Thời phục là nói huyết xuân hạ mắc bệnh đến năm sau xuân hạ lại phát ra, hay thu đông mắc bệnh đến năm sau thu đông lại phát ra, cứ đến mùa ấy thì lại có bệnh, cho nên gọi là bệnh thời phục. Trong lục phủ ngũ tạng của người ta cùng với khí vận của trời, hô hấp thở hít cùng thông với nhau vốn là một thể, cho nên âm và dương của trời hay làm ra tất bệnh của người ta, thực ra không phải trời làm bệnh cho người, mà do khí huyết của người trước đã thiên thịnh, rồi cảm phải khí thiên thịnh của thiên nhiên mà bệnh bèn dấy lên vậy. Huyết gia mắc bệnh của mùa xuân là do can kinh huyết hư hỏa vượng, khí của xuân mộc trong thông với can, can kinh cảm mộc khí mà phong động hỏa phát, cho nên đến mùa xuân bệnh cũ lại phát ra. Nếu đã phát ra thổ nục thì dùng Địa cốt bì tán gia Bồ hoàng, Hoàng cầm, Long đảm, Hạnh nhân, Sài hồ, Kinh giới, Đại hoàng sao giấm. Nếu thổ nục chưa phát ra nên uống Tiêu dao tán gia A giao, Mẫu lệ, Long cốt, Hương phụ, Ngũ vị. Hay dùng Tả quy ẩm gia A giao, Quy bản, Mẫu lệ, Ngũ vị tử để tư dưỡng cho can để khí âm của can thận đầy đủ thời hỏa nấp xuống mà không động lên vậy. Phàm mùa đông, mùa xuân mắc bệnh huyết đều nên dùng phép này để tư dưỡng can thận, để dương khí gói chặc mà không phát ra vậy. Nếu can kinh hỏa động thì trước có chứng nóng sốt, miệng đắng, hồn mộng không yên, dùng Sài hồ thanh cốt tán dũng trị được. Bệnh thất huyết mắc vào mùa hạ là tâm kinh hỏa vượng, năm sau đến tháng hạ lại phát, dùng Tả tâm thang gia Đan bì, Bồ hoàng, Sinh địa, Mộc thông, Cam thảo, Ngưu tất, Giáng chân hương, lúc chưa phát ra nếu thấy phiền nhiệt thì nên uống Sinh địa hoàng tán để ngăn cho ngừng lại, hoặc Thiên vương bổ tâm đan để điều dưỡng. Xét rằng tháng hạ nắng lớn phần nhiều bệnh phát ở kinh dương minh, vì dương minh chủ táo khí, thử nhiệt hợp nhau cho nên phần nhiều bệnh thuộc về dương minh, bệnh ở dương minh thì miệng khát thân nhiệt, phiền táo, tiện bế, ghét nghe tiếng người, mạch thấy hồng đại, lấy đó mà biện chứng bệnh tuộc kinh dương minh, huyết thổ ra rất nhiều. Nên dùng Tê giác địa hoàng thang gia Cát căn, Kim ngân hoa, Tri mẫu, Bồ hoàng, Địa hoàng, Chỉ xác. Nếu huyết chưa động chỉ mới thấy phát nhiệt, miệng khát, dùng Ngọc nữ tiễn gia Thuyền thoái, Trần bì, Nhân trần, Chỉ xác. Hoặc trước uống Cam lộ ẩm để dưỡng vị âm cho khỏi động táo khí. Mùa thu là kim bệnh phế khí làm chủ, thất huyết gia đến mùa thu bì mao thu liễm chưa kín đáo được, thường thường bên ngoài hợp với phong khí, bên trong úng nhiệt tà phát ho động huyết rất là dễ dàng. Bệnh gia, Y gia đều nên khéo léo mà điều lý thì mới có thể bổ trời để tái tạo lại được. Mùa thu mắc bệnh thì gốc bệnh ở phế, đến năm sau gặp mùa thu bản tàng này không nhuận, lại phát ra héo ráo mà ho ra máu. Dùng Thanh táo cứu phế thang gia Sinh địa, Bồ hoàng hay Nhân sâm thanh phế thang gia Tử uyển, Đương quy, Bồ hoàng. Hoặc Thái bình hoàn vừa tư bổ phế âm kiêm thanh phong đàm là phương thuốc hay để trị phổi. Nếu phế khí uất không rải rưới ra, vệ dương không đạt ra ngoài, tân dịch không xuống, bì mao gai gai ớn lạnh mà sinh ho. Dên dùng Tiểu sài hồ thang gia Kinh giới, Phòng phong, Hạnh nhân, Cát cánh, Bồ hoàng, Tổ mộc, Hoa phấn, Mạch môn đông, Tang bì, Cốt bì, Tỳ bà diệp. Phong hàn chốt trong phổi, ho dai dẳng không khỏi. Dùng Thiên kim mạch môn đông thang, Ma hoàng phải giã tơi ra và sao mật để trị Trần hàn (hàn đã ở lâu trong phổi), hoặc uống nhiều Thái bình hoàn gia nhiều Bạc hà cũng là phép hòa tán. Mùa đông thuộc thủy, dùng bài Thận khí hoàn làm chủ, mùa này âm khí bền chặt thì dương khí tiềm tàng, hỏa long lôi không dấy động, nếu âm khí không đủ thì dương khí không tàng, phương chi lúc này dương khí đều vào trong, khi trong mình người ta mà âm hư thì có nhiều nhiệt ở trong lại thêm dương khí vào trong, hai nhiệt hợp nhau làm mát sự nóng lạnh của mùa đông, không khác gì đông hành hạ lệnh. Cho nên hỏa bách mà động huyết lại phục phát vậy, phép trị nên tư thận âm tiết nội nhiệt ra để cho êm ngưng dương bí để thành ra tiết mùa đông thì bệnh mới khỏi được. Nếu đã động huyết rồi dùng Ngọc nữ tiễn gia Bồ hoàng, Đan bì, Tô mộc, tiếp theo dùng Đại bổ âm hoàn hay dùng lục vị hoàn để thu công.
Nhân lúc chưa phát bệnh ra, trước dùng Mạch vị bồ hoàng thang để tư bổ cho thận, hỏa mà không tàng như mùa đông không có tuyết, tháng chạp sấm nổ, muốn tiềm nạp dương khí đều nên gia Bối mẫu, Long cốt. Ở mục Mạch xung nói rất rõ, nên tham khán. Phàm vật có gốc rễ thì gặp thời lại phát ra, bệnh thất huyết thì gốc ở đâu?. Ứ huyết tức là gốc rễ vậy, cho nên phàm chứng phục phát thì bên trong phần nhiều có ứ huyết, cùng là gặp khí tiết, gặp trời mưa râm thì thấy chứng nhiệt phát động, đều là ứ huyết sinh ra bện. dùng huyết phủ trục ứ thang gia Càn tất hay Đào nô hoặc Đại hoàng giá trùng hoàn cho uống dần dần.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading