Trong sáu khí có Hỏa và Nhiệt lại thêm khí Táo, thời y đối với ba khí nầy thường thường khôngphân biệt được. Nay xin hỏi về sự phân biệt khí Táo và thuốc trị.

Ba khí đều khác, không thể luận chung, nay ông hỏi đến khí Táo, cùng với Hỏa Nhiệt khác hẳn.
Bởi vì Táo với Thấp đối nhau. Thấp là nước lửa giao nhau mà hóa, còn Táo là khí Thủy Hỏa không
giao. Lửa không nung nước thì không sanh mây mưa. Nước không giúp lửa thì sương mốc không rơi.
Táo thành hình tại chỗ đó. Nước không nhuận thì khí Mộc không được thấm nhuần, cỏ cây úa rụng, lửa
không nung thì hơi đất không phát, mạch đất khô kiệt. Xét lý do Thủy Hỏa không giao nhau đều bởi
tánh Kim thâu. Thâu ngừng, Thủy Hỏa đều lui về căn cứ nên Thần gọi là nhục thâu; giữa khí mùa Thu
cỏ cây khô héo, suối đất cạn kiệt, đó là bằng cớ khí Táo Kim dụng sự. Con người bẩm khí Táo Kim là
kinh Dương Minh thuộc Vị và Đại Trường. Vị tuy thuộc Thổ, nhưng lấy Táo làm chủ nên cùng với Đại
Trường họp thành Táo Kim. Vì Kim thâu mà Thủy Hỏa không giao tức là Táo, thế là Táo là khí Thủy
Hỏa tiêu hao. Trường Vị mà hóa được thức ăn uống đều nhờ khí Táo có thể tiêu hao. Hóa táo không đủ
thì nước không tiêu làm ói mửa, tiêu chảy. Dùng Bán Hạ, Trần Bì, Bạch Truật làm chủ. Ngô Chu Du
cũng cay ráo, chín vào tháng Chín, đúng là được khí Táo Kim nên trừ được thủy ẩm vì Táo thắng
Thấp. Thương Truật đúng là Táo vị Thổ. Sa Nhơn cay chát đúng là vào Đại Trường. Thảo Quả táo
mạnh dùng để tiêu thấp tích của hoa quả. Nhưng đó đều là bệnh thấp do khí Táo không đủ. Nếu bệnh
chứng của táo thì đều thuộc khí Táo có dư. Bởi vì có tân dịch thì không táo. Không tân dịch thì táo.
Trọng Cảnh lấy giữ gìn tân dịch làm chủ, chính là để trị táo. Có trường hợp lửa không nung nước mà
tân dịch không bốc lên, như chứng khát nước của Ngũ Linh Tán, nên dùng vị Quế Chi. Còn thang Lý
Trung có chứng khát nước thì nên dùng Càng Cương. Hoàn Thận Khí trị chứng hạ tiêu (đi tiểu nhiều
quá làm tiêu hao) nên dùng Nhục Quế, Phụ Tử. Đại tiện lạnh kết thì dùng Đương Qui ôn nhuận, dùng
Bã Đậu tân nhuận, đều là trị chứng táo do lửa không nung nước. Tây y dùng dầu Tỳ Ma (dầu thầu dầu)
để thông đại tiện, cũng là phép ôn nhuận điều trị hàn táo. Chứng nầy rất ít. Chỉ có hỏa táo rất nhiều.
Nước không thấm nhuần được lửa thì thành hỏa táo, huyết dịch không chảy xuống dưới thì trong ruột
khô khan, ăn vào không xuống, phẩn như phẩn dê, thì phải Hắc Đậu, Chi Ma, Thung Dung, Đương Qui,
Ma Nhơn, Sanh Địa, Sơn Dược, sanh tân dịch để nhuận. Chất thủy tân không bốc lên trên, miệng khô,
Phổi héo, đàm uất, ho nghịch, nên dùng A Giao, Bối Mẫu, Mạch Môn, Tử Uyển, Qua Lâu Sương, Bá
Hợp, Mật Ong Trắng, Tổ Yến, Bạch Mộc Nhĩ, Cáp Giới, Bá Dược Tiễn, Ngọc Trúc, Hạnh Nhơn sanh
tân để nhuận. Chứng Phổi khô rất khó trị, vì Phổi ở trên tột bực cao, lại thuộc phần khí. Dương tân dễ
đạt, âm dịch khó đến, dùng Mạch Môn, Thiên Môn, Đương Qui, Nhơn Sâm để trị. Quá ráo, miệng khát
thì Hoa Phấn, Cát Căn, Diêm Mai, đều nhuận sanh tân, nếu Hỏa quá nặng, có phân đóng cứng phải gấp
hạ; dùng Mang Tiêu để nhuận tẩy, dùng Đại Hoàng để công lợi. Đó là công hạ, là để cứu tân dịch. Hể
có tân dịch thì không ráo nữa. Người đời chỉ biết hạ hỏa nhưng không biết giữ tân dịch chính là cứu
ráo. Hạ cũng có thể làm mất tân dịch, nên có điều răn về hạ như chứng kiết lỵ cấm khẩu. Tân dịch
không bốc lên nên không ăn được. Tây y nói đó là Trường Vị phát sưng, lâu ngày thì vỡ thối. Nhưng
xét kỹ chứng nầy tức là nước không thấm nhuần cho lửa quá lắm, phải dùng Huỳnh Liên, Sanh Địa làm
chủ. Dùng Bạch Cúc, Hoa Phấn, Huỳnh Cầm để tá. Còn chứng âm suy có phân táo bón, dùng phương
Trư Cao Phát Tiển cũng là ng- hĩa nhuận trường. Phong có thể thắng thấp. Phong hại huyết thì gân ráo,
Ngọc Trúc, Đương Qui làm chủ. Tiểu tiện ráo rát thì dùng Ý Dĩ, Hượt Thạch, Đông Quỳ Tử, Nhục
Thung Dung để cho hượt lợi. Đàn bà Tử Cung khô ráo, Trọng Cảnh dùng thang Cam Mạch Đại Táo.
Chứng nầy có thể tá dùng thang Đại Hoàng. Trong Tim thiếu tân dịch thì phát phiền, nhẹ thì Bá Tử
Nhơn, Táo Nhơn để nhuận, nặng thì lòng đỏ trứng gà, A Giao để nhuận. Nội Kinh nói Thận ghét táo.
Thận tinh không đủ phải Câu Kỷ, Thố Tư, Thục Địa, Qui Giao, A Giao. Lại như chứng tiểu tiện quá
thông. Đại tiện lại cứng, Trọng Cảnh dùng Phụ Tử, Bạch Truật, lại là dùng lửa để nung nước, là phép
dậy động tân dịch. Tóm lại, Táo là khí tiêu hao của Thủy Hỏa phân ly. Cho nên có Hàn Táo, có Nhiệt
Táo, nhưng Nhiệt Táo rất nhiều là vì Hỏa thường hợp với Táo.
Tham luận: Về nghĩa của khí táo (khô ráo) luận như thế thật là bộc bạch. Nhưng giả sử ta tạo ra khí táo
để áp dụng vào kỹ thuật bào chế, rồi ta mới thấy càng rõ rệt thêm. Thí dụ ta có nhiều vị thuốc, hoặc
đắng, mặn, chua, cay, ngọt, béo, chát, tê, ngứa, the có thứ có dầu, có mùi thơm v.v. Nếu ta cho vào lò
sấy nóng thì sẽ tùy thuộc vào hơi nóng mà những thứ có dầu nhẹ, có tánh lạnh, đều không thể không tiêu
hao biến dạng. Nhưng nếu ta áp dụng kỷ thuật sấy lạnh, thì không những mọi chất thuốc đều còn nguyên
mà tánh thuốc cũng không xê dịch nữa. Đây cũng là một khía cạnh không thể không biết!

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading