UẤT KIM
“Uất Kim tánh bình, lương huyết phá ứ,
Khai uất tiết nhiệt, huyết chứng điên cuồng”
BIỆT DANH
Ngọc Kim, Ắt Kim, Thân Huỳnh, Mã Mê, úy Kim, uất Sương, Kim Mau Thoát.
HÌNH LOẠI
Là củ nghệ xà cừ, củ làm thuốc .
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Tim để tiêu ứ khai uất.
TÁNH VỊ
Vị ngọt cay, hơi đắng, tánh bình, không độc.
CHỦ TRỊ
Là thuốc cần thiết để khai uất phá ứ, thông huyết, có công năng khai huyết uất, tiết huyết nhiệt, trị
thổ huyết, đi tiểu ra huyết, huyết chét tích tụ lại làm điên cuồng, còn trị được sản hậu bại huyết xung
tâm làm điên cuồng cổ độc.
KINH NGHIỆM
uất Kim gần đây người ta dùng chỉ chú trọng đến giống Tứ Xuyên và Quảng Đông. Hình trạng công
dụng cùng với Cương Hoàng, Nga Truật giống nhau. Trần Tàng Khí nói: Cương Hoàng tánh ấm
màu vàng kiêm trị khí trong huyết, uất Kim đắng lạnh, màu đỏ chỉ trị huyết. Cho nên chuyên vào
phần huyết để giải uất phá ứ,
3
Trang 340
nhưng kém hơn Tam Lăng, Nga Truật; Vì Tam Lăng, Nga Truật thì hành khí, phá huyết, trị kết cứng
mạnh hơn nhiều, nên thầy thuốc chỉ dùng uất Kim. Thầy thuốc ngày nay thường cho Chỉ Xác trị
được hông sườn bên phải đau, uất Kim trị được hông sườn bên trái đau, nếu cả hai đều nhau thì
dùng cả hai thứ lại thêm Sài Hồ, … thường thường thấy nhất thời công hiệu.
CẤM KỴ
Phàm bệnh thuộc chơn âm quá hư, phần âm hỏa bốc, thúc huyết chạy loạn, chớ không phải phần khí
bị nghịch, khí lá Gan bất bình gây thành hại Gan thổ huyết đều kỵ.
DỤNG LƯỢNG
Phổ thông mỗi lần dùng từ 1 chỉ đến 3 chỉ.
PHỤ LỤC
Trong dòng họ gừng, ngãi, nghệ màu vàng rất nhiều hoặc cay
nóng như tiêu, hoặc cay đắng, hoặc ngọt cay chỉ có hơi đắng,
hoặc màu vàng đỏ (tức vàng sậm), hoặc vàng trắng (vàng lợt),
… Nhưng theo thực tế trên đất nước Việt Nam dùng vào thị
trường Đông Y thông thường có hai thứ. Thứ vàng lợt vị đắng
cay hôi gọi là
Cương Hoàng, chỉ ảnh hưởng vào Tỳ dương thuộc mạch hữu quan cứng, chỉ tả không bổ. Còn một
giống nữa màu vàng đỏ, da bóng nhoáng như có pha bạc, đốt khít lại như bụng con ve, mùi thơm, vị
ngọt, tánh bình, nếu khô rồi tánh ấm, chuyên ảnh hưởng vào tả thốn và hữu quan có hiện tượng kết
cứng và có ảnh hưởng ít nhiều vào hữu thốn, uất huyết. Vừa có công dụng phá ứ khai uất cho huyết,
vừa có chất bổ.Trừ khi nào trồng ở những nơi đất cằn cỗi thì mới có vị đắng cay. Theo sự hiểu biết
của chúng tôi thì đó mới chính thực là uất Kim, còn khối tròn dưới đuôi rễ người ta thường gọi là
trứng tức là uất Kim Tử, nhưng ít khi thầy thuốc biết rõ. Vì tất cả các giống này bên dưới đều có
trứng, không riêng gì uất Kim, cho nên thị trường có thể lấy tất cả nhũng thứ trứng của giống màu
vàng nào đó thay thế cho uất Kim Tử mà gán vào cái tên uất Kim để bán đắt giá, thầy thuốc không
thể không biết.
3
Trang 341
T T\ : Í,,; 7 .
Đành rằng Tam Lăng, Nga Truật, Cươhg Hoàng, Ưất Khnhay tất cả dòng họ ngãi, nghệ này cũng
đều có tánh phá huyết, trục ứ, nhưng hình thù đã khác, hương vị khác, màu sắc khác, làm sao công
dụng giống nhau, chỉ vì thầy thuốc dốt nát mới không biết rõ.
UẤT KIM
Written by
