BIỆT DANH
Thủy Tô, Xích Tô, Hương Tô, Quế Tô, Quế Nhâm, Sơn Ngư Tô, Bạch Ngư Tô, Việt Nam gọi là Tía Tô.
HÌNH LOẠI
Là một loại thảo sống từng năm, người ta trồng, cả lá lẫn hột đều làm thuốc, lá còn làm rau gia vị.
CÔNG DỤNG
Thuộc loại rau thơm chuyên vào Phổi, kiêm vào Tâm Tỳ để sơ thông khí lạnh
TÁNH VỊ
Vị cay, tánh ấm, không độc.
CHỦ TRỊ
Là thuốc cần thiết để phát biểu, tán hàn giải độc. Có công năng giáng khí, hóa đàm, phát hạn, đuổi lạnh. Chủ trị thương phong, nóng lạnh ỉa mửa, hơi phổi suyễn gấp, lòng bụng trướng đầy, an thai. Với đàn bà có thai rất họp. Giải độc các thứ thịt cá cua.
KINH NGHIỆM
w Tô vị cay vào phân khí, màu tía vào phân huyêt, nên đông với Trân Bì, Sa Nhân thì hành khí, an thai. Đồng với Hoắc Hương, ô Dước thì ôn trung, đỡ đau. Đồng với Hương Phụ, Ma Hoàng thì phát hạn,giải cơ. Đồng với Xuyên Khung, Đương Quy-thì hòa huyết, giáng huyết. Đồng với Mộc Qua, Hậu Phác thì hóa thấp, giải thử, trị hoắc loạn, khước khí. Đồng với Kiết Cánh, Chỉ Xác thì thông chẽn
Trang 288
vừng, nới lồng ngực. Đồng Hạnh Nhơn, La Bạc Tử thì tiêu đàm, định suyễn. Phần lá nghiêng về phát tán phong khí. Phần hột nghiêng về thanh lợi trên dưới, hóa đàm. Phần cành thuận khí biểu tán, an thai, cầm ói.
CẤM KỴ
Phàm âm hư phát nóng lạnh, hoặc phát sợ lạnh đầu nhức, nên liễm, nên bổ thì tô diệp không hơp. Hỏa thăng làm ói cũng k ỵ, ăn chung với cá chép thì phát ghẻ độc.
DỤNG LƯỢNG
Từ 1,5 chỉ đến 3 chỉ.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading