Thương Hàn – Ôn Dịch

Thươug-hàn Ôn dịch thứ 22

傷寒病極變遷 Thương-hàn bệnh, cực biến thiên (Chứng bệnh Thương-hàn biến đổi nhiều thứ).

Thái dương chủ bề ngoài của mình người ta, giữ về kinh Hàn-thủy, phàm bệnh từ ngoài lại đều là Thương-hàn chớ không phải Hàn-nhiệt biến ra vậy. Biến đổi là : hoặc Tam-dương, hoặc Tam-âm, hoặc hàn hóa, hoặc nhiệt hóa khác nhau.

六經法有真傳 Lục-kinh pháp, hữu chân truyền (Phép trong Lục-kinh, có đủ chân truyền)

Thái dương Hàn-thủy là kinh chủ bên ngoài, trong sách có đầy đủ mọi phép phát hãn, Dương-minh Táo-kim là kinh chủ về bên trong, trong sách có đầy đủ mọi phép công-lý (công ở trong), Thiếu dương Tướng hỏa là kinh ở giữa khoảng trong và ngoài, tức là Dương-khu vậy, trong sách có đầy đủ mọi phép hòa giải. Thái-âm thấp-thổ, thuần- âm mà chủ hàn, trong sách có đủ mọi phép ôn-bồ. Thiếu-âm Quân hỏa, tiêu bản nóng lạnh khác nhau, tức là âm-khu vậy trong sách có lập đủ hai phép trị hàn nhiệt. Quyết-âm Phong-mộc, Mộc thì có Hỏa mà chủ về nhiệt, trong sách có đủ mọi phép thanh hỏa, tuy Thái-dương cũng có lý chứng, Dương-minh cũng có biều chứng, Thái-âm cũng có nhiệt chứng, Quyết-âm cũng có hàn chứng, nhưng đề cương không ở chỗ đó.

頭項痛太陽編 Đầu hạng thống, Thái- dương biên (Đầu và cổ đau, thuộc kinh Thái-dương)

Ba Dương đều chủ biều, mà kinh Thái-dương là biểu ở trong biểu, luận chứng cho là đầu đau, cổ cứng, phát nóng, ghét lạnh làm đề cương, có mồ hôi thì cho uống thang Quế-chi, không mồ hôi thì cho uống thang Ma-hoàng.

胃家實陽明編 Vi-gia thực, Dương-minh biên (Vị gia thực, thuộc kinh Dương-minh)

Dương-minh là lý ở trong biểu, chủ lý, thực chứng, cho nên uống thang Tam-thừa-khí, luận chứng lấy vị gia thực làm đề cương, lại mũi khô, mắt đau không ngủ được làm kinh bệnh, nếu sợ lạnh đầu nhức là bệnh chưa lia kinh Thái dương, phải xét rõ có mồ hôi hay không có mồ hôi đề dùng thang Quế-chi hay thang Ma-hoàng, Nếu không có nhức đầu sợ lạnh, chỉ thấy nóng nhiều tự ra mồ hôi, miệng khát là bệnh đã lìa kinh Thái-dương nên cho uống thang Bạch-hồ, đề cương của đức Trọng Cảnh không cho như thế, phàm những phép giải hàn phải cầu ở kinh Thái-dương, những phép công-lý phải cầu ở kinh Dương-minh đó là lập pháp nghiêm vậy.

眩苦嘔少陽編 Huyễn-kho ầu, thiếu-dương- biên (Mắt mở miệng đắng ói, thuộc kinh Thiếu-dương)

Thiếu-dương ở giữa khoảng Thái dương Dương-minh tức là Dương-khu, hàn nhiệt lẫn lộn, nếu hần nhiệt còn quanh quần ở bên ngoài mà làm cho bụng và sườn đầy phiền, thì nên cho uống thang Đại, Tiều Sài hồ, nếu hàn nhiệt chống nhau ở trong mà làm bụng đau ói mửa, thì cho uống Hoàng Liên, trong bụng bĩ đầy ói ngược lên, thì chơ uống thang Bản-hạ tả tâm, ăn nuốt không vào được thì chơ uống thang Càn-khương Hoàng-liên Nhân sâm, nếu Tà đã vào cả trong Đảm-phủ công xuống Tỳ mà làm tự lợi thì nên cho uống thang Hoàng-cầm, ngược lên Vị mà làm lợi lại thêm nôn ói thì cho uống thang Hoàng-cầm gia Bán-Hạ Sinh- khương, luận chứng lấy miệng đắng, cổ khô, mắt mờ làm đề cương.

吐利痛太陰編 Thở lợi thống, Thái âm biên (Chứng Thổ, Lợi, Thống, thuộc kinh Thái-âm)

Thái-âm Thấp thồ là tạng thuần Âm theo hàn hóa nhiều theo nhiệt hóa ít. Kinh này chủ về hàn chứng mà nói, nên cho uống thang Lý-trung thang Tứ-nghịch làm chủ yếu, Nguyên bản bị ông Vương thúc-Hòa làm lộn cả, luận chứng lấy trong bụng đầy, thở thực, tự lợi, không khát, chân tay ấm, bụng có khi đau làm đề cương.

但欲寐少陰編 Đãn dục mị, thiếu âm biên (Chứng chỉ muốn ngủ, thuộc kinh Thiếu-âm)

Thiếu âm ở giữa khoảng Thái-âm Quyết-âm, tức là ẩm-khu, có khi lạnh, có khi nóng, luận chứng lấy mạch vi tế chỉ muốn ngủ làm đề cương, những phép trị: Hàn: thì dùng thang Ma-hoàng Phụ-tử Tế-tân, thang Ma-hoàng Phụ- tử Cam-thảo và thang Bạch thông, thang Thông-mạch tứ- nghịch. Nhiệt: thì dùng thang Chư-linh, thang Hoàng- liên Kê-tử hoàng và thang Đại-thừa-khí.

吐蜆湯厥陰編 Thô vưu khát, Quyết-âm biên (Chứng thổ vưu khát, thuộc kinh Quyết-âm)

Quyết-âm tức là âm đã hết, âm hết thì dương sinh, vả lại thuộc về phong mộc có Hỏa chủ về nhiệt chứng, luận chứng lấy tiêu khát khí đưa lên đụng tâm, trong bụng dau nóng, đói không muốn ăn, ăn thì thổ tả lợi không dứt làm đề cương, lấy Ô-mai hoàn làm chủ trị, tự lợi hạ trọng khát nước, lấy thang Bạch-đầu-ông làm chủ trị. Phàm hết thảy những phép phát biểu nói đủ ở kinh Thái-dương, hết thảy những phép công-lý nói đủ ở trong kinh Dương-minh, hết thảy những phép hòa giải nói đủ ở trong kinh Thiếu-dương, hết thảy những phép ôn bồ nói đủ ở trong kinh Thái-âm, hết thảy những phép nên làm hàn-lương đã đủ ở trong kinh Quyết-âm, hết thảy những phép dùng cả hàn nhiệt nói đủ ở trong kinh Thiếu âm, đó là Lục-kinh của Đức Trọng-Cảnh luận về Thương hàn cùng với Lục kinh của Nội kinh luận về Nhiệt bệnh khác nhau.

長沙論嘆高堅 Trường-Sa luận, thán cao kiên (Luận của Trường-Sa, rất cao, rất chắc)

Luận của Trường Sa (tức là đức Trọng-Cảnh) rất là cao xa bền chắc, càng trông càng cao, càng giùi càng bền chắc,

存津液是真詮Tön-tân dịch, thị chân thuyên (Giữ còn tân dịch, đó là tôn chỉ)

Giữ còn tân dịch đó là tôn chỉ của toàn thư, như thang Quế-chi là cam ôn đề giải cơ dưỡng dịch; tức như thang Ma-hoàng vào thẳng da, lông không bằng vị gừng cay nóng vị Táo ngọt ủng theo ngoài trị bên ngoài mà không thương tới Vinh-khí cũng là dưỡng dịch vậy, thang thừa-khí cấp hạ đấy mà không đề cho Tà hỏa đốt chân âm cũng là dưỡng- dịch tức như thang Ma-hoàng Phụ tử Tế tân dùng vị Phụ- tử đề giữ vững cái gốc của Thiếu-âm khiến bên trong giữ lấy tân dịch không theo mồ hôi mà ra cũng là dưỡng dịch; thang Ma-hoàng Phụ-tử Cam-thảo là lấy vị Cam-thảo (hoán) thay cho vị Tế-tân, vị Ma-hoàng thấm vào Trung tiêu lấy tân dịch của thủy cốc làm ra mồ hôi mà không thương tới chân âm đó là dưỡng dịch vậy, suy như thang Lý-trung, Ngũ-linh tán phải húp chút nước cháo, thang tiều-sài-hồ, thang Ngô thù du đều dùng vị Nhân sâm, mỗi phương, phương nào cũng đều có phép dưỡng dịch cả.

汗吐下温清卷Han-tho-hạ, ôn-thanh-huyền (Phép Hãn, thổ, hạ, và phép ôn-thanh)

Bệnh ở Biều thì nên cho phát hân, ở Hung cách nên cho thố, ở Lý nên cho Hạ, Hàn nên cho ôn, nhiệt nên cho thanh.

補貴當方而Bồ quý đáng, phương nhi viên (Phép bồ quý đáng, vừa vuông và tròn)

Bệnh hư thì phải bồ, hợp với trên là sáu phép, nói vuông tròn là nói một bộ Thương hàn luận đều là phép để cứu sống người.

規矩廢甚於今Quy cũ phế, thậm ư kim (Bồ cả khuôn phép, nhất là ngày nay)

Từ ông Vương-thúc-Hòa trở về sau, những nhà chua ra phần nhiều lầm lẫn, song cũng còn có phải có quấy, tệ nhất là bây giờ không còn biết cái luận Thương hàn là vật gì nữa, bỏ hết cả khuôn phép.

二陳尚九味尋 Nhi-trần thượng, Cứu-vi tầm (Chuộng thang Nhị-trần, tìm thang Cửu-vị)

Người ta đều nói rằng thang Nhị-trần là một phương thuốc phát hần bình ổn, mà không biết vị Phực-linh thấm, vị Bán hạ sáp đều có thể lưu tà sinh nóng biến thành những chứng nói nhảm, không đi tiện được: người ta đều nói rằng thang Cửu vị Khương-hoạt so với hai thang Ma Que còn ồn hơn, mà không biết kinh Thái-dương bệnh nặng nên phòng ngừa bệnh chạy vào kinh Thiếu-dương, trong phương ấy có vị Cầm-địa đắng lạnh. Uống rồi không ra mồ hôi sợ rằng vị đắng lạnh ấy hãm vào kinh Thiếu-dương biến ra chứng mạch trầm tế mà chỉ muốn ngủ; uống rồi ra mồ hôi được lại sợ vị đắng lạnh ấy phá hại Thận-dương, dương không giữ chắc ở trong, biến ra chứng lậu không dứt, Thời Y ưa dùng phương ấy thì cũng nên rõ cái hại của phương ấy làm hại người ta không ít.

香蘇外平胃臨 Hương-tô ngoại, Bình-va làm (Ngoài Hương-tô ẩm, tới Bình-vị tán)

Cái lực lượng của Hương-tò ẩm rất yếu không thề đuổi tà ra hết được, sợ rằng tà còn lại sẽ truyền biến ra nhiều thứ, Bình vị tán là phương thuốc táo thấp tiêu đạo, phép của Đức Trọng Cảnh không hề dùng thứ thuốc táo đề phát hãn, vả chăng ngoại tà chưa đi, lại càng không nên công ở trong trước.

汗源洞耗真陰 Han-nguyên hạt, hao chân âm (Nguồn mồ hôi khô, làm hao chân âm)

Âm là nhà của Dương vậy, thang Quế-chi có vị Bạch- thược và húp nước cháo đều là phép tư âm đề cứu lấy nguồn mồ hôi, thang Ma hoàng dùng vị Cam thảo và không húp nước cháo, cũng là giữ chân-âm để cứu nguồn mồ hôi, Ông Cánh-Nhạc ngộ nhận cái ý đó mà thường dùng vị Quy-địa đề hại bao nhiêu mà kề.

邪傳變病日深 Tà truyền biến, bệnh nhật thâm (Tà đã truyền biến, bệnh càng ngày càng sâu) Trị mà trúng phép bề nào cũng khỏi, còn nếu đã sinh ra chứng nghịch chứng Hoại chứng quá kinh không hết là đều do ở trị sai lầm mà tới nỗi như vậy.

目擊者實痛心 Mục-kích giả, thực thống tâm (Mắt thấy như vậy thật là đau lòng)

Người ta chết về bệnh thì ít, mà chết về thuốc thời nhiều, những người hành đạo ngày nay, phần nhiều học lợi khẩu lấy thứ thưốc ấy đề giết người, tức là lấy thứ thuốc ấy để được danh, thực là đáng than thở vậy, tôi biết chắc rằng những người ấy sẽ đề hại tới con cháu.

醫醫法腦後鉞Y-y pháp, não hậu chậm (Phép trị thày thuốc, châm thẳng sau óc)

Tiêu Tiền bối nói rằng : Trị bệnh người trước hết hãy trị thày thuốc, một ông thày thuốc trị ngàn muôn người, chẳng qua chỉ trị được ngàn muôn người mà thôi, cứu một ông thầy thuốc tức là cứu ngàn muôn người, cứu ngàn muôn ông Thầy thuốc tức là cứu biết bao hằng hà sa số người Thiên ha đời sau vậy, cho nên tôi nói châm thẳng vào sau óc ông Thầy thuốc

若瘟疫治相伴 Nhược ôn dịch, trị tươug mâu (Còn chứng ôn dịch, trị cũng như nhau)

Khí bất chính của bốn mùa và dị khí của phương thổ, người bệnh cảm mạo uế khí mà thành chứng ôn dịch, tuy có chia ra theo kinh lạc mà vào, theo miệng mũi mà vào khác nhau, mà kiến chứng cũng lấy theo Lục-kinh làm bằng, phép trị cũng giống như trị Thương hàn. 1

通聖散兩解求 Thông-thánh tán, lưỡng giải cầu (Phương Thông-thánh-tán, cầu hai thứ giải) Ở trong điều kinh Thái dương của đức Trọng-Sư nêu ra câu phát nóng không sợ lạnh mà khát nước là bệnh ôn, tức là noi theo bá-thuyết trong bộ Nội-kinh, người ta bị thương về lạnh thì thành bệnh nóng : mùa Đông thương về lạnh, tới mùa Xuân tất là bệnh Ôn, trước ngày Hạ chí là bệnh Ôn, sau ngày Hạ chí là bệnh thử, ban đầu dùng thang Ma-hạnh- Cam-thạch, ở kinh thì dùng thang Bạch-hồ gia Nhân-sàm, nhập lý thì dùng thang Thừa-khí và Thái-âm dùng thang Nhân-trần-hao, Thiếu-âm dùng thang Hoàng-lên A-giào, thang Trư-linh, Quyết âm dùng thang Bạch-đầu-ông đều là phương thuốc cần yếu, xét ra khác với chứng Ôn-dịch. Bệnh Ôn dịch đều do cảm cái khí độc dữ mà phát ra, khi mới bị, nếu kiêm cả sợ lạnh, thế là tà theo kinh lạc mà vào, nên dùng thang Nhân sâm bại-độc là phép giữ chính đuổi tà, khi mới bị, nếu kiêm cả bụng đầy, miệng thở ra nhớt vàng, ấy là tà theo miệng mũi mà vào, nên dùng thang Hoắc- hương chính-khí là phép lấy mùi cay thơm đề trừ uế khí, duy có phương Phòng-phong Thông-thánh là đầy đủ mọi mặt là khi mới bị chưa chắc đã nội thuộc, trong phương riêng có vị Tiêu-hoàng thật là thần diệu, không hề có cái hại hám-tả, nếu đọc sách của Đức Trọng-Sư thấy câu dưới ai ai cũng lè lưỡi, nhưng không biết có lợi mà không hại vậy.

六法備汗為尤 Lục-pháp bị, hãn vì vưu (Đủ sáu phép trị, cho ra mồ hôi là hơn)

Hãn, Thổ, Hạ, Ôn, Thanh, Bồ là sáu phép trị về bệnh Thương hàn, trong 6 phép duy có phép cho ra mồ- hôi là cần yếu, về bệnh Ôn dịch có mồ hôi thì sống, không có mồ hôi thì chết, cái kỳ mồ hôi lấy bầy bữa làm cũ, nếu bầy bữa chưa có lại đợi tới bầy bữa nữa cho có mồ- hôi, lại bàn xem phép của Đức Trọng-Thánh cho Thổ, cho Hạ, cho Ôn, cho Thanh, cho Bồ đều là cần cho có mồ hôi, nói rõ ở trong mục Thời-phương diệu dụng.

達原飲昧其由 Đạt-nguyên-ẩm, muội kỳ do (Phương Đạt-nguyên-ẩm, làm mờ tối bệnh do)

Ông Ngô-hựu-Khả bảo rằng bệnh thớ thịt lấy thang Đạt-nguyên-ầm làm đầu, dựng ra cái dị thuyết đề dối người, thực là chưa biết cái bệnh do vậy.

司命者勿逐流 Tư-mệnh giả, vật trục lưu (Người giữ mệnh, đừng có a-dua)

Người trị bệnh tức là giữ cái mệnh của ngươi ta, phải nên đọc kỹ sách của Đức Trọng-Thánh đề tới khi lâm nhiều chứng bệnh tự có định liệu, chớ đừng nên a- dua theo thói thường.

NHỮNG PHƯƠNG THUỐC VỀ BỆNH THƯƠNG – HÀN KINH THÁI DƯƠNG

Quế-chi thang:

Quế Chi

Quế chi

3ch

rễ hoa mẫu đơn trắng

Bạch thược

3ch

cam thảo

Cam-thảo

2ch

sức khỏe Khương

Sinh-khương

3ch

táo tàu

Đại-tảo

4 trái

Đồ 2 chén nước sắc còn 8 phân uống nóng, uống rồi một lát hút một chén cháo để giúp sức thuốc, trùm mền cho ra mồ hôi, uống một lần hết bệnh thì thôi, nếu bệnh nặng ngày đêm uống ba lần.

Ma-hoàng thang:

cây ma hoàng

Ma-hoàng bỏ gốc, đốt

3ch

Quế Chi

Quế chi

2ch

hạnh nhân

Hạnh nhân bỏ vỏ

4ch

cam thảo

Cam-thảo

1ch

Đồ 3 chén nước sắc vị Ma-hoàng trước, còn hai chén thổi bọt đi rồi bỏ các vị kia vào sắc còn 8 phân uống nóng, không cần húp cháo.

Đại-thanh-long thang:

cây ma hoàng

Ma-hoàng bỏ gốc đốt

6ch

Quế Chi

Quế-chi

2ch

chí cao

Chích-thảo

2ch

hạnh nhân

Hạnh-nhân bỏ vỏ

2ch

sức khỏe Khương

Sanh-khương

3ch

táo tàu

Đại-tảo

4 trái

thạch cao

Thạch-cao đâm nát

4,5ch

Đồ 4 chén nước sắc vị Ma-hoàng trước còn 2 chén rưỡi bỏ bọt trên đi sẽ bỏ mấy vị kia vào sắc còn 8 phân uống nóng trùm mền cho ra mồ hôi, nếu mồ hôi ra nhiều lấy ôn-phấn (Bạch truật, hà Long cất, hà Mẫu-lê tán nhỏ) mà thoa, sợ mồ hôi ra nhiều thì vong Dương lấy khát mà cứu.

Tiều-thanh-long thang:

cây ma hoàng

Mã-hoàng bỏ gốc đất

1ch

rễ hoa mẫu đơn trắng

Bạch thược

2ch

Quế Chi

Càn-khương

Quế chi

1,5ch

cam thảo

Cam-thảo

2ch

Pinellia ternata

Bán-hạ

1ch

Schisandra chinensis

Ngũ vị-tử

3ch

Asarum

Tế-tân

1ch

8 giờ tối

Đề 3 chén nước bỏ vị Ma-hoàng sắc trước còn 2 chén rưỡi gạt bọt trên đi sã bỏ mấy vị kia vào sắc còn 8 phân uống nóng nếu khát nước, bỏ vị Bán hạ gia vị Quát-lâu- căn 2 chỉ, còn nghẹn, bỏ vị Ma-hoàng gia vị Phụ-tứ 1 chỉ rưỡi, tiều tiện không lợi, đau bụng và đầy, bỏ vi Ma-hoàng gia vị Phục-linh 4 chỉ, còn suyễn thì bỏ vị Ma-hoàng gia vị Hạnh nhân 3 chỉ. Xét luận rằng nều vị lợi bỏ vi Ma-hoàng gia vị Nguyên-hoa, không dùng vị Nguyên-hoa thí lấy vị Phục-linh mà thay, hay là vị Chư-linh vị Trạch-tỏ cũng được.

Quế-chi gia Cát-căn thang :

Tức là thang Quế-chi gia 4 chỉ Cát-căn.

Đồ 2 chén nước sắc còn 8 phân uống nóng, không nên húp nước cháo.

Cát-căn thang :

葛根 Cát căn

4ch

Cây ma hoàng Ma-hoàng

2ch

生羌 Sanh-khanh

2ch

Cam Thảo Cam Thảo

2ch

Quế Chi Quế Chi

2ch

白芍 Bạch thược

2ch

大棗 Đại-tảo

4 trái

Đồ 3 chén rưới nước sắc vị Ma-hoàng và vị Cát-cắn còn 2 chén rưỡi gạt bỏ trên đi sẽ bỏ các vị kia vào sắc còn 8 phân uống nóng lấy mồ hôi, không nên húp cháo.

KINH DƯƠNG MINH

Bạch hổ thang :

thạch cao

Thạch-cao đâm nát

8ch

Anemarrhena

Tri-mẫu

3ch

chí cao

Chích-thảo

1ch

Cơm Terrier

ngạnh-mễ

4ch

Đồ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống.

Điều-vị Thừa-khí thang:

đại hoàng

Đại-hoàng rửa rượu

4ch

chí cao

Chích thảo

2ch

Muối Glauber

Mang tiêu

3ch

Đô 2 chén rưỡi nước sắc vị Đại hoàng, Cam-thảo trước còn 1 chén bỏ cặn đi sẽ bỏ vị Mang-tiêu vào đun sôi một chút rồi uống nóng.

Tiều-thừa-khí thang:

đại hoàng

Đại-hoàng

4ch

Magnolia officinalis

Hậu phác

2ch

Chỉ đúng

chỉ thực

2ch

Đồ 2 chén nước sắc còn 8 phân uống nóng, lần đầu phải đi cầu, nếu không đi cầu lại sắc uống, đi cầu được thì thôi.

Đại thừa khí thang:

đại hoàng

Đại-hoàng rửa rượu

2ch

Magnolia officinalis

Hậu phác

4ch

Chỉ đúng

Chỉ thực

2ch

Muối Glauber

Mang-tiêu

2ch

Đồ 3 chén nước sắc vị Chỉ thực Hậu phác còn 1 chén rưỡi bỏ cặn đi sẽ bỏ vị Đại-hoàng và mang tiêu vào đun sói một chặp uống rồi thấy hạ được đừng uống nữa.

KINH THIẾU DƯƠNG

Tiều-sài hồ thang:

Bupleurum

Sái-ho

4ch

Nhân sâm

Nhân-sâm

1,5ch

Hoàng Sâm

Hoàng-cầm

1,5ch

chí cao

Chích-thảo

1,5ch

sức khỏe Khương

Sinh-khương

1,5ch

Pinellia ternata

Bán-hạ

2ch

táo tàu

Đại-tảo

2 trái

Đồ 3 chén nước sắc còn một chén uống nóng, ngày đêm uống 3 lần. Trong bụng buồn bức không ói bỏ vị Bán- hạ Nhân sâm gia 2 chỉ Quát-lâu. Khát nước bỏ Bán hạ gia 7 phân Nhân sâm, 2 chỉ Quát-lâu-căn. Trong bụng đau bỏ

vi Hoàng-cầm gia 1 chỉ rưới Thược dược.. Dưới sườn cứng bĩ bỏ Đại-tảo gia 2 chỉ Mẫu-lệ. Bụng dưới hồi hộp tiều tiện khồng lợi bỏ Hoàng-cầm gia 2 chỉ Phục linh. Không khát nước ngoài có hơi nóng bỏ Nhân sâm gia 1 chỉ rưỡi Quế-chi trùm mền cho ra mồ hôi một chút thì khỏi. Họ thì bỏ Nhân sâm Đại-tảo Sanh-khương gia 1 chỉ Ngũ-vị-tử va 1 chỉ rưỡi Càn-khương,

Đại Sài hồ thang :

Bupleurum

Sài-hồ

4ch

Pinellia ternata

Bán-hạ

2ch

Hoàng-cầm

1,5ch

hoa mẫu đơn

Thược dược

1,5ch

Chỉ đúng

Chỉ thực

1,5ch

sức khỏe Khương

Sanh-khương

2ch

táo tàu

Đại-tảo

2 trái

Bản khác có vị Đại-hoàng 5 phân, đồ 3 chén nước sắc còn 8 phân uống nóng, ngày đêm uống 3 lần.

KINH THÁI ÂM

Lý-trung-hoàn-thang:

Nhân sâm

Nhân sâm

3 lạng

Shiraki

Bạch truật

d3 lạng

Cam thảo 200

Can-khương

3 lạng

Cam-thao-3 lang

Cùng tán nhỏ mật hoàn lớn bắng lòng đỏ hột gà, mỗi lần ăn một hoàn với nước sôi, mỗi ngày ăn ba, bốn lần, ăn rồi húp nước cháo nóng, uống thấy trong bụng nóng làm độ, hoặc dùng thang mỗi vị 3 chỉ, đồ 3 chén nước sắc còn 8 phân uống nóng, uống rồi húp cháo nóng. Nếu trên rốn thấy cứng thì bỏ Truật gia Quế, thở nhiều bỏ Truật, gia 2 chỉ Sanh-khương, hạ nhiều lại phải dùng Truật, hồi hộp gia Phục linh, khát nước gia Truật, bụng đầu gia Nhân-sâm, hàn thì gia Càn-khương, bụng đầy bỏ Truật gia Phụ-tử, uống rồi một lát húp nước cháo nóng là thấy ấm, đừng hở. áo mền.

Tứ nghịch thang :

chí cao

Chích-thảo

4ch

Càn-khương

3ch

生附子Phụ-tử sống

2ch

Đồ 3 chén nước sắc còn 8 phân uống nóng.

Thông-mạch Tứ-nghịch gia Nhân-niệu Trư-đảm-thang:

Khương Khương

Càn-khương

6ch

cam thảo

Cam-thảo

4ch

生附子Phụ tử sống

2ch

Đồ 3 chén nước sắc còn 8 phân cho một muỗng nước mật lợn và nữa muồn nước tiều người uống nóng.

Quế-chi gia Thược dược thang :

Quế Chi Quế Chi

3ch

生羌 Sanh-khương

3ch

hoa mẫu đơn

Thược dược

9ch

chí cao

Chính-thảo

2ch

táo tàu

Đại-tảo

4 trái

Đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống.

Quế-chi gia Đại-hoàng thang :

Quế Chi

Quế chi

3ch

sức khỏe Khương

Sanh-khương

3ch

hoa mẫu đơn

Thược dược

6ch

chí cao

Chính-thảo

2ch

đại hoàng

Đại-hoàng

9 phân

táo tàu

Đại-tảo

4 trái

Đồ 3 chén nước sắc còn 8 phân uống.

KINH THIẾU ÂM

Ma-hoàng Phụ-tử Tế-tân thang :

cây ma hoàng

Ma-hoàng bỏ gốc đất

3ch

Asarum

Tế-tân

3ch

phụ tử

Phụ-tử

1,5ch

Đồ 3 chén nước sắc vị Ma-hoàng trước còn 2 chén gạt bọt đi sẽ bỏ các vị kia vào sắc còn 7 phâu uống nóng,

Ma-hoàng Phụ-tử Cam thảo thang:

cây ma hoàng

Ma-hoàng bỏ gốc

3ch

cam thảo

Cam-thảo

3ch

Aconite Phụ-tử

1,5ch

Phép sắc theo như thang trên.

Thông-mạch Tứ-nghịch thang :

干羌 Can khương

6ch

炙草 Chích thảo

4ch

生附子 Phụ-tử sống

3ch

Đồ ba chén nước sắc còn 8 phân uống nóng

Bạch thông thang:

Can-khương

生附子 Phụ-tử sống

Hành Bạch Song-bạch

Đồ 3 chén nước sắc còn 8 phân uống nóng.

Ngô thù du thang:

吳茱萸 Ngô thù du thang bào

3ch

人參 Nhân-sâm

1,5ch

生羌 Sanh-khương

6ch

大棗 Đại-tảo

4 trái

Đồ nước sắc uống.

Trư linh thang:

Polyporus Tru-linh

3ch

Poria Phục Linh

3ch

Thạch-tả

3ch

Gelatin da lừa A-giao

3ch

Đồ 2 chén nước sắc 3 vị trên trước còn 1 chén bỏ cặn bã đi sẽ bỏ A-giao vào sắc tan rồi uống.

Hoàng-liên A-giao Kê-tử-hoàng thang :

Coptis chinensis

Hoàng-liên

4ch

mũ sọ

Hoàng-cầm

1ch

hoa mẫu đơn

Thược dược

2ch

lừa ẩn gelatin

A-giao

3ch

鷄子黄Kê-tử-hoàng

1 chiếc

Đồ 2 chén rưới nước sắc còn 1 chén rưỡi bỏ cặn bã đi sẽ bỏ A-giao vào đun cho tan đề nguội một chút sẽ bỏ Kê-tử- hoàng vào khuấy cho đều rồi uống, mỗi ngáy uống 3 lần.

Đại thừa-khí thang:

(Phương này đã chua ở mục Dương-minh.)

KINH QUYẾT – ÂM

O-Mai-hoàn:

mận gỗ mun

C-mai

93 trải

Asarum

Te-tân

Can-khương

6ch

Angelica sinensis

Dương-quy

1 lạng

Coptis chinensis

Hoàng-liên

4ch

phụ tử

Phụ-tử

1,6ch

6ch

hạt tiêu Tứ Xuyên

Thục tiêu sao

4ch

Quế Chi

Quế chi

6ch

Nhân sâm

Nhân sâm

6ch

Nút chai

Hoàng-bá

6ch

Cùng tán nhỏ, lấy rượu tầm Ô-mai 1 đêm rồi bỏ hột đề trên nồi cơm chưng, đâm nhuyễn như bùn sẽ bỏ chung với bột thuốc kia nhào mật làm hoàn bằng hột ngô lớn, trước khi ăn uống 10 hoàn, lần lần uống đến 20 hoàn mỗi lần.

Đương- Quy Tứ-nghịch thang :

Angelica sinensis

Đương-Quy

3ch

Quế Chi

Quế chi

3ch

rễ hoa mẫu đơn trắng

Bạch thược

3ch

chí cao

Chính-thảo

2ch

Mộ Đồng

Mộc-thông

2ch

Asarum

Tế-tân

2ch

táo tàu

Đại-Tảo

8 trái

Đồ 3 chén nước sắc còn 8 phần uống nóng, nếu hàn-khí thịnh gia 2 chỉ rưới Ngô thù, 8 chỉ sanh khương đồ 2 chén nước, 2 chén rượu sắc còn 1 chén rưỡi chia làm 2 lần uông nóng.

Bạch đầu ông thang:

Pulsatilla

Bạch-đầu-ông

1ch

Coptis chinensis

Hoàng-liên

1,5ch

Nút chai

Hoàng-bá

1,5ch

Tần Pi

Tần-bì

1,5ch

Đồ 2 chén nước sắc còn 8 phần uống nóng. Giải rõ ở trong mục Thời-phương diệu dụng, phụ thêm vào môn Thương-hàn

Ôn-dịch phương:

Nhân sâm bại-độc tán (Phương thuốc này chua ở trong mục Lỵ-tật)

Phòng-phong thông thánh tán (Phương này chua ở trong mục Trúng-phong.)

Hoắc hương chính-khí tán :

(Trị những chứng ngoài bị khí tứ thời bất chính, trong bị đình-ầm-thực, đầu nhức nóng, lạnh, hoặc hoắc-loạn thổ tả, hoặc làm sốt nóng.)

Hoắc Tương

Hoắc-hương

3 lạng

cây bạch chỉ dahurica

Bạch-chỉ

3 lạng

bụng phệ

Đại-phúc bì

3 lạng

tía tô

Tử-tô

3 lạng

Poria

Phục-linh

3 lạng

vỏ quýt

Trần-bì

2 lạng

Atractylodes

Bạch truật

2 lạng

Magnolia officinalis

Hậu phác

2 lạng

Pinellia ternata

Bán hạ khúc

2 lạng

Kỷ Canh

Cát-cánh

2 lạng

cam thảo

Cam-thảo

1 lạng

Cùng tán nhỏ mỗi lần uống 5 chỉ với nước gừng sống và Đại tảo sắc.

Thần thánh tịch-ôn đan :

Lưu truyền ở thế-gian đã lâu, cứ ngày mồng một tháng giêng đốt một nén có thể giữ bình an bốn mùa.

Khương Hỏa

Khương-hoạt;

Cyperus tròn

Hương-phụ

Sanna

Tam-nại

Sống một mình

Độc-hoạt

đại hoàng

Đại-hoàng

mũi tên đỏ

Xích-tiên

Atractylodes

Trương-truật

cây bạch chỉ dahurica

Bạch-chỉ

cam tùng

Cam-tùng

thạch thật

Hung-hoàng

Các vị cân lạng bằng nhau, duy có vị Thương-truật nhiều gấp đôi cùng tán nhỏ, lấy hồ hoàn bằng hòn đạn lớn, lấy Hoàng-đan làm áo ngoài, đem phơi khô, cứ sáng sớm ngày một tháng giêng đốt một viên đề tịch-ôn.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading