Thế nào là tinh thần Đông Phương – Siêu Thiền

NGUYÊN THỦY YẾU CHUNG.

Thế nào là tinh thần Đông Phương? Tinh thần Đông Phương tức là không phải tinh thần Đông Phương, nên gọi là tinh thần Đông Phương.

Vì sao mà tôi dám nói ra một câu nghịch lý như thế? – Vì tinh thần Đông Phương tức là tinh thần NGUYỄN THỦY YẾU CHUNG vậy.

Sao gọi là tinh thần Nguyên thuy yếu chung? Tức là tinh thần mút đầu mút đuôi; là tinh thần bao gồm, trọn vẹn, suốt khắp; là tỉnh thần không hai; là tinh thần không sanh không diệt; là tình thần không phân chia, không lệ thuộc, không qui định, không đông cứng, không thủy không chung, là tinh thần không bị cái đông tây kim cô nó qui định. Nói tóm lại là tinh thần hiện thực.

Làm sao mà biết chắc như thế? Thì kìa, ta hãy xem hình mặt trăng trên kia cũng đủ rỡ, cả đến câu Nguyên thủy yếu chung nữa. Phủ hiệu này biểu hiệu khắp cả đông phương, dù – Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Đế, Kỳ – Bà, dù Khồng Mạnh, Trang Lão, dù – Liệt Tử, cả đến Thích Ca cũng thế thôi.

Không những đông phương mới có như thế này, mà đây chính là sự thật trong tất cả sự vật khắp trong hoàn vũ, tất cả sự sống muôn loài cũng đều phải như thế cả, chở không riêng gì đông tây.

Vì sao mà dâm cả quyết như – thế? Thì đây, ta hãy ung dung, thư thả, thử đi sâu vào.

Tại sao mặt trăng trên kia lại là hình tròn? Kia, hãy xem vòm bao la thải hư kia, ta cũng đủ rõ. Hư vô mà thiệt là hư vô thì không còn là hư vô nữa, do đó mà thiệt là hư vô Hư vô có chỗ nào khuyết đâu, cho nên biết hư vô nó thiệt tròn. – Nhưng hư vô có hình tưởng gì đâu mà bảo nó tròn với không tròn ? Cho ■ nên biết hư vô cũng không phải tròn và không tròn; do đó mà hư vô mới thiệt tròn.

Vào những đêm tối trời, ta hãy phóng tầm mắt vượt ra ngoài vòng thải dương hệ mà xem, ta sẽ thấy hư võ không có cải tối. Đã không có sắng lại cũng không có tối, đỗ mới là không tối, là sàng thật. Phải chăng đó là ban sắc của hư vô !

Khi chưa có ta xen vào thì ai biết là hư vô ! – Thế là con số không chưa nghĩ; cho nên là vô cực là phải.

Khi ta nghĩ đến hư vô, tức là ta đã đặt bút viết con số không rồi vậy. Cho nên con số không cũng tức là khởi đầu của con số có; và con số khong về hình tròn mà gọi là thải cực la phải.

Đã không khuyết với tròn, lại cũng không phải sáng với tối, thế là thật tròn thật sảng. Thật tròn thật sảng nghĩa là tròn thật, sảng thật. Đây là một động cơ nhiệm mầu đe sanh sanh, hỏa hỏa, biến hóa không cũng vậy. Cho nên biết được hư vô là nền tảng của vạn hữu.

Tiên Tồ của Dịch giác ngộ được le này, vẽ ra hình mặt trăng trên kia. Bao nhiêu thành hiền giác ngộ được ly này mà nói lên bốn chữ Nguyễn thủy yêu chung. Nhà Phật chứng thực ly này, mà có ra ba tạng kinh giáo. Các thiền sư chứng được lý này mà làm thinh. Huyền Giác chứng thực dược lý nầy mà thốt ra câu nghịch ly: « Một khối tròn sảng, không có trong ngoài. Một khối tròn sáng, sắc không phải sác ». Người ta mê muội ly này, rồi tạo ra cải gọi là khoa học vật chất đề tự húc đầu vào hệ thống trật tự thiên nhiên, nên hoàn cầu sup đo.

Ai côn mê muội lý này là người đó chưa trưởng thành. Ai chưa chúng thực được nghĩa này là cuộc đời người đó chưa yên vui hẳn.

Ta hãy tiến sâu vào. Vì sao trong võng mặt trăng lại chia làm đổi bằng một lần chữ S lơi? Thế rồi bên đen lại có điềm trắng, bên trắng lại có điểm đen? Trong những lúc tối trời, ta phóng tầm mắt ra tận cõi xa xâm vào những đoàn tỉnh vẫn li tỉ thấp thoáng, ta sẽ thấy cái tròn sảng. không có trong ngoài, sắc không phải sắc ấy, bên trong tuy vô số là cải Có, nhưng cải Có ấy sảnh với cải Không, cải Có có được là bao !

Huyền Giác thấy được chỗ này mà thốt ra câu: « Ba ngân đại thiên thế giới chẳng qua là những bọt ở trong biển cả; tất cả thánh hiền nào khắc chi cải thoảng >».

« Đại thiền sa giới hải trung âu, Nhứt thiết thành hiền như diễn phát »..

Và ta trở lại nhìn vào thái dương hệ này. trên quả đất chúng ta ở đây, có ngày có đềm, có sảng, có tối; thể là chia đôi. Nhưng cuối cùng của cải sảng là cải tối, cuối cùng của cải tối là cải sáng. Rồi cứ như thế mà nối đuôi mãi không cùng. Và biết đâu vô số thái dương hệ khác lại không như thế. Thế nên bên trang có điểm đen, bên đen có điểm trang là phải.

Lão Tử nói : « Sống là bắt đầu của cải chết, chết là bắt đầu của cải sống. Càng sau càng trước, căng trước càng sau, Càng lên cao càng xuống thấp, căng xuống thấp căng lên cao. Ai biết đâu cho cùng » ! Tô Dịch nói:

« Thải cực sanh lưỡng nghi, lưỡng

nghi sanh tử tượng ». Cho nên hai nghi bốn tượng vẫn là những hiện tượng trong một cải vòng tròn sắng, sắc không phải sắc, không có trong ngoài vậy. Thế thì nửa đen ôm nữa trắng bằng một lần chữ S lơi trên kia, chỉ là trước mặt và sau lưng của một sự vật mà thôi. Thế thì tất cả những cái nào là vinh là nhục; là cao là thấp; là khôn là dại; là sang là hên; là cỏ là không; là nông là lạnh; là thật là giả; là nữ là nam; là tâm là vật; là thân là cảnh; cho đến sảng tối, ngày đêm, sống chết v.v… hết thảy đều chẳng qua là hai hiện tượng lưng và bụng mà thôi.

Đã là trong ngày có đêm, trong đêm có ngày, trong tối có sảng, trong sáng có tối; thế tất trong nam có nữ, trong nữ có nam; trong anh có tôi, trong tôi có anh, mà anh với tôi cũng là hiện tượng. Không những thế thôi, cho đến trong một có tất cả, trong tất cả có một; một là tất cả, tất cả là một nữa. Thật là vô cũng vũ trụ vửa đủ trên đầu sợi lông. Muôn thuở xưa sau đầy đủ trong cải chớp mắt.

« Vô biên sắt hải cụ tại hào đoạn, Vạn cỡ lại kim hiện tiền thiệp mục».

Quả thật, nếu không phải một thứ tròn, sảng, không có trong ngoài; tròn sáng, sắc không phải sắc thì ai làm cho nồi chứ!

Do đâu mà biết ? – Một đêm qua, mua thu đẫm ướt cành cây sáng ra tổ rạng bình minh. Trên ngọn cây dương, mỗi lá còn nặng chĩu một hòn ngọc thủy tinh trong suốt, ta cao hứng rảo bước ngừng nhìn; tế nhận cho kỳ, ta sẽ thấy mỗi hạt sương là

một hạt kim cương mà trong ấy đủ

cả một bầu vũ trụ bao la, và cũng

không có hạt sương nào vắng bóng mình hết. Rồi mỗi hạt sương, lại có tất cả hạt sương, tất cả vô lượng bao la, và lại cũng có tất cả thẳng ta trong mỗi cải võ lượng bao la kia nữa.

Ồ! Tê ra ta dang tay bốc một bốc hư không, trong đó đã có vô lượng cái gì gì mà ta không biết!.

Cải nhà lầu ông Di Lặc kiến trúc theo kiểu lục giác. Mỗi cạnh vách đều là kiếng trắng thủy. Chính giữa có trụ sáu cạnh cũng bằng kiếng trắng thủy. Trần nhà và nền gạch cũng vậy. Rồi trụ chính giữa, mỗi mặt có một bàn thở có một ông Di Lặc. Mỗi cạnh vách bên ngoài nhìn vào cũng thế. Một hôm chủ Thiện Tài đến viếng, Di Lặc mở cửa mởi vào. Vửa vào xong, Di Lặc đóng ập cửa lại. Tức thì quang cảnh trở nên bị hiềm lạ thưởng, thật là một bầu bao la vô tận. Thế rồi, Thiện Tài đến trước bàn thở, vừa chắp tay làm lễ tượng Di Lặc, lại cũng vừa nhận ra có vô số ông Di Lặc, mỗi Di Lặc đều có Thiện Tài lễ lạy, và mỗi Thiện Tài cũng đều có Thiện Tài lễ lạy. Trůng trùng, điệp điệp, không thể hợp cũng không thề phân, làm cho Thiện Tài một phen rối rắm đề mà mở mắt. Thế thì câu chuyện nhà lầu của ông Di Lặc quả thật là một thứ ngôn ngữ đề cắt nghĩa cải mặt trăng, vô cực, thải cực, lưỡng nghi và tử tượng v.v… và cũng là đề chủ giải cho câu Nguyên thủy yếu chung vậy. Thật là :

« Có thì có tự may may, Không thì cả thế gian này cũng không. Thử xem bỏng nguyệt dòng sông. Ai hay không có, có không là gì.»

Không Tử giác ngộ được lý này

mà lập ra đạo Đại học. Mạnh Tử giác

ngộ lý nầy mà nói lên cải học cầu

phóng tâm. Lão Tử giác ngộ lý này mà nói lên cải không mình, không công, không danh. Trang Tử giác ngộ lý này mà thốt ra câu «làm chim bay chơi, lâm cả lội chơi ». Liệt Từ giác ngộ lý này mà có Xung Hư chân kinh. Tất că sum la vạn tượng đều bằng lý này mà tồn tại. Vậy thì trên loài người của chúng ta, bắt cử là đồng hay tây, kim hay cô, tách rời khỏi lý này mà có tồn tại được sao? Cho nên biết: Nhổ – không vật nào có thể chen vào, lớn không cổ cải gì ngoài nó. Thế nên biết nó là một nền tảng «sống » chung cho cả vạn loại, chở không riêng gì đồng hay tây. Ai bỏ quên nó tức là tự húc đầu vào trật tự thiên nhiên ấy, để rồi bị nó đã hắt. Cho nên tôi nói: Tinh thần Đông phương tức là không phải tỉnh thần Đông phương nên gọi là tinh thần Đông phương.

Nhưng rồi phải làm sao de ta chính là nó ? – Kinh Dịch nói : « Co – mau dây động, họa phúc liền sanh; chẳng động là to nhất » ?

  • Cơ mầu ở đâu ?
  • Ai động ?
  • Cái gì động ?
  • Và thế nào là không động ?

Đây là cả một then máy chứng nhập của cổ nhân, là chỗ bí hiểm của các thiền sư, mà cũng là cái ít ra chúng ta cũng phải một phen thảo mỗ hồi mới vào được…

Ước ao sao tinh thần này hien hiện trên tất cả nhân loại, và luôn luôn ảnh ra trên tạp chí Phương Đông. Đó là bản ý của bút giả vây.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading