QUYỂN HAI
BÀI THỨ 1
Y ĐẠO DUYÊN CÁCH
Trong y đạo có điều nhất định không đổi là Lục Kinh.
có điều tùy thời biến đổi là Lục Khí.
Kinh là thường vậy, như Nhật Nguyệt trên trời, giang hà dưới đất, xưa nay vẫn thường tồn tại.
Khí là lưu động, xưa nay có khác, Đông Tây không giống nhau. Phong Khí ở thời đại Kỳ Hoàng khác với thời đại Việt Nhân. Phong Khí thời đại Việt Nhân lại khác với thời đại Trọng Cảnh.
Vì thế, phải tùy thời thi thố cho thích ứng với nhu cầu tật bệnh của xã hội. Trong y đạo sở dĩ có điều nên duyên theo, có điều nên cải cách, đầu mối là ở đó.
BÀI THỨ 2
THỜI ĐẠI KỲ HOÀNG
Có thể làm đại biểu cho y gia thời thượng cổ là Tố Vấn Nhiệt Bệnh Luận; Luận này, trong Lục Kinh thì chủ trương Thiếu Âm Kinh, trong Lục Khí thì chủ trương Nhiệt Khí. Luận nói rằng: Thương bởi Hàn thì phát Nhiệt, Nhiệt tuy nhiều vẫn không chết, còn nếu lưỡng cảm phải Hàn ắt không khỏi chết; Ý bảo rằng: Thái Dương Bản Hàn chủ Biểu, mắc bệnh thì phát Nhiệt, Nhiệt tuy nhiều vẫn không chết. Nhiệt đây là hợp với Thiếu Âm Bản Nhiệt vậy. Chỉ duy Thái Dương Bản Hàn hợp với Thiếu Âm Tiêu Âm thì chết.
Cho nên Bản luận đối với nhân loại lúc bấy giờ, gấp gấp bảo tồn Nhiệt Khí nên làm ra Nhiệt Bệnh Luận.
18
BÀI THỨ 3
THỜI ĐẠI VIỆT NHÂN
Việt Nhân(Biển Thước)ra đời sau Kỳ Bá, Hoàng Đế vài ngàn năm, sở dĩ được tôn xưng Thần Y là do những sự thật rành rành: như lúc vào nước Quắc chẩn mạch và khi xem sắc của Tề Hầu.
Ngài làm sách Nan Kinh, mà Nạn thứ 58 nói rằng: Thương Hàn có 5 loại, có Trúng Phong, có Thương Hàn, có Thấp Ôn, có Nhiệt Bệnh, có Ôn Bệnh. Suy theo ý của Ngài thì Lục Kinh không cần bàn luận, còn về Lục Khí thì tự Ngài hun đúc có riêng biệt.Trước hết đề ra 2 khí Phong, Hàn; ở Thấp Khí thì hiệp nó với Ôn; ở sau Nhiệt Khí, lại chú trọng đến Ôn Khí. Tựa như phép xếp đặt này không ngoài chủ trương Thiếu Âm Nhiệt Khí, nhưng dần dần có xu hướng do Nhiệt mà đến Ôn, Ý tứ nói rằng Ôn là gọi Hàn Nhiệt lẫn lộn nhau, há chẳng phải lúc bấy giờ thọ bẩm cái phong khí mường tượng như có cả Vương Đạo, Bá Đạo xen tạp nhau, cũng chưa biết được !
BÀI THỨ 4
THỜI ĐẠI TRỌNG CẢNH
Trong Y đạo, người có công lớn với nhân loại, có thành tích rực rở trong sử sách, có thể sánh ngang hàng với Khổng Tử, Thích Ca, thì chỉ có Thánh Y Trương Trọng Cảnh. Ngài làm sách Thương Hàn Luận, bảo rằng soạn dùng Tố Vấn, Nan Kinh là tuân thủ bí chỉ “Truyền thống Lục Kinh”; quan trọng hơn cả là một phen chỉnh lý lớn lao về Lục Khí. Đọc kỹ Bản Luận tự thấy:

  • Tố Vấn chủ trương Thiếu Âm Nhiệt Khí làm ra Nhiệt Bệnh Luận.
  • Nan Kinh chủ trương Hàn Nhiệt xen lẫn nhau, chú trọng ở Ôn Bệnh.
  • Thương Hàn luận chủ trương Thái Dương Hàn Khí.
    Có thể đem so sánh mà thấy được chỗ bất đồng của các Ngài. Ôi ! Cổ Thánh có tấm lòng gì chăng ? Chỉ là tùy thời thôi !
    .
    19
    BÀI THỨ 5
    LỤC KINH TRUYỀN THỐNG
    Như thế thì Lục Kinh Truyền Thống là phương pháp bất dịch của Y gia, còn Lục Khí biến thiên là cái nghĩa tùy thời to lớn của Cổ Thánh.
    Chúng ta xem đấy cũng nên phản Tâm tự hỏi: Ngày nay là thời kỳ gì ? Từ đời Trọng Cảnh đến nay đã gần hai ngàn năm, các nhà trắc lượng khí hậu đã biết khắp trên thượng tầng không khí, tận dưới đáy bể thâm sâu.
    Phong Khí sinh vạn vật cũng hay hại vạn vật. Ngày nay khác với ngày xưa vạn lần Y gia phải nên biến thông, ôi ! mọi người đều biết như thế, các Ngài trong Y giới phải làm thế nào ?
    BÀI THỨ 6
    PHẢI ĐỌC THƯƠNG HÀN
    Đương lúc cải cách học thuật trong Y giới, nhìn lại bốn bên, nếu không lấy Thương Hàn Luận làm tiền đề, thì tuyệt nhiên không có cửa ngỏ có thể vào. Sách vở đời sau nói Âm Dương phù phiếm, không căn cứ, không đáng bàn. Các sách Nội Kinh, Nan Kinh đời Thượng Cổ nói về Âm Dương tất nên chọn dùng, nhưng mà suốt đời, đọc hết sách chưa dễ hiểu được, bởi Nội Nạn nói về Âm Dương không có hệ thống.
    Ngày nay chính là vận hội của chúng ta cải tiến Y học; phải cải cách như thế nào ? Phải đi sâu vào cái đạo chuyển biến của Âm Dương. Ôi ! Âm Dương là vật thần diệu không lường được. Chỉ có Thương Hàn Luận mới nói lên được, cũng chỉ có đọc kỹ Thương Hàn Luận mới cải cách được. Cấp tốc thỉnh quý Ngài nghiên cứu Thương Hàn.
    .
    20
    BÀI THỨ 7
    THÁI DƯƠNG TÔN CƯƠNG
    Mở đầu sách Thương Hàn, “nghĩa đệ nhất” của 5 chữ “Thái Dương chi vi bệnh”, đấy là “tôn cương” của Bản Luận.
  • Thái Dương là Sinh lý của Nhân loại, vì sao Thái Dương có bệnh ?
  • Thái là cực vậy. Dương cực sinh Âm, Âm cực sinh Hàn. Dương thương phải Hàn gọi là Thương Hàn.
  • Thái Dương trên mình người có đủ tính Âm Dương, cho nên trên bệnh Thương Hàn có đủ tính Hàn Nhiệt, vì thế Thương phải Hàn thì phát Nhiệt. Xét như vậy thì, không có người nào không thọ nhận Khí Thái Dương để sống, không có người nào là không có Kinh Thái Dương trên thân mình, bèn biết không có người nào là không mắc phải Thương Hàn của Thái Dương Bệnh.
    Do vậy, Thương Hàn Luận thành lập.
    BÀI THỨ 8
    TRÚNG PHONG THƯƠNG HÀN (1)
    Thái Dương Bệnh có 2 loại:
  • Trúng Phong là Dương tánh của Thái Dương trên mình người phát ra.
  • Thương Hàn là Âm tánh của Thái Dương trên mình người phát ra.
    Thương Hàn Trúng Phong gốc ở Âm Dương hổ căn không có trước sau, nhưng mà:
  • Dương tất động trước cho nên Trúng Phong trước.
  • Âm tất theo đó cho nên sau mới Thương Hàn.
    Nếu lý luận theo phương diện khác:
    21
  • Thái Dương Bệnh do Thương phải Khí Hàn sinh ra.
  • Không có Thương Hàn thì không có Trúng Phong.
  • Không có Trúng Phong thì Thái Dương không bệnh.
    Cho nên Thái Dương Bệnh tất Trúng Phong, tất Thương Hàn.
    Vì thế tên sách là Thương Hàn.
    BÀI THỨ 9
    PHONG HÀN (2)
    Phong là Dương loại mà thuộc Âm Kinh, như vậy Phong có đủ tính Âm Dương, cho nên trong Bản luận có Trúng Phong Hàn tính,Trúng phong Nhiệt tính,là chỗ phải giảng giải trước hết.
    Hàn là Âm loại mà thuộc Dương Kinh, cho nên trong Bản luận có chứng Thương Hàn Hàn Thấp,Phong Thấp;có chứng Thương Hàn Ôn Bệnh,Phong Ôn;là chỗ phải phân biện rõ ràng.
    Chúng ta đem lý do này nghiên cứu xong, tất nhiên bảo rằng: “Phong là sơ khí, Phong là đứng đầu trăm bệnh”. Lúc Trúng Phong:
  • Không thuộc Thái Dương Hàn Khí mà là Thương Hàn,
  • Tất thuộc Thiếu Âm Nhiệt Khí mà là Trúng Phong.
    Cho nên chẩn mạch nhận chứng không lìa khỏi hai Kinh này.
    .
    22
    BÀI THỨ 10
    PHONG HÀN (3)
    Chẳng những thế,
  • Khuyết Âm Kinh Phong Khí dẫn đạo tất cả bệnh, có đủ tính Âm Dương.
  • Thái Dương Kinh Hàn Khí có đủ tính Âm Dương, cho nên có Thái Dương Trúng Phong, có Thái Dương Thương Hàn.
  • Thiếu Âm Kinh là Thái Dương biến tướng, có tướng đó, tất có tính đó, cho nên Thiếu Âm cũng vậy.
    Ngoài ra như Thái Âm Thấp Khí chỉ có Âm tính; Dương Minh Táo Khí, Thiếu Dương Hỏa Khí chỉ có Dương tính, tất phải thọ Thái Dương Trúng Phong Thương Hàn truyền Kinh :
  • Truyền Thái Âm Kinh gọi là Hàn Thấp.
  • Truyền Thiếu Âm Kinh gọi là Phong Thấp.
  • Truyền Dương Minh, Thiếu Dương cho đến Thiếu Âm gọi là Ôn Bệnh, gọi là Phong Ôn.
    BÀI THỨ 11
    PHONG HÀN (4)
    Tuy thế vẫn chưa hết cái Lý của Truyền Kinh,
  • Thái Âm thọ phải Thái Dương sinh ra Hàn Thấp.
    thọ phải Thiếu Âm sinh ra Phong Thấp.
  • Dương Minh, Thiếu Dương thọ phải Thái Dương sinh ra Ôn Bệnh.
    truyền sang Thiếu Âm sinh ra Phong Ôn.
    23
    Bốn Bệnh này do Truyền Kinh mà đến. Cho nên nếu Thái Dương không bệnh do Hàn, thì Dương Minh Thiếu Dương không thành Ôn Bệnh; Thái Âm không thành Thấp Bệnh, cho đến không thành Phong Thấp Phong Ôn.
    Cũng như trên, nếu Thái Dương không bệnh do Hàn thì Khuyết Âm không thành Phong Bệnh, Thiếu Âm không thành Nhiệt Bệnh.
    Chúng ta xem xét kỹ cái máy biến chuyển của Âm Dương mà đi sâu vào phép tắc thì:
  • Thấy được Thái Dương là Đại Bản Doanh của thân người.
  • Biết được Hàn Khí là Thủ phạm [truyền biến] của tất cả bệnh.
    Lý luận Triết học này chưa thấy ở các sách khác, vừa có hệ thống lại vừa có phân bố, chỉ có Thánh Y Trương Trọng Cảnh mới nói được, Ngài lại thiết tha dặn bảo người sau: “Tầm dư sở tập” (tìm kiếm những điều tôi gom góp).
    BÀI THỨ 12
    LƯU ĐỘNG TRUYỀN KINH
    Thương Hàn là Truyền Kinh Bệnh, lý do truyền Kinh là theo sở thích của bệnh. Phép truyền Kinh lấy Thái Dương làm chủ động, bởi vì Thái Dương thống lĩnh tất cả các Kinh.
  • Thái Dương mắc bệnh là 1 ngày, định lệ vậy !
  • Sau đó, tùy bệnh mà nhận Kinh, không định lệ vậy !
    Có khi 1 ngày liền truyền các Âm Kinh, có khi 2-3 ngày vẫn ở tại Thái Dương Kinh. Bệnh tình không có định sở (chỗ nhất định) thì việc truyền Kinh đâu có định lệ ?
    Nhưng mà có điều nhất định bất dịch (không đổi) là: có thể án nhật số mà biết bệnh ở Kinh nào, vì mỗi Kinh trong Lục Kinh đều có bệnh trạng, có số ngày của Kinh đó.
    .
    24
    BÀI THỨ 13
    SỐ NGÀY TRUYỀN KINH (1)
  • Sao gọi là số ngày của Lục Kinh có nhất định ? Bệnh trạng của Lục Kinh có nhất định ?
  • Phàm bệnh thì trước hết ở Thái Dương Kinh là 1 ngày. Bệnh của nó đầu gáy đau, thắt lưng, xương sống cứng.
  • Dương Minh Kinh là 2 ngày, chủ Nhục, mạch của nó hiệp với Mũi, lạc với Mắt, cho nên bệnh thì mình nóng, mắt nhức, mũi khô, không nằm được.
  • Thiếu Dương Kinh là 3 ngày, mạch của nó đi theo Hiếp (sườn), lạc với Tai, cho nên bệnh thì Ngực sườn đau, tai điếc.
    *Ba Kinh Dương đều thọ bệnh, nhưng Kinh Lạc chưa dẫn vào Tạng, có thể cho ra mồ hôi mà khỏi.
  • 4 ngày, Thái Âm Kinh bủa khắp Vỵ, lạc với cổ họng, cho nên bệnh thì Bụng đầy, cổ họng khô.
  • 5 ngày, Thiếu Âm Kinh suốt qua Thận, lạc với Phế, hệ với gốc lưỡi, cho nên bệnh thì miệng ráo, lưỡi khô và khát nước.
  • 6 ngày, Khuyết Âm Kinh chạy quanh Âm Khí, lạc với Can, cho nên bệnh thì sinh phiền mãn và bìu dái thọt.
    *Ba Kinh Âm,Ba Kinh Dương đều thọ bệnh,Vinh Vệ không hành, năm Tạng chẳng thông thì chết.
    BÀI THỨ 14
    SỐ NGÀY TRUYỀN KINH (2)
  • 7 ngày, Thái Dương “tái Kinh”, bệnh suy, đầu bớt đau.
  • 8 ngày, qua Dương Minh, bệnh suy, mình bớt nóng.
    25
  • 9 ngày, qua Thiếu Dương, bệnh suy, tai bớt điếc hơi nghe được.
  • 10 ngày, qua Thái Âm, bệnh suy, bụng giảm như thường, nghĩ đến ăn uống.
  • 11 ngày, qua Thiếu Âm, bệnh suy, hết khát, lưỡi hết khô mà nhảy mũi.
  • 12 ngày, qua Khuyết Âm, bệnh suy, dái buông ra, thiếu phúc hơi thấp xuống, hết đầy hơi, bệnh ngày càng bớt dần.
    Ôi ! số ngày của Lục Kinh như vậy, bệnh trạng của Lục Kinh như vậy, đấy là chuẩn đích bất dịch. Nắm lấy thành phần này để nhận biết hiện tình của bệnh phát ở Kinh nào, tức biết được ngày nào, nhưng không ra khỏi Dương số 7, Âm số 6.
    Đó là bảo rằng nắm Nhất định truyền Kinh để biết Lưu động truyền Kinh, vạn không sai một.
    Đời sau các chú gia chỉ nắm một bên, bỏ sót một bên, sở dĩ thuyết Truyền Kinh giảng không ra.
    BÀI THỨ 15
    SỐ GIỜ TRUYỀN KINH
    Số giờ Truyền Kinh lấy số ngày Truyền Kinh để so sánh, đều lấy sự hành Kinh của Lục Kinh để định.
    *Thế nào là số giờ Truyền Kinh có nhất định ?
  • Thái Dương từ giờ Tỵ đến giờ Mùi.
  • Dương Minh từ giờ Thân đến giờ Tuất.
  • Thiếu Dương từ giờ Dần đến giờ Thìn.
  • Thái Âm từ giờ Hợi đến giờ Sửu.
  • Thiếu Âm từ giờ Tuất đến giờ Tý.
  • Khuyết Âm từ giờ Sửu đến giờ Mão.
    26
    *Thế nào là số giờ Truyền Kinh không nhất định ?
    Y theo số giờ Truyền Kinh ở trên làm chuẩn đích. Như giờ Ngọ Thái Dương Kinh bệnh, trái lại thấy Thái Âm bệnh là không y theo số giờ truyền kinh nhất định, phải theo phép trị Truyền Kinh lưu động. Ngoài ra phỏng theo đó.
    *Phàm bệnh tại Biểu do Bì Tấu thì tính theo số giờ, số ngày.
    Nếu bệnh tại Lý do Phủ Tạng thì tính theo số tháng, số năm (xem Tạp Bệnh Luận).
    BÀI THỨ 16
    ÂM DƯƠNG HÀNH KINH
    Dương ở Biểu, Âm ở Lý, không thể cải vậy.
    Thử hỏi Thương Hàn nhập Lý phải chăng là Dương Kinh nhập Lý ?
    Ngược lại Tạp Bệnh … phải chăng là Âm Kinh ra Biểu ?
    Quả như vậy thì lộn xộn không kỷ cương gì ? Vậy thì, sự thật như thế nào ?
    Rằng: Biểu Lý chỉ một Kinh thôi ! hễ nó ở Biểu gọi là Dương, nó ở Lý gọi là Âm, đó là tính “giao đại” của Âm Dương vậy. Cho nên :
  • Dương bệnh ở Biểu thì làm cho ra mồ hôi, thấy nó chuyển Dương sang Âm thì mới theo Âm Kinh mà trị.
  • Âm bệnh ở Lý phép trị nên Hạ,thấy nó chuyển Âm sang Dương thì mới theo Dương Kinh mà trị.
    Cái chỗ Khu cơ (máy móc) chuyển biến bệnh trạng đó là tại Tấu phận. Cho nên học giả đối với Tấu Lý bộ nơi thân người, không nên hồ đồ sơ sót.
    Sách Thương Hàn Luận, Thiên Trung, Chương thứ 6, Tiết thứ 2. Sách Tạp Bệnh Luận, Chương Tạng Phủ, Tiết thứ 14, có phát minh ý này.
    27
    BÀI THỨ 17
    TẤU LÝ (I)
    Tấu Lý bộ là điểm rất quan trọng trong lúc đọc sách Thương Hàn.
    *Thuyết minh cái lý Âm Dương sở dĩ hợp, sở dĩ phân là tại Tấu phần Bán Biểu, Bán Lý:
  • Bán Biểu trở ra gọi là Cơ Nhục bộ, gọi là Bì Phu bộ.
  • Bán Lý trở vào gọi là Cách Mô bộ, gọi là Đái Hạ bộ.
    *Mỗi bộ có chủ khí, có công năng của mỗi bộ:
  • Biết được Chủ Khí rồi sau mới biết được bệnh ở đâu ?
  • Biết được Công Năng rồi sau mới biết bệnh thuộc Kinh nào ?
  • Thái Dương chủ về Bì Phu với Thiếu Âm làm Biểu Lý.
  • Dương Minh chủ về Cơ Nhục với Thái Âm làm Biểu Lý.
  • Thiếu Dương chủ về Tấu Lý với Khuyết Âm làm Biểu Lý.
    *Âm Dương sở dĩ hợp, Âm Dương sở dĩ phân, đầu mối đều ẩn ở đấy cả.
    BÀI THỨ 18
    TẤU LÝ (II)
    Thương Hàn là sách Biện Mạch chứng, phép biện dựa vào đâu ?
    Lấy Hàn Nhiệt ở Dương Phần và Hàn Nhiệt ở Âm Phần làm tài liệu :
  • Thái Dương là Dương Hàn
    Dương Minh, Thiếu Dương hợp là Dương Nhiệt (?)
  • Thiếu Âm là Âm Nhiệt
    28
    Thái Âm, Khuyết Âm hợp là Âm Hàn (?)
    Nhưng mà toàn bộ sách không đề cập đến một chữ nào ? chỉ ở :
  • cuối thiên Khuyết Âm có nói :”Tri tiền hậu hà bộ bất lợi”(biết được trước sau bộ nào không lợi).
  • Tạp Bệnh luận có nói : Thử Tứ bộ bệnh (đó là 4 bộ bệnh) thảy đều là “ngầm bảo” cái ý này, muốn rõ hơn nên xem ở Tấu Lý bộ.
    Tấu Lý trong mình người là giới hạn vạch Âm Dương, phân Biểu Lý :
  • Tấu Bán Biểu trở ra là địa phương của Dương Hàn, Dương Nhiệt.
  • Tấu Bán Lý trở vào là địa phương của Âm Nhiệt, Âm Hàn.
  • có tụ tập nơi đó thì làm Đại Hàn Đại Nhiệt, một khi vượt quá nơi đó thì Hàn tại Bì Phu, Hàn tại Cốt tủy. Ngược lại Nhiệt bệnh cũng vậy.
    Cho nên Chương Thể lệ của Thái Dương lấy chứng mà thuyết minh (11)
  • Dương mạch Vi nên cho ra mồ hôi – Dương Vi là Dương Nhiệt Vi, thì Dương Hàn Thực nên phải cho ra mồ hôi.
  • Âm mạch Vi nên hạ (xổ) – Âm Vi là Âm Hàn Vi, thì Âm Nhiệt Thực nên phải dùng phép hạ.
    Cho nên, Thái Dương thiên trung, Chương thứ 6, Tiết thứ 5, lấy mạch mà thuyết minh (95).
    (?) Sau khi học tập, Người dịch nhận thấy điều này chưa nói hết ý :
  • 2 cặp Dương Minh Táo và Thái Âm Thấp nếu chỉ luận về Kinh thì đúng là Dương Nhiệt Âm Hàn còn nếu bàn thêm về Khí thì đã là Khí Giao có đủ tính Âm Dương Hàn Nhiệt.
  • 2 cặp Thiếu Dương Hỏa và Khuyết Âm Phong nếu chỉ luận đến 2 Phủ Tạng Đởm và Can thì đúng Đởm là Kinh Dương Nhiệt, Can là Kinh Âm Hàn, còn luận thêm về Tam Tiêu là Kinh Dương Hàn Khí Âm Nhiệt, Tâm Bào Lạc là Kinh Âm Nhiệt Khí Dương Hàn thì mới hết ý. Huống chi có nói Thiếu Dương là Khí Xung Hòa, Khuyết Âm là Kinh Trung Hiện thì đặc tính Trung Hòa của chúng đã rõ ràng.

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc