản thảo cương mục của Lý thời Trần (1518-1593 sau TCGS).

S. Kim 2 trên tờ Tối tân Y học, sau khi tổng kết các thư liệu cồ truyền của Đông Y, đã sắp xếp như sau, theo thứ tự thông dụng, các dược liệu thường được dùng trong điều trị ung thư: Hải tảo, Côn bố, Trần bì, Bản hạ, Đương qui, Thanh bì, Nhân sâm, Mộc hương, Xuyên khung, Hoàng liên, Hải cáp, Phụ tử, Nhũ hương, Hoàng cầm, Thược dược, Phần thạch, Bạch liễm, Phục linh, Bối mẫu, Sinh địa, Đại hoàng, Bạch chỉ, Hương phụ, Thái bạch, Can khương, Quế tâm, Thần khúc, Hải phấn, Chỉ thực, Cam thảo, Thông thảo, Long đởm, Đan sâm, Hồ phách, Ngô phù du, Hoàng bá,

Nam tinh, Sa nhân, Ngô công, Toàn yết, Hải phiêu tiêu, Sơn từ cô, Quát lâu, Tê hoàng, Xạ hương.

Tuy nhiên Đông Y vốn quan. niệm các loại bướu nói chung, ung thư nói riêng như những trường hợp bệnh kéo dài, phần lớn thuộc hư, nên nguyên khí không nhiều thì ít cũng bị hao mòn, và do đó, nguyên tắc căn bản vẫn là phải bồ. Vì vậy, chúng ta thấy rằng những dược liệu đã được S. Kim liệt kê thực ra không phải tất cả đều là những khí giới kháng ung của y lý cồ truyền, mà một số lớn là những dược liệu giúp phục hồi chính khí, nâng đỡ tồng trạng, tăng sức đề kháng.

Cho nên Hải tảo chẳng hạn – Hải tảo là một loài rong bè, Sargassum fusiforme (Harv.) Setch. được tiền nhân phương Đông quy kinh vào ba kinh vị, can và thận, có vị đắng, mặn, tính hàn, thường được xử dụng trong điều trị các loại bướu cổ, tràng nhạc, thủy thũng, do ở công năng tiêu đàm, làm mềm chất rắn, lợi thủy hạ khí. Và điều này thì Tây Y cũng hoàn toàn đồng ý, vì khoa học đã phát giác trong Hải tảo sự hiện diện của iốt, của anbumin, của chất sắt v.v tức là những chất rất hữu hiệu trong đối phó các loại bướu cổ, đặc biệt là iốt. Nhân sâm, Phục linh, Hoàng kỳ… cũng là những loài thuốc bồ kinh điền của Đông phương.

Ở các quốc gia Đông Nam Á khác như Nhật Bản, Triều Tiên, An Độ, Thái Lan, cây cỏ cũng thường được xử dụng trong điều trị các loại ung thư u bướu. Rất nhiều loài cây, thuộc đủ các họ thực vật, đã được khảo sát, dựa vào những dữ kiện do

dân gian hoặc kinh nghiệm kế thừa cung cấp.

Tại Việt Nam, các tài liệu y khoa Pháp và ngoại quốc ghi nhận rằng nhân dân ta vẫn dùng một số cây cỏ thồ sản của quê mẹ đề điều trị các loại bướu, u, ung, loét. Chúng ta có thể kề cây Vông nem Erythrina indica Lam 1 hoặc cây Vông đồng Erythrina fusca Lour 2 cùng các cây tương cận; Hoàng bå Ptercarpus flavus Lour 3 ; cây Sốp 4 Ficus pumila L5; cây Cỏ trói gà Drosera indica L. Riêng cây sau nầy thì được Pételot tường trình là đồng bào chúng ta ở vùng Thanh Nghệ rất hay dùng đề đấp trên các mụt cóc, mụt chai 7.

Loureiro cách đây gần 200 năm, trong một công trình biên khảo có the xem như là bước đầu căn bản của môn thực vật học y khoa ở Việt Nam, cũng đan cử sự xử dụng các cây Kẻ hoa vàng Sida acuta Burm, vị Bạch đàn hương Dysoxylum loureiri Pierre, cây Gac Momordica cochinchinensis (Lour) Spr.

Thực ra thì quần chúng Việt

Nam, qua kinh nghiệm đấu tranh chống lại bệnh tật, qua thực tiễn lâm sằng hằng ngày, qua lịch duyệt trong lao tác nông vụ, đã thu góp đề áp dụng một số vị thuốc cây thuốc, được đồng bào ta tin tưởng là có khả năng tiêu độc, thông khí, hành huyết, khiển khí huyết lưu thông dễ dàng, tà độc bị đầy lui, hủy diệt, do đó, đưa đến kết quả là chữa trị được các loại bướu. Những vị thuốc dùng trong mục đích ấy: chữa u, trị bướu, trìừ sang độc, tiêu ung nhọt của đồng bào ta rất nhiều và rất dị biệt.

Đối với những vị thuốc thuộc loài động vật, chúng ta có thể kè con Bọ hung (Khương lương), con Nhện (Bích tiền), Ong bầu đen, Sáp ong (Hoàng lạp), Tổ ong (Lộ phòng phong), Xác rắn (Xà thoái) v.v..

Những loại cây cỏ thông dụng là Bùng bục (đồng bào miền Nam gọi là Lả cảm), Chùm bao (Đại phong tử), Gắc (Mộc miết), Kiến cò (miền Nam gọi là Bạch hạc), Lim, Máu chó, Mo nang tre, Nghe rău, Ráy dại, Thầu dầu (Tỳ ma), Xương rồng v.v..

Hàn the (Bằng sa), Hồng đơn,

Hùng hoàng, Vôi đã (Thạch khôi)

v.v.. là một vài đại biểu của đội ngũ dược liệu khoáng vật.

Những dược phẩm vừa kẻ được nhân dân ta dùng trong ngoại

khoa ngoại khoa hiều theo nghĩa là khoa chữa các chứng bệnh bên ngoài và chủ trị những trường hợp ung loét, lở nhọt, sang độc, ác sang, tràng nhạc, hủi phong, sưng vú. sài đẹn, hắc lào¹ ngoan cố v.v.. Những chứng trạng này có thể bao gồm các trường hợp ung thư da, ung thư vú, mà người bình dân dĩ nhiên không thể nào chân đoán xác định được, nhưng những ca thuộc loại ác tính, nếu có, chắc chỉ là thiều số, so cùng những trường hợp lở loét thông thường.

Lối dùng thuốc phò thông ở đây là đắp rịt hay bôi xoa, sau khi đã

giã nát, đầm dập hoặc sao tồn tính rồi tản bột và pha trộn với một vài tả dược như băng phiến, dẫm thanh, dầu mè v.v.. Rất ít khi dùng sắc uống, có lẽ vì đồng bào ta cũng hiều rõ rằng phần lớn những vị thuốc xử dụng đều có độc chất, không nhiều thì ít.

NHAM KHOA TRONG ĐÔNGY HIỆN ĐẠI

Lãnh tụ Trung Cộng Mao trạch Đồng vẫn thường hô hào rằng ung thư chỉ là cọp giấy. Và để đối phó với con cọp ung thư tuy chỉ là cọp giấy nhưng vẫn gây kinh hoàng cho bệnh nhân và thất vọng cho thầy thuốc, y giới Trung Hoa lục địa, trong đường

hưởng Trung Tây Y đoàn kết, đã trình bầy, qua các tạp chí y khoa, một số trường hợp ung thư được mô tả là đã chữa khỏi bằng y lý cò truyền, sau khi đã dùng y học tân tiến đề chần đoán xác định.

Trong điều trị ung thư tử cung, C.C Lu ¹ đã xử dụng Hoàng kỳ. Cam thảo, Phá cổ chỉ, Mạch môn đông, Hoắc hương, Nhục quế và đã chữa lành cả ba bệnh nhân được điều trị.

Trong diều trị ung thư huyết, P W. Ch’in 2 cùng các cộng sụ viên đã cho uống Hoàng kỳ, Lô hội, Mạch môn đông, Hậu phác, Đình lịch.

Cùng chiều hướng điều trị u, bướu với y lý cò truyền Nikonov 3 đan cử Thanh đại, Mật mông hoa, Tam lăng trong khi Wallnöfer 4 rất lưu tâm đến Tang căn.

Trong Bản thảo dụng pháp nghiên cứu, Cao lương Châu 5 đề cao các vị Sơn từ cổ, Tảo hưu, Đông qui và nhất là Bối mẫu, Hồ đào, Hoàng cầm, Ô dược dùng đối phó với ung thư nhữ hoa và bướu giáp trạng, cùng lập trường với K.M. Yang 6 và một số tác giả Nga xô và Đức quốc 8.

Một số thang phương kinh điền được nghiên cứu kiềm tra lại và ủy thác cho ngành Tân dược trình bày dưới hình thức dược dụng hiện đại, thông thường là bào chế thành thuốc viên. Phồ thông nhất có lẽ là Thần Nông hoàn, Tướng Quân hoàn, Tê Hoàng hoàn, Kim Ngân Hoa và Thủ Cung Phẩn. Tướng Quân hoàn và Thần Nông hoàn chúng tôi thấy có bắn trên chợ trời Thủ đô, do một xưởng dược ở Vũ Hán sản xuất.

Ngoại trừ Thần Nông hoàn không thấy ghi thành phần được liệu, các sản phầm đặc chế khác đều có minh định công thức bào chế. Tướng Quân hoàn chẳng hạn còn gọi là Đại Hoàng hoàn – gồm có Đại hoàng, Mang tiêu, Hắc đậu bì, Chỉ xác, Ngưu bàng tử, Đương qui, Xuyên khung và Cam thảo. Tê Hoàng hoàn sẽ được đề cập đến sau.

Kim ngân hoa — Flos Lonicerae

là hoa của cây Kim ngân Lonicera joponica (Thunb.) var. sinens’s Baker cũng còn có tên là Nhẫn đông, mọc hoang hay được trồng ở nhiều địa phương trong nước ta, nhiều nhất có lẽ là ở Cao bằng. Vị thuốc này rất đắc dụng trong điều trị mọi loại bệnh ngoài da như nhọt độc, ghẻ lở,

mần ngửa, dùng sắc uống hay bôi thoa bên ngoài.

Công thức của Thủ cung phẳn gồm ba vị: Cáp giới (tắc kè), Ngô công (con rết) và Đản phẩn.

Ở Đài loan, quần chúng rất tin dùng cây Dướng – Trung Y gọi là Chữ đào thụ – trong chữa bệnh ung thư, trong khi nhân dân lục địa lại trọng vọng vị Qua lầu, vị Đan sâm, vị Mộc thông.1

Dân tộc Phù tang thì lại thiện dụng Thiên kim đẳng 1 trong cũng một mục đích. Người Nhật cũng thầu đạt được ít kết quả khiêm tốn với những dược thảo thồ sản chẳng hạn Hatomugi, Kumazasa, Karahanaso, Hishi, Fuji, Akagashi 2.

Y giới Trung Hoa lục địa và Hương cảng đang quảng bá một thứ thuốc được mô tả là hữu hiệu đối với nhiều loại ung thư. Thuốc bản rất đất, và theo lời truyền tụng, thì đã cứu thoát một số bệnh nhân đồng

bào ta. Tên của thuốc là Nham Khoa Vạn Linh Đan do Thiên Đức Đường Đại Dược Xưởng chế tạo và phát hành tại Hương Cảng. Không thấy ghi thành phần dược học, và đây là một điềm gây nghi ngờ thắc mắc rất lớn vì các loại thuốc đặc chế khác của Đài loan hay Trung Cộng, dẫu dựa vào phương thang kinh điền và được trình bày hoặc theo những dạng thuốc của tân dược hoặc theo những hình thức bào chế cổ truyền, đều luôn luôn có ghi công thức. Người viết bài này, qua trung gian của các đồng nghiệp Hoa Kỳ, đã gửi một ít thuốc cho (US) National Cancer Institute đề nhờ thí nghiệm trên súc vật. Nhưng kết quả không đi đến đân, vì sự nhầm lẫn địa chỉ do lỗi của người Hạ sĩ quan Mỹ phụ trách hành chảnh: thay vì gửi cho Viện Ung Thư, anh ta lại gửi cho Thư Viện Y Khoa Quốc gia Hoa Kỳ! Lại phải nhờ mua ở Hương Cảng một hộp thuốc khác, và đến nay thì vẫn chưa mua được !

Các nhật báo và tài liệu y khoa Trung Hoa lục địa cũng như Hương Cảng còn quảng cáo một toa thuốc thời thượng về ung thư mà một vị lương y đã cho phò biến trên một nhật báo Sàigòn.

Tài liệu ghi nhận rằng tám trường hợp ung thư gan đã được chữa lành, theo hai phương thang

dưới đây.

Thang phương thứ nhất gồm:

Bạch hoa xà thiệt thảo 8 lượng (dùng sống)

Bạch mao căn 8 lượng (dùng sống)

Thiết thọ diệp 8 phiến

Hồng táo 10 trái

Băng đường 10 cục (bằng ngón tay cải) –

Tất cả các vị trên rửa sạch cho vào nồi, đồ 13 tô nước lã, dùng lửa than đun trong 5 giờ, sắc còn lại một tô. Uống thuốc lúc vừa nguội, còn hơi ẩm. Sau khi uống thuốc, phải dùng tiếp 5 chỉ Cao ly sâm đề hồi phục sức khỏe. Mỗi ngày hoặc mỗi hai ngày uống một thang, tối đa 5, 6 thang.

Tiếp theo là phương thang thử hai gọi là Tê Hoàng hoàn gồm:

Tê hoàng

3 chỉ

Xạ hương

3 chỉ

Nhữ hương

4 lượng

Một dược

4 lượng

Bốn vị tân nhỏ, dùng mật ong và bột gạo viên thành hoàn bằng hạt đậu xanh, phơi khô. Mỗi ngày uống ba lần, mỗi lần một trăm viên với nước muối, uống trước hay sau bữa än.

Suốt trong thời gian điều trị, phải luôn luôn ăn uống các thực phầm bồ dưỡng. Chúng tôi sẽ trở lại với các thang phương nầy trong một tiết mục sau.

THỬ CẦU VIỆN ĐẾN DAELS, ĐẾN TSCHIRCH..

Tây Y chưa giải thích được ồn

thoả nguyên nhân phát sinh ra ung thư, nhưng đã phát minh được một vài vị thuốc chữa trị ung thư tương đối hữu hiệu.

Ngoài ra, nhiều quốc gia tiên tiến ở khắp thế giới đều đang tận lực nghiên cứu tác dụng của các thành phần trích khai từ thảo mộc trên những loại bướu thực nghiệm. Trình bầy thật giản dị, y giới tiến hành như sau: gây nhiều loại ung thư cho loài vật và quan sát tác dụng của những dược phẩm khác nhau, đề ước định công năng kháng ung.

Trong chiều hướng nầy, y giới Nhật bản chẳng hạn đã chứng minh tầm hữu hiệu của Sơn đậu căn và Khồ sâm đối với sự phát triền của những loại bướu Sarcoma 180 và bướu gây bụng nước Ehrlich trên loài chuột 1. Ở Đài loan, loại bướu Ehrlich cũng tỏ ra « chịu » hai hoạt chất ricin và abrin, chất thứ nhất lấy từ vị Tỳ ma, chất thứ hai trích khai từ những dây Tương tư thảo 2. Chitnis³ cùng các cộng sự viên bảo

cảo khả năng của cây Ervatamia heyneana L., thuộc họ Trúc đào, khi thực nghiệm trên các loại ung thư máu L 1210 và P 388 v.v..

Tuy nhiên, một điềm cần nêu ra trước tiên là Tây Y đã chứng minh rằng bệnh ung thư có thể tự nhiên thuyên giảm hoặc khỏi hẳn. Đây là một vấn đề mà y học tân tiến đã khẳng định là có thực, tuy rằng vẫn còn bí mật, không giải thích nồi. Cách đây hằng chục năm, J. Fauvet¹ và các cộng sự viên đã thu góp hàng trăm trường hợp ung thư được mô tả là tự nhiên lành, với những cử liệu rất vững chắc.

Như vậy, điềm tiên khởi cần nêu lên là một nghi vấn: những ca ung thư được y lý cỗ truyền phương Đông trình bầy là đã chữa lành, phải chăng cũng bao gồm một số có thề là không nhỏ những trường hợp tự nhiên thuyên giảm? Điều nầy không phải là võ đoán vì lẽ những trường hợp ung thư được xem như do Đông Y chữa lành đều là những ca lẻ tẻ, rời rạc, và nhất là chưa hoặc ít được tài liệu y học hiện đại kiểm chứng.

Một con số đáng kề có lẽ là số tâm ca ung thư gan do y giới Trung Hoa đưa ra và được nhật bảo Thành Công đăng tải, với biện pháp trị liệu là thang phương gồm các vị Bạch hoa xà thiệt thảo, Bạch mao căn, Tê hoàng, Xạ hương v.v… đã nói đến trên kia.

Vì vậy, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm các tài liệu khoa học liên can đến những dược liệu cấu thành hai thang phương nêu trên. Đây là một việc rất khó khăn, và riêng đối với vị Thiết thọ diệp, kẻ viết đành thúc thủ, không

tìm ra tài liệu nào liên quan cả.

Bạch hoa xà thiệt thảo cũng không có tên trong các tài liệu định danh Đông dược mà chúng tôi hiện có. Tuy nhiên, trên một tài liệu khác liên quan đến một dược phẩm trị tê thấp sản xuất ở Trung Hoa lục địa, sau những cầu tán dương Trung Y, chúng tôi đã tìm thấy một tia sáng khi đọc được câu: «Một trong những phát giác vĩ đại nhất (của Trung Y) là sự hữu hiệu của vị Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo (Oldenlandia diffusa Willd Roxb.) trong điều trị ung thư gan, phối hợp cùng các dược thảo khác.” 2

Như vậy, bước đầu và là – bước khó nhất-kề như đã vượt qua: tên khoa học của dược thảo đâu vị trong phương thang kháng ung đã xác định được. Không mất thì giờ đến thư viện của các Trường Y Khoa và Dược Khoa Sàigòn đề tìm tài liệu liên hệ đến vị thuốc (vì biết chắc mười mươi là không làm gì có), chúng tôi lại phải liên lạc với Thư Viện Y Khoa Quốc Gia Hoa Kỳ.

Các chuyên viên quản thủ thư viện Mỹ, được yêu cầu «viện trợ các dữ kiện khoa học cần thiết, đã sốt sắng nhờ máy IBM tìm kiếm giúp 3.

Kết quả máy móc điện tử tìm ra được sáu tài liệu tham khảo, gồm 3 tài liệu về… sốt rét ở Việt Nam, một tài liệu về thử nghiệm ung thư trên… chuột Tâu và hai tài liệu trị liệu ung thư bằng hóa chất ở Đài loan; tóm lại đúng là những tài liệu có liên hệ đến y lý phương Đông, không ở lĩnh vực ung thư thực nghiệm thì thuộc phạm trù sốt rét ác tính, không ở Việt Nam thì ở Đài Loan, không dính đến người Giao Chỉ thì nói đến chuột Trung Quốc, tất cả không hề chệch ra khỏi y học và Đông phương. Nhưng điềm sinh tử là dữ kiện về cây thuốc được hỏi đến thì tuyệt nhiên chẳng hề thấy ! Phải chăng đây cũng là một kinh nghiệm hữu giả góp thêm vào những nhận xét khác về tầm giá trị của phương pháp phân tích Tây phương trong công tác học hỏi nghiên cứu y lý Đông phương?

Lại phải quay về cũng các thư liệu phương Đông. Và tìm tòi mãi, người viết phát giác được một dữ kiện bồ ích. Trung Quốc được dụng thực vật đồ giám (Thượng Hải giáo dục xuất bản xã, 1960) ghi nhận một thứ cây có tên khoa học là Oldenlandia corymbosa L., thuộc họ Cà phê (Rubia. ceae), mà Hân văn gọi là Vương thải tô, là Tán phòng hoa nhì thảo, là Đơn thảo. Đây là một loại cỏ nhỏ, mọc hằng năm, lá mọc đối, hình mắc hẹp dỡi, hai đầu nhọn, mép nguyên. Mò mẫm tìm thêm nữa, té ra đây là một thứ cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta, thường hay gặp nhất ở hai bên đường xe lửa hay ở nơi râm mắt. Ngoài ra cây còn mọc ở nhiều nước nhiệt đới khác thuộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Riêng tại Trung Hoa, cây là thồ sản của các tỉnh miền Nam. Đồng bào ta gọi là cây Lưỡi rắn, có địa phương gọi là Cóc mẫn.

Nhưng về công dụng thì không thấy

các tài liệu ghi chép gì về khả năng kháng ung.

Tóm lại, ta thấy có nhiều sự về iên hệ rất mật thiết:

  • Thang thuốc căn bản chữa ung thư ghi là Bạch hoa xà thiệt thảo (có lưỡi rần).
  • Tên khoa học là Oldenlandia diffusa Willd Roxb.

Cây Vương thái tổ có tên Việt Nam là lưỡi rắn và cũng thuộc giống Oldenlandia.

Kết luận: Phải chăng đầu vị của bài thuốc trị ung thư đang được y lý Đông phương áp dụng là một thử cỏ mà ở Việt Nam ta chỉ cần đi dọc theo đường xe lửa là tìm thấy hằng hà sa số ?

Đối với các vị khắc – ngoại trừ vị Thiết thọ diệp công tác truy tầm căn cước không đến nỗi gian nan như với vị Bạch hoa xà thiệt thảo. Bạch mao căn 1 là rễ cây cỏ tranh, Hồng táo 2 là loại táo đỏ, Băng đường là đường phèn, Tê hoàng 3 là sỏi mật con tây ngu, Xạ hương 4 là chất bài tiết trong hạch ở sát dương vật của một loài cây hương đực, Nhũ hương 5 là một thử nhựa cây có mùi thơm, và Một dược 6 cũng là một thứ nhựa cây khô đóng thành từng khối.

Xét riêng về công năng từng vị thì Bạch mao căn là thuốc làm bớt nóng, lợi tiều tiện, tiêu ứ huyết; Tê

hoàng có khả năng giải độc, tiêu đàm định kinh; Xạ hương thông kinh lạc thông khiếu; Nhũ hương có tác dụng hoạt huyết, điều khí và Một dược tăn huyết, thông kinh mạch, tiêu sưng. Băng đường và Hồng táo có thể xem như là những vị thuốc phụ, những tá dược.

Nếu chúng ta trở lại với lập trường của Đông Y về nguyên nhân gây ung thư, về sinh lý bệnh lý nham khoa, thì chúng ta thấy rằng việc xử dụng những dược liệu này là hợp lý: bởi ung thư là do huyết ứ nhiệt tác, trường vị vận hóa không thông, kinh lạc bị ngăn trở, nên, về nguyên tắc dùng thuốc, thang phương phải kết hợp những vị tiêu huyết, phá sưng, giải độc, thông kinh lạc… Như vậy, tưởng cần nghiên cứu thêm về toa thuốc khá độc đáo này, càng đáng nghiên cứu thêm nữa vì trong những vị cấu thành thang phương, không có vị nào thuộc các bảng độc dược A, B của Tây Y, dẫu rằng vị Xạ hương ngày xưa có được Tây Y dùng nhưng ngày nay đã loại bỏ vì tính chất kích thích quá mạnh.

000

Dường như cho đến ngày hôm nay, Đông Y vẫn chưa tìm ra được dược liệu chuyên biệt đề trị ung thư. Những dược phầm đặc chế, do Trung Hoa lục địa tung ra thị trường và hiện đang được xử dụng trong nham khoa, vẫn chưa chứng tỏ được chân giá trị và tầm hữu hiệu thực sự của mình. Mặt khác, y học tân tiến cũng chưa có dịp được hân hạnh (và hạnh phúc) góp phần kiềm nghiệm một cách khoa học và khách quan các

thành quả dầu sao cũng còn rời rạc của y lý Đông phương trong phạm trù trị bướu.

Vả lại, nếu Đông Y quả đã phát giác ra những dược phầm kháng ung hiệu nghiệm, thì một thắng lợi vĩ đại như vậy chắc chắn phải được giới thiệu với y giới quốc tế, mà dịp giới thiệu thuận tiện và khích động nhất là những chuyến viếng thăm lục địa Trung Hoa của các y sĩ Hoa Kỳ vào tháng 9 năm rồi, trong trường hợp đặt giả thuyết là không thề dùng phương tiện báo chí y khoa đề truyền thông thành quả, vì các ấn phầm chuyên môn đều phải tạm ngưng xuất bản sau ngày Cách Mạng Văn Hóa.

E. Grey Dimond, một trong

những y sĩ Mỹ may mắn được viếng thăm quê hương Hiên Kỳ, đã được hướng dẫn quan sát châm thuật gây tê¹, thấy người Trung Hoa dùng cây Thông thiên điều chế nerlifolin thay thể digitalin 2. Người khách phương xa cũng nghe những đồng nghiệp nước chủ khoe vẻ vẫn đề xử dụng một

dược thảo cò truyền khác đề tỉnh chế một alcaloid được mô tả là hữu hiệu trong điều trị các chứng bại liệt mẫn tính kề cả và nhất là trong bệnh ẫu liệt, một căn bệnh đang gây thống khồ cho biết bao nhiêu trẻ em trên khắp thế giới 1. Các thành quả này, Dimond thuật lại rất rõ ràng trong những bản tường trình đề giới thiệu một vài đường nét Trung Y hiện đại với y giới quốc tế, nhưng lại chỉ dành có một giòng đề nói về ung thư ở Trung Cộng, mà lại nói về một phương pháp nghiên cứu trị liệu ung thư theo Tây Y chứ tuyệt nhiên không đả động gì đến khả năng trị ung của y lý cồ truyền². Ngoài ra trong câu chuyện hàn huyên của một khách biên đình khắc, Victor W. Sidel, hai nguyên nhân chính gây tử vong cho người dân Hoa Lục hiện nay, ít nhất là người dân Thượng Hải, vẫn là ung thư và các bệnh tim mạch 3.

Hơn nữa, ngay tại Hoa Kỳ, những người Mỹ gốc Trung Hoa, vì hiều rằng ung thư không thề chữa khỏi bằng Đông Y cũng như bảng Tây Y, nên đã không ngần ngại cầu viện đến cả hai hình thức trị liệu tân tiến và cổ truyền, mà vẫn không tuyệt đối tin tưởng vào một nền y học nào cả 4,5,

Nhưng biết đâu trong tương lai, y giới sẽ chẳng tìm ra một chất trị ung hữu hiệu, bằng vào các thang phương kinh điền của phương Đông? Điều nầy không phải là không thể xảy ra. Y học chính thống đã tìm rã quinine, đã phát giác cây Rauwolfia do học hỏi, nghiên cứu lề lối trị bệnh dân gian của nhiều dân tộc. Vả lại, một trong những loại thuốc trị liệu

ung thư được xem là hiệu nghiệm nhất hiện nay là một dược liệu lấy từ thảo mộc : đấy là chất vincaleucoblastine hay vinblastine mà

tân dược trích khai tử cây Vinca rosea L7,8. tức cây Dừa cạn của Việt Nam.

Cây dừa cạn là một cây thồ sản của ta, và các sách báo ngoại quốc về Dược liệu học đều mô tả một cách khao khát kho tàng quỹ giả còn hối tàng của đất mẹ Việt Nam khi nói đến cây này 10. Trên một bình diện

khác, cây lưỡi rắn, như trên kia đã nêu nghi vấn, cũng là một cây cực kỳ phổ thông trong đám kỳ hoa dị thảo của nước nhà.

Dừa cạn là nguồn lợi thiên nhiên đề tân dược điều chế thuốc trị ung thư. Lưỡi rần là đau vị của một thang phương nham khoa thời

thượng theo y lý cò truyền. Duyên nợ của cây cỏ Việt Nam đối với ung thư liệu pháp kề cũng thật nồng nàn, nặng tình, khẳng khít. Những ngày mai tươi đẹp nào nữa còn chờ đợi mối lương duyên này?

Thủ đô. 03. 09. 72.

Chú thích

1. Bài này cũng được viết trong cùng một tỉnh thần tồng quát, đề cập đến mọi loại u, bướu, lở, loét chứ không hạn hẹp lấy đối tượng là ung thư chính hiệu, tức là ung thư hiều theo Tây Y.

Nguyên văn của Nội Kinh dùng hai chứ tức tích đề chỉ u bướu.

Lâm là tiểu tiện nhỏ giọt đau buốt.

Hạ là dùng thuốc mạnh đề tống tà đặc ra ngoài, theo dưỡng đại tiều tiện

Đồng bào miền Nam gọi là «lac».

Sao tồn tính – cũng còn gọi Hắc sao – là một lỗi bào chế thuốc của Đông Y dùng lửa giả, chảo thật tông, cho dược liệu vào đảo đều đến khi bên ngoài chảy đen, nhưng bê ra bên trong còn mầu vàng cũ là được. Phương pháp này có mục đích thêm tác dụng tiêu thực hoặc làm thay đổi tính chất của thuốc, và được ấp dụng chẳng lạn đổi với các vị Hương phụ. Địa du, Bác kinh giới…

Không thể dùng nhân lực vào việc tìm kiếm thư liệu tham khảo vì mỗi năm thư khố y khoa của Mỹ tiếp nhận thêm khoảng chirng 200.000 tài liệu. Trong trường hợp độc giả mình định được xuất xứ của tài liệu thì sự cũng cấp dễ dàng hơn.

Dimond EG. Gây mê bằng châm cứu. Y học phương Tây và Y học cổ truyền Trung Quốc JAMA Tập 218, N° 10, tr. 1558-1563, ngày 6 tháng 12 năm 1971.

Dimond kề lại sự kiện trích khai neriifolin từ cây Thông thiên Thevetia peruviana K.

Schum như là một thành công độc đáo và mới mẻ của Hoa lục. Nhưng thực ra thì y giỏi Trung Cộng (và cả Bắc Việt) đã xúc tiến công việc này từ lâu, nhâm mục đích dùng cây cổ địa phương thay thế các dược phẩm nhập cảng quả đạt. Thông thiên và nhất là Trực đào Nerium oleander L. đã được miền Bắc Việt Nam tận dụng trong điều chế các glucosid trợ tim (Đã tất Lợi. – Công tắc nghiên cứu và khai thác dược liệu trong 15 năm vừa qua, Y học Việt Nam, số đặc biệt 3.4-5, tr. 40-44, 1960; và Vũ đình Hài. – Chữa suy tim bằng

neriolin, một hoạt chất của Trúc đào. Y học thực hành, số 153, tr. 17-20, 1968)

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading