THIÊN HẠ

  1. Mình không nóng mà thần thái hôn mê, mệt rũ,
    là hiện tượng nguy cơ, chớ mừng rằng bệnh đã mát
    mình và say sưa ham ngủ.
    Da như hơ mà mồ hôi trán ướt, mạch vi là tình
    hình dương thoát, đừng lầm tưởng chứng này là hư
    nhiệt mà vội vã tư âm.
    Những người mắc bệnh nặng, bệnh đã lâu ngày, trước
    và sau thời gian bị bệnh vẫn sốt cao, mà bỗng nhiên thấy
    mình mát hẳn và ngủ say sưa li bì, gọi mãi mới tỉnh, khi tỉnh
    dậy thì tinh thần hôn mê, ngại nói, mệt rũ rượi. Thầy thuốc
    kém không từng trải thấy vậy thì vui mừng cho rằng nhiệt
    đã hết, mình đã mát, nguyên dương hồi phục cho nên ham
    ngủ, bệnh nguy hiểm đã săp khỏi. Điểm này cần phải hiểu
    rõ; Nhiệt tà nếu thực đã rút thì tinh thần phải nhẹ nhàng
    tỉnh táo, làm gì lại có thể mờ mịt mệt mỏi như vậy. Nguyên
    dương phục hồi thì ngủ có thành giấc, có đâu lại ngủ li bì gọi
    cũng không tỉnh. Hiện tượng này bởi vì nhiệt làm thương tổn
    chân âm, âm đã tổn thương thì không thể giữ được dương.
    Dương không có chỗ tựa mà sắp sửa thoát, cho nên thể hiện
    như vậy. Nếu không rõ điều đó thì có thể thấy là nhiệt rồi
    cho uống thuốc hàn lương để phạt hỏa, hoặc cho quá nhiều
    âm dược thì dương sẽ bị tiêu diệt, cho nên thấy biểu hiện ra
    cái tình thế hôn mê vong thoát. Tôi đã từng gặp chứng đó
    vài lần, do người thầy thuốc trước sử dụng Hoàng liên quá
    bừa bãi nên tôi phải sử dụng Sâm Phụ để hồi dương, cho
    nên uống từng mấy thang lớn, mới dần dần phục hồi được
    nguyên dương, chân khí chân thần ổn định, nói năng lanh lợi
    và không mỏi mệt ngủ li bì nữa.
    Làm nhiệm vụ bảo vệ tính mạng con người phải rất
    thận trọng, đề phòng từng dấu hiệu nhỏ, thấy trước bệnh cơ
    khi chưa bộc lộ, đón biết trước khi bệnh chưa hình thành, thì
    sẽ không xảy ra sự đáng tiếc và khỏi thẹn với sự nghiệp của
    bản thân.
    Những chứng trạng thấy ngoài da nóng như rang, mặt
    đỏ như bôi son, hoặc muốn quạt luôn tay, khát nhiều, nói
    mê nhảm nhí, mồ hôi trán đọng giọt hoặc suyễn thở, nấc,
    nhưng thấy mạch trầm vi như sắp tuyệt hoặc tế nhược mà
    sác. Đó là âm vong ở dưới, dương thoát ở trên, cho nên loại
    hỏa vô căn chuyển hết thảy ra ngoài cơ biểu, đừng nên thấy
    dấu hiệu nhiệt mà cho lẫn vào một chút âm dược là không
    có lợi. Vì đây chỉ là ngọn đuốc đứng trước gió, lăm le luốn
    tắt. Phải lấy Sâm Phụ để làm tấm chắn còn chưa đủ để giữ
    gìn. Có lẽ đâu lại đem đổ nước vào để hòng cứu lửa được
    chăng!
  2. Thấy tình thế hai đường hư thoát, dương thoát
    thì bổ dương để tiếp âm, âm vong thì cứu âm để giữ
    dương, xếp đặt khéo âm dương khỏi lệch.
    Tùy bệnh cơ các chứng lộ hình, hư nhẹ thì ích khí
    và dưỡng huyết, yếu nặng thì tráng thủy mà ích hỏa,
    lo toan cho căn bản làm đầu.
    Những chứng bệnh biểu hiện ra âm dương đều vong
    thoát nên phải dùng thuốc để tiếp bổ gấp. Dương hư nhiều
    thì dùng dương dược để bổ dương, rồi phải tìm loại thuốc âm
    ở trong dương để tiếp cho âm, hoặc là uống xen kẽ những
    phương dưỡng âm. Âm hư nhiều thì dùng âm dược để bổ âm
    và nên lựa chọn loại thuốc dương ở trong âm để tiếp cho
    dương, hoặc là uống xen kẽ với thuốc bổ vị.
    Tóm lại, dương chủ sinh, âm chủ sát. Trong khi sắp xếp
    cho uống thuốc xen kẽ phải nên làm cho khí phận tăng sức
    lên 10 phần rồi mới bổ tiếp cho phần âm độ 6 – 7 phần. Chớ
    nên nóng vội, mà phải nhận xét kỹ càng. Tiếp tục điều bổ
    cho đều đặn, cốt làm cho âm dương thăng bằng và gắn bó
    mới thôi.
    Phàm những chứng thực hư biểu hiện ra rất nhiều
    chứng trạng, đừng nên gặp đâu chữa đấy và không cần chú
    ý vào những chứng vụn vặt, chỉ cần nhằm vào căn bản của
    bệnh, gốc rễ được vun xới cành lá sẽ xanh tươi, chứng căn
    bản đã vững vàng thì các chứng vụn vặt sẽ hết. Sách nói:
    “Điều trị vào một gốc bệnh chính thì các bệnh đều triệt tiêu,
    điều trị vào những chứng biểu hiện lẻ tẻ thì sẽ bị rối loạn,
    mất dần mối bệnh”.
    Cho nên chứng hư nhẹ, thì nhằm điều trị cho khí huyết
    hữu hình của hậu thiên, chứng hư yếu nặng thì nhằm điều
    trị vào thủy hỏa vô hình của tiên thiên. Sách nói: “Bệnh nhẹ
    là do sự thiên lệch của khí huyết, bệnh nặng thì phải tìm vào
    sự tổn thất của thủy hỏa”. Điều trị bệnh nhẹ mà lại bỏ mặt
    khí huyết, chữa chứng nặng mà bỏ mặt thủy hỏa có khác gì
    “trèo lên cây để tìm cá” thì tìm sao có cá được!
  3. Đem thuốc khí huyết chữa bệnh thủy hỏa yếu,
    công không thành mà hậu quả lại dây dưa.
    Lấy phương thủy hỏa, chữa bệnh khí huyết hư,
    công dù chậm nhưng bổ ích càng sâu sắc.
    Bài Tứ quân là loại thuốc bổ khí, bài Tứ vật là loại thuốc
    bổ huyết. Thủy suy thì hỏa bốc, gây ra táo bón, khát nhiều
    uống nhiều, hiện tượng khô ráo đã thể hiện rõ. Hỏa hư thì
    thủy thịnh, gây ra chứng hàn trung tiết tả, tân dịch bị khô,
    cần có nước hỗ trợ, trên nhiệt dưới hàn, các chứng đều xuất
    hiện. Đó đều là hiện trạng của thủy hỏa vô hình, không thể
    lấy loại thuốc của khí huyết hữu hình có thể bù đắp nổi.
    Sách nói: “Chân âm là thận thủy mà không phải là huyết ở
    tâm can. Chân dương là mệnh hỏa mà không phải là khí của
    tỳ phế”. Bởi vậy tư nhuận cho thận thủy thì dùng Thục địa
    mà không dùng Khung, Quy, bồi bổ mệnh hỏa thì trọng
    dụng Nhục quế mà không dùng Kỳ, Truật. Huống hồ trong
    lúc thủy khô hỏa bốc, nếu lỡ nhầm dùng Linh Truật có tính
    thấm lợi khô ráo, Nhân sâm có thể động hỏa thì khác gì ôm
    củi vào để chữa lửa, công chưa thành mà họa lại đã nẩy
    sinh. Điều đó phải nên thận trọng.
    Bài Lục vị là thuốc của chân thủy, bài Bát vị là thuốc
    của chân hỏa. Các chứng bệnh của huyết đều bắt nguồn từ
    âm hư. Các chứng bệnh của khí đều khởi đầu do hỏa yếu.
    Chân thủy là cội gốc của huyết. Chân hỏa là tổ sản ra khí.
    Sách nói: “Cái hóa sinh ra khí huyết là thủy hỏa”. Cho nên
    muốn đem phương thuốc thủy hỏa chữa cho loại bệnh khí
    huyết nhỏ bé là ý muốn thực an toàn, tuy chưa có công hiệu
    trong sớm tối, nhưng cội rễ được bền vững thì cành lá sum
    sue, càng ngày càng xanh tốt và sẽ không có trạng thái úa
    vàng và không lo gì sự nghiêng đổ.
  4. Thầy thuốc Bá đạo, khi gặp bệnh đại nguy ly
    thoát, chỉ mải mê chữa bệnh mà bỏ quên tính mệnh
    hững hờ.
    Thầy thuốc Vương đạo, dù chữa bệnh ghẻ chốc
    tầm thường cũng chăm chú bồi căn, để giữ lấy tuổi
    trời trọn vẹn.
    Ôi! Y đạo vốn là một đạo lớn, mà trong đó có Vương
    đạo, Bá đạo khác nhau. Học theo Vương đạo thì mới gọi là Y
    đạo (đạo làm thuốc). Học theo Bá đạo thì chỉ gọi là Y thuật
    (nghề làm thuốc). “Đạo” và “thuật” cách nhau một trời một
    vực. Bởi vì cái cách sử dụng của y thuật chỉ biết thấy bệnh
    chữa bệnh. Tuy âm dương đã sắp tới cơ nguy thoát, thấy
    dương thoát hiện ra bạo nhiệt, vẫn còn toan sử dụng Cầm,
    Liên. Tân dịch đã cạn khô, đờm đã sôi trào, vẫn yên tâm
    trong việc sử dụng Nam tinh, Bán hạ. Và khi hỏa vô căn đã
    tuyệt sinh ra nấc mà vẫn coi Đinh hương, Thị đế là thuốc
    nhiệm mầu, thậm chí trong khi thảng thốt bốc bừa, bốc
    hàng nắm, lượng đã nhiều mà vẫn còn cho là ít. Khí sắp
    thoát bốc lên suyễn thở, mà Quất hồng, Tô tử được coi như
    thuốc quý vô song, có khi lấy làm đắc sách, dốc vào hàng
    lạng, vẫn còn cho là ít. Đó đều là những bọn vung kiếm giết
    người. Tình thế bệnh đã đến như vậy mà không biết chú
    trọng vào sinh mệnh, lựa chọn những loại thuốc âm dương
    tiếp tục để cứu vãn, vẫn còn dùng thuốc hành khí, tán khí,
    sao mà họ cả gan đến thế.
    Người thầy thuốc theo Vương đạo thì không sử lý như
    vậy. Tuy chữa loại bệnh ghẻ chốc tầm thường cũng phải nghĩ
    tới da nóng là trách cứ vào âm hư, sợ gió thì xét là khí kém,
    biếng ăn biết là vị hư, phát ngứa là khí hư, đau nhức là
    huyết hư. Tuy có nguyên nhân vì phong mà sinh bệnh,
    nhưng căn bản vẫn là do huyết hư mà sinh ra. Nếu có xen
    kẽ dùng một vài vị nhẹ bốc để giải biểu, thì cũng kèm vào
    thuốc khí huyết để giúp sức. Cương quyết không chỉ nhằm
    vào bệnh nhỏ nhặt ở ngoài da, mà để hại tới nguồn khí
    huyết trong cơ thể, tới khi thành công thì chẳng những thịt
    da bóng nhuận, mà tinh thần khí lực lại có phần mạnh mẽ
    hơn xưa. Sách nói: “Chữa một bệnh mà các bệnh thẩy tiêu
    trừ”. Chính là như vậy.
  5. Khí hư nhiều, huyết hư ít, thuốc cam ôn dùng
    được lâu dài, yên lòng chớ ngại, nên kèm theo với
    thuốc bổ huyết, vẫn thường mang vị dược để thu
    công.
    Âm quá hư, dương không kém, phương nhuận trệ
    uống nên hạn chế, trúng bệnh tạm ngừng, bởi dù là
    loại thuốc cứu âm, song khó tránh thương dương
    không lợi.
    Những chứng khí hư nhiều, huyết hư ít, thì các loại cam
    ôn như Sâm, Kỳ, Linh, Truật, Bào khương, Chích thảo, có thể
    tùy theo mức bệnh nông sâu để bồi bổ và sử dụng được lâu
    dài. Tuy có một hai phần huyết dược, nhưng trong đó có
    dương dược nhiều sẽ làm cho vị khí mạnh, ăn uống tiến bộ
    thì hàng ngày sẽ tiếp nhận được chất tinh hoa của đồ ăn
    chuyển về thận, để bồi đắp cho nguồn tinh huyết. Có ngại gì
    một ít loại âm dược làm trở ngại.
    Những chứng âm phận bị hư nhiều mà dương phận
    không hề bị hao tổn, tuy vậy những loại âm dược nê trệ như
    các vị Thục địa, Thược dược, Đương quy, Mạch môn, Ngưu
    tất cũng không nên dùng quá mức, bệnh giảm đỡ rồi thì nên
    tạm ngừng. Bởi vì cái khí âm hàn se sắt căn bản không thể
    sinh ra được vật. Tôi đã từng chữa chứng âm cực hư và nóng
    dữ ở trong tình thế rất khẩn trương không thể không sử
    dụng những phương âm dược rất lớn để bồi bổ gấp, hy vọng
    cứu vãn cho cái chân âm rất kiệt. Đến khi chân âm đã hơi
    thịnh vượng thì dần dần thấy mình mát và tinh thần hôn mê
    khí thoát, cái biểu hiện bại dương sắp sửa nảy sinh. Trong
    khi đó vội vàng hết sức cứu vãn bằng Sâm Phụ không biết
    phí tổn bao nhiêu, rồi sau chân dương mới khôi phục và
    mình ấm trở lại. Bởi vậy cho nên các bậc thánh y chỉ quý
    trọng dương mà coi nhẹ âm. Điều này thấy rõ được cái lòng
    hiếu sinh và ố sát của các bậc đó.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading