Thần Nông dùng hai chữ Bản Thảo đặt tên sách, nhưng nội dung còn xen thêm nhiều loại kimthạch, cho đến cầm thú côn trùng là tại sao?

Trong đó trưng dẫn thảo mộc nhiều nhất nên lấy đó làm chủ danh. Mặc dù thảo mộc tuy đủ năm
hành, nhưng được khí Giáp Ất nhiều hơn hết. Đối với tạng phủ trong thân người, dùng khí hóa, hoặc
chưa hoàn toàn hợp hết nên lại phải giúp thêm Kim Thạch, côn trùng và các thứ cầm thú huyết nhục,
càng cùng với huyết nhục thân người gần nhau, nên có nhiều chất bổ dưỡng, so với các thứ thảo mộc,
côn trùng, Kim Thạch càng kiến hiệu hơn. Thảo mộc là thực vật, côn trùng là động vật, sức xoay thông
của động vật càng mạnh hơn thực vật. Vì tánh của động vật vốn bò bay máy cựa, đầy đủ tính công phá,
so với thực vật công lực mạnh hơn nhiều. Biếc Giáp công phá khí tạng Gan, trừ trừng hà. Xuyên Sơn
Giáp tánh hay đục núi, từ trong đất chui ra nên có thể làm thuốc phá miệng vỡ mủ, cũng có thể công
phá tích khối. Thủy Điệt nhọn mà hay chui, lại hay hút máu nên có khả năng công huyết tích. Manh
Trùng là giống bay mà hút máu nên chủ về hành huyết khắp trên dưới thân, và động vật đều giống huyết
nhục, thường vào phần huyết, nên các vị kể trên đều chủ công huyết. Chỉ có Xuyên Sơn Giáp được tánh
Kim Thủy còn có thể kiêm công phần khí vậy.
Động vật và thực vật, tánh đều thiếu trấn tịnh. Chỉ có Kim Thạch tánh vốn trấn tịnh. Nên phàm muốn an
hồn phách, định tinh thần, ngăn lắp trấn giáng thì Kim Thạch là quan trọng. Kim Bạc có thể trấn tâm
thần. Tâm thần nổi động phải nhờ Phế Khí để thu ngừng. Nên Nội Kinh nói: Phổi là cơ quan truyền
đưa để phụ trợ cho Tâm quân vậy. Vàng vốn là khí Phế Kim dùng đề trấn tỉnh tâm thần. Cùng với
nghĩa truyền đưa, giúp đỡ cho Tâm quân vốn không khác. Chu Sa trấn bổ tâm thần thì lại trực tiếp quy
về Tim để trấn bổ. Long Cốt cũng nặng, có thể tiềm nộp khí dương, nên cũng có thể trấn tâm thần. Còn
bạc trắng có thể định kinh, trẻ con kinh phong, đàn bà động thai, thường dùng đến. Đó là dùng Phế
Kim để bình can Mộc, dùng chất nặng để trấn chế nổi động. Xích Thạch Chỉ, Vỏ Dư Lương là đất
trong đá, lại đủ tánh rít, nên dùng để trấn rít Trường Vị. Đồng là nước trong đá, màu đỏ, tượng huyết,
nên có thể vào phần huyết, tánh có thể ung đúc, ngưng cứng, nên có thể nối tiếp gân xương, là thuốc
chuyên dùng trong môn trật đả, tiếp cốt. Vị Tự Nhiên Đồng gặp lửa tự cháy, vào phần huyết ung đúc,
nối xương, quả là vật lạ! Những thứ như thế đều là thứ cỏ cây côn trùng không bằng. Đến như cầm thú,
máu thịt cùng người đồng là động vật, phần nhiều đều có thể bổ ích. Thịt heo tánh bình thì người ta
dùng làm món ăn thường nhưng công năng dầu nhuận chuyên giúp cho hết ráo. Thịt bò tánh ấm thì có
thể bổ Tỳ Vị. Con vịt được tánh Kim Thủy thì thịt có thể tư nhuận cho Phổi. Gà được tánh Mộc Hỏa,
thì thịt có thể ấm Gan. Thịt dê hăng nhưng ấm Gan. Gan dê vào phần Gan rất mạnh dễ tan khí kết. Gan
heo cũng thế, nhưng sánh với Gan dê tánh bình hòa hơn, vì heo là loại thú loại Thủy, dùng Thủy sanh
Mộc nên có thể trị bệnh đau mắt. Cật heo vào Thận, tủy xương sống vào tủy, đều là loại nào theo loại
nấy. Màng mỡ heo cũng như màng mỡ người, và trên nó là mỡ sa, lại thuộc về dầu nhuận đều thuộc
màng mỡ, dùng làm thuốc dẫn, trị bệnh trong màng mỡ, và trị bệnh trong ruột khô, bón uất (cách thực)
ăn không được. Phương Trư Cao Phát Tiển của Trọng Cảnh trị táo bón là ý nầy. Da gáy heo, Trọng
Cảnh dùng để trị chứng đau cổ họng cũng là dùng nghĩa dẫn quy về gáy, những con thú linh, lạ, con
hươu là đặc biệt. Khi ngủ mũi giáp hậu môn, nên có thể thông mạch Đốc, mạch Đốc là mạch Thận, là
mạch chủ một dương trong Khảm, hươu sanh miền bắc được khí một dương trong Khảm nên mạch Đốc
rất vượng; tủy xương sống và óc rất sung túc, nên sừng mọc vươn lên, mỗi năm mỗi thay. Khi mới sanh
gọi là nhung, tinh khí của nhung cực sung túc, là thuốc thánh bổ tủy, mạnh tinh, tráng dương, thêm
huyết. Chỉ vì tánh đi lên nên nếu huyết nghịch, hỏa nghịch thì không dùng được, chỉ có huyết hư, Hỏa
nhược, dương không động, khí không bốc lên mới hợp nghi. Lộc thai là nguyên khí hồn nhiên quy hạ
tiêu chớ không đi lên, là thuốc bổ Thận cầu con, bổ Bào Cung rất hay. Tánh rùa là phục nhưng tinh hoa
ở yếm, có công năng thông mạch Nhiệm. Nhiệm là âm trong Ly để xuống giao với Đốc, hợp thành
tượng ký tế, nên quy bản bổ âm, giúp Tim Thận, với lộc nhung quả là tương đối. Hổ cốt có sức mạnh
nên làm mạnh gân xương, cọp gầm, gió nổi, vì gió theo cọp nên hổ cốt là thuốc trị trúng phong, phong
nhức. Giống thú ăn được rất nhiều, đây chỉ nói thứ công hiệu đặc biệt. Phàm các loại Kim Thạch cầm
thú như thế có thể giúp chỗ không đến của thảo mộc, nên Bản Thảo kiêm dùng vậy.
Tham luận: Nội Kinh đặt năm loại lúa gạo lên hàng đầu, rồi kế đến năm loại trái, mới đến năm loại
rau, và cuối cùng là năm loại thịt. Và nếu ta có nghiên cứu sâu vào các môn thuốc trường sinh của Á
Đông đều rất ít dùng đến động vật. Và nếu ta thâm sâu vào trật tự thiên nhiên, rồi mới thấy trong vạn
loại chỉ có thực vật là sống lâu nhất.
Không biết cổ nhơn do vô tâm tình cờ, hay đã cùng suy cạn nghĩ mà dùng hai chữ Bản Thảo để đặt tên
chung cho tất cả các loại sách nói về dược vật. Quả thật là một điều đối với người nay, cũng như tinh
thần Tây phương không thể không lấy làm lạ!
Đành rằng mục đích của luận giả trong đoạn này chỉ để chứng minh lý tại sao đặt tên sách Dược Vật
Học là Bản Thảo. Nhưng đã trót dùng từng vị thuốc làm dẫn giải, thì không thể không cố gắng đến mức
càng chính xác càng hay. Nên theo đây có những điểm cần được điều chỉnh kỹ lại như:
Nói về vị Manh Trùng, luận giả bảo vì là giống bay, hút máu nên chủ hành huyết khắp trên dưới. Nói
như thế có vẽ bao hàm khái quát quá, ta hãy tế nhận kỹ! Manh Trùng vốn là loài mòng cắn trâu, tuy là
giống bay nhưng có màu xanh, và chỉ hút máu trực tiếp, chớ không cần dùng thứ nước miếng làm lỏng
máu. Màu xanh là màu Khuyết Âm, mà là giống bay, tức là vào thủ Khuyết Âm. Hút máu trực tiếp nên
có công năng phá huyết ứ ở Bọc Tim lâu năm. Quả là một vị thuốc kỳ diệu! Cho nên nếu bệnh ứ huyết
mà không ứng ở phần trên của mạch tả Thốn thì quyết định không nên dùng. Cho nên nói chủ hành huyết
trên dưới khắp châu thân là không phải. Kìa, ta không thấy sao! Tây Y hiểu vị Thủy Điệt (con đỉa) là
thuốc trị huyết ứ, rồi người ta nghĩ rằng huyết ứ chỗ nào cũng xài được, chớ không hay phải qui định
vào hiện tượng mạch tả Xích và hệ thống Túc Thiếu âm, nên mới lấy tinh chất chế ra Hérudec làm
thuốc chích chữa bệnh máu đông, áp dụng được mấy năm thấy không công hiệu mà cho vào dĩ vãng.
Điều này thầy thuốc không thể không biết!
Nói về vị Tự Nhiên Đồng, luận giả bảo quả là vị thuốc lạ. Thật vậy, có lần chúng tôi chữa một bệnh
gãy tay, phải dùng đến Tự Nhiên Đồng làm thuốc uống. Đêm đến, bệnh nhơn mơ thấy có nhiều người
đến nắn bóp chuyển đau, rồi từ từ bệnh khỏi. Chúng tôi đã gặp như thế nhiều lần, nên ghi vào đây để
cùng nghiên cứu.
Nói về gà vịt, vẫn biết rằng gà thuộc Mộc hỏa, vịt thuộc Kim Thủy. Nhưng gà ác khác hơn gà thường,
gà rừng khác hơn gà nhà. Vịt ta, vịt tàu, vịt lai lại khác hơn vịt xiêm (con ngan). Cho nên khi áp dụng
vào thực tế không thể không phân tích kỹ. Bản thân Bản Thảo Cương Mục Cầu Chơn của Huỳnh Cung
Tú có nói về thịt gà là thứ rất dễ động phong hỏa, nhưng phong hỏa dễ động mà cũng dễ tan, người
nam ăn thường dễ bị dương oải, nên hạp với người nữ hơn. Điều này quả thật rất đúng, ta không thể
chối cãi!
Nói về con heo và con dê. Người ta nuôi heo không hề không thiến, chỉ trừ để nái để nọc hay heo
rừng. Và nuôi dê không bao giờ thiến. Về Gan Cật của con vật đã bị thiến không thể giống Gan Cật của
con vật không bị thiến. Có lúc thầy thuốc cãi nhau, người bảo Cật heo bổ, người nói Cật heo chỉ thông
tiểu, mà không nói được tại sao. Quả là chưa thông lý sự! Bởi vì con vật thiến rồi thì Gan và Cật đều
giảm mất tác dụng về động, về dương thì làm sao dám bảo cật heo là bổ Thận? So với con dê đực
không thiến, hằng ngày có thể giao dục chín mười lần, làm sao giống được! Điều này không thể không
phân tích kỹ!

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading