THĂNG MA
“Thăng Ma tánh hàn, thanh vị giải độc, Thăng đề hạ hãm, khả trừ nha thống”
BIỆT DANH
Thâu Mị, Châu Ma, Trĩ Ma, Trĩ Khước, Ký Tế Côn, Hắc Xà Căn.
HÌNH LOẠI
Là một loại thảo mọc hoang trong rừng núi ẩm thấp,
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Tỳ Vị, kiêm vào Phổi, Đại Trường để thăng dương tán nhiệt.
TÁNH VỊ
Vị ngọt đắng, tánh bình, không độc.
CHỦ TRỊ
Là thuốc cần thiết để thăng dương, giải tán chất độc, có công năng thăng khí thanh tán trược tà, trị ban chẩn, ghẻ độc, thời khí nóng lạnh và phong tà ở kinh Dương Minh Vị. Còn trị được nướu răng sưng, lở miệng hôi. Là thuốc
KINH NGHIỆM
Thăng ma có 4 công dụng

  1. Dan vào kinh thủ túc Dương Minh
    2: Nâng đỡ khí dương mắc kẹt từ tận dưới thấp
  2. Trừ phong tà ở da lông tân chỗ tột bực cao.
  3. Trị nhức đầu ở Dương Minh.
    có nhiều nơi có. Rễ có màu tím đen, chất nhẹ, dùng rễ làm thuốc.
    thánh để trị máu cam do bệnh Thái Dương và bệnh ghẻ, bệnh kiết lỵ bắt rặn.
    3
    Trang 303
    ‘Tóm Ạì là thuốc phát tán Dương Minh phong tà, thăng khí thanh trong< Vịj dẫn thuốc ngọt ấm đi lên để,bổ khí vệ hao táĩi/làm thiệt biểu. Cho nên người nguyên khí không đủ dùng nó để thăng dương trong âm. Tất cả độc trong thân, tất cả ghẻ ngoài thân đều dùng nó để phát tán cho khỏi bị lấn vào trong.
    CẨM KỴ
    j Phàm bệnh thổ huyết, nục huyết, ho nhiều đàm, âm hư, hỏa động, khí nghịch, ói – mửa, kinh sợ hồi hộp điên cuồng đều kỵ. Nếu dùng lầm rất là tai hại.
    DUNG LƯỢNG
    Phổ thông mỗi lần dùng từ 8 phân đến 1,5 chỉ.
    PHỤ LỰC
    Sách nói Thăng Ma hoặc bảo tánh hòa .hoặc.bảo tánh bình, nhưng căn cứ yào áp dụng thì thấy là vị thuốc ngâm nước ra có chất nhớt, uống vào nghe mát và giải nhiệt. Cho nên biết được thuộc loại thuốc thanh lương.
    Đã có tên là Thăng Ma, cho nên nếu trường họp khí dương không hãm. Ba bộ tay mặt không hãm, tức là hữu thốn không chìm, hữu xích không nổi. Nếu là kiết lỵ không có chứng trệ ruột cùng mắc rặn thì không phải trường họp dùng nó. Neu dùng lẽ tất nhiên phải sanh biến cố.
    Ở miền Nam Việt Nam có một thứ cây cành lá đều giống cây núc náơ nhưng nhỏ, chỉ cao độ thước Tây trở xuống, mỗi đốt giống đầu gối con hạc, chừng như cũng có người gọi là củ trối da đen tím, dưới củ trối có những củ rễ thòng xuống có nhiều nhớt, củ trên vị chát, củ dưới hơi ngọt. Neu đem trồng xuống chừng hai tháng, đào lên lấy củ dưới hấp chín, sấy khô thì thấy không khác Thăng Ma. Người ta cũng dùng để trị kiết kỵ và nhiệt tà hãm. Căn cứ vào Y Học tạp chí xuất bản ở Vĩnh Hội thời Pháp thuộc có vẽ hình lá thì quả đây là Thăng Ma. Tuy nhiên cũng cây này ở
    ị thổ nghi Tây Ninh thi lại có thứ lá dây chớ không phải cây, củ dưới thịt vàng chứ ‘ không phải trắng, nhân tiện ghi vào đây để cùng nghiên cứu.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading