QUYỂN CHÍN
BÀI THỨ 1
HOẮC LOẠN NÓI VỀ KINH (1)
Thương Hàn Luận biện về Lục Kinh xong, lấy Chương Hoắc Loạn nói về Kinh, lấy Chương Âm Dương Dịch nói về Lạc để Kết cuối sách.
Rõ ràng là lấy Kinh Lạc làm phương tiện “hạ thủ công phu”đọc sách Thương Hàn :
- dùng Kinh Lạc để nhận biết Âm Dương.
- dùng Kinh Lạc để biện biệt Mạch Chứng.
- dùng Kinh Lạc để phân chia Bộ Vị.
- dùng Kinh Lạc để tạo lập Thang Phương.
Khắp nơi dùng Kinh Lạc để giải quyết, nói không kể xiết, cho nên cuối sách, lấy 2 chương này làm kết. - nôn mữa mà lợi gọi tên là Hoắc loạn là nói ở Lý Kinh mạch đi Tung (dọc) (380).
- Phát nhiệt, đầu đau, mình nhức, ghét lạnh, thổ lợi gọi tên là Hoắc loạn : là nói ở Biểu Kinh mạch đi Hoành (ngang), rồi vào Lý Kinh mạch đi Tung.
- thổ hạ dứt, lại trở lại phát nhiệt : là nói Kinh mạch đi trong mình người, tuần hoàn Biểu Lý, lưu chuyển không ngừng vậy (381).
.
124
BÀI THỨ 2
NÓI VỀ KINH (2)
Kinh mạch có Âm Dương; hành Kinh có vào ra, lên xuống, cùng nhau “giao đại” (giao tiếp, đổi thay) Tại sao nói như vậy ? - Thương Hàn : là Dương Kinh (bệnh) ở ngoài.
- mạch Vi Sáp : vào trong chuyển sang Âm Kinh.
- vốn (gốc) là Hoắc loạn : Âm Kinh (bệnh) ở trong.
- nay là Thương Hàn : ra ngoài chuyển sang Dương Kinh.
Đó là ở ngoài thì làm Dương, vào trong thì làm Âm, giao đại nhau vậy. - 4- 5 ngày truyền đến Âm Kinh, chuyển nhập vào Âm tất sinh lợi : là Thủ Âm Kinh ở trên chuyển xuốngTúc Âm Kinh ở dưới.
- vốn có chứng ụa, hạ lợi không trị được : cớ bởi do từ Âm nhập vào Âm.
- muốn đại tiện là vì Túc Kinh ở dưới.
- trái lại chỉ trung tiện mà vẫn không lợi : là Túc Kinh ở dưới chuyển lên Thủ Kinh ở trên.
- thuộc Dương Minh đại tiện tất rắn : cớ bởi do từ Túc nhập vào Thủ (382).
Đó là ở trên thì làm Thủ Kinh, ở dưới thì làm Túc Kinh, “giao đại” nhau vậy. - ở Lý thì lên xuống, giao đại nhau 6 ngày 1 vòng.
- ở Biểu thì vào ra, giao đại nhau 7 ngày 1 vòng.
- 13 ngày Kinh mạch vận hành trong ngoài, trên dưới “tận” (đủ hết) vậy.
.
125
BÀI THỨ 3
NÓI VỀ KINH (3)
Kinh vận hành có vào ra, lên xuống, “giao đại” nhau.
lại có vào ra, lên xuống, “thuận nghịch” nhau. - Hạ lợi là từ Thủ Âm đến Túc Âm.
- rồi đại tiện rắn : là từ Túc Âm đến Túc Dương.
- rắn thì ăn được : là từ Túc Dương đến Thủ Dương.
Đó là Âm Dương Kinh lên xuống đi thuận vậy - trái lại không ăn được : là do từ Dương vào Âm.
Đó là Âm Dương Kinh lên xuống đi nghịch vậy. - đến Kinh sau hơi ăn được : là Dương Kinh từ ngoài vào trong.
- lại quá một Kinh nữa ăn được : là Âm Kinh từ trong ra ngoài.
- qua đi một ngày nên lành :
Đó là Âm Dương Kinh vào ra đi thuận vậy. - Không lành là không thuộc Dương Minh (383).
Đó là Âm Dương Kinh vào ra đi nghịch vậy.
BÀI THỨ 4
NÓI VỀ KINH (4)
Kinh mạch vận hành tất có Bộ Vị, tất cả thống thuộc Thái Dương.
Sao gọi là Bộ vị Tấu Lý thống thuộc Thái Dương ?
126 - Ghét lạnh mạch Vi mà lại lợi : là ở Tấu, các Dương Kinh thống thuộc Thái Dương.
- lợi chỉ vong huyết: là ở Tấu, các Âm kInh thống thuộc Thái Dương.
- dùng Tứ Nghịch gia Nhân Sâm thang làm chủ (384)
Sao gọi là Bộ vị Biểu, Lý thống thuộc Thái Dương ? - Hoắc loạn : là nói Kinh ở Lý.
- đầu đau, phát nhiệt, mình nhức : là nói Kinh ở Biểu
- Nhiệt nhiều, muốn uống nước : là ở Biểu các Kinh thống thuộc Thái Dương, dùng Ngũ Linh tán làm chủ.
- Hàn nhiều, không uống nước : là ở Lý các Kinh thống thuộc Thái Dương, dùng Lý Trung hoàn làm chủ (385).
Sao gọi là Bộ vị Cơ Nhục thống thuộc Thái Dương ? - Thổ lợi dứt rồi là ở Cơ, Thái Dương Kinh hòa, các Âm Dương Kinh tự hòa.
- mà mình đau không ngớt : ở Cơ, Thái Dương Kinh chưa hòa, các Âm Dương Kinh chưa hòa.
- nên xem xét Thái Dương Hàn Khí đã hòa hay chưa hòa, để giải bên ngoài của nó là bảo ở Cơ vậy.
- dùng Quế Chi thang để “tiểu” hòa : là có thể hòa Dương Hàn Khí, chưa có thể hòa các Khí khác, cho nên gọi là “tiểu“ (386).
.
BÀI THỨ 5
NÓI VỀ KINH (5)
Kinh mạch vận hành có Âm Dương Hàn Nhiệt, tất cả đều thọ Bản Hàn truyền Kinh. - Thổ lợi : là Dương Hàn ở Lý thọ truyền.
- mồ hôi ra, phát nhiệt, ghét lạnh : là ở Cơ thọ truyền.
127 - tay chân co quắp : là ở Tấu thọ truyền.
- tay chân quyết lãnh : là ở Bì thọ truyền.
- đều dùng Tứ Nghịch thang làm chủ (387).
- Đã thổ lại lợi, thêm tiểu tiện lại lợi nữa : là Âm Hàn ở Lý thọ truyền.
- mà mồ hôi ra nhiều : là ở Cơ thọ truyền.
- hạ lợi thanh cốc (ỉa chảy nguyên cơm nước) là ở Bì thọ truyền.
- trong Hàn ngoài Nhiệt, mạch Vi muốn tuyệt : là ở Tấu thọ Hàn.
- đều dùng Tứ Nghịch thang làm chủ (388).
- Thổ hết, hạ dứt : ở Lý có Âm Hàn tất có Âm Nhiệt.
- mồ hôi ra mà quyết : ở Biểu có Âm Nhiệt tất có Âm Hàn.
- Tứ chi câu cấp không giải, mạch Vi muốn tuyệt : là ở Tấu Âm Nhiệt, Âm Hàn không lìa nhau.
- dùng Thông Mạch Tứ Nghịch gia Trư Đảm Trấp thang làm chủ (389).
- Thổ lợi phát hãn : là ở Lý Biểu Dương Nhiệt không lìa Dương Hàn.
- mạch bình (thường), hơi phiền : là ở Tấu Dương Nhiệt không lìa Dương Hàn.
- mới hư : là Dương Nhiệt; không thắng được Cốc Khí : là Dương Hàn; là ở Cơ Dương Nhiệt không lìa Dương Hàn (390).
Nhất thiết Âm Dương đều không lìa khỏi Thái Dương Hàn Khí.
Thương Hàn truyền Kinh là vì thế !
.
128
BÀI THỨ 6
ÂM DƯƠNG DỊCH – SAI HẬU – LAO PHỤC
(ÂM DƯƠNG DỊCH – BỚT RỒI – BỊ NHỌC PHÁT TRỞ LẠI)
NÓI VỀ LẠC (1)
Có Kinh tất có Lạc.
Thương Hàn là thuộc Thái Dương Biểu Lạc
Âm Dương Dịch là thuộc Thiếu Âm Lý Lạc
là nói Âm Dương Dịch chưa có thể ra ngoài Thương Hàn vậy, - mình mẩy nặng nề : là Lạc bệnh tất do từ Kinh.
- thiểu Khí (thở vắn) là Lạc bệnh tất do từ Khí.
là nói Lạc bệnh chưa có thể ra ngoài Kinh Khí. - thiếu phúc lý cấp: là do từ Bàng Quang Lạc chuyển vào Thận Lạc.
- hoặc dẫn đến co rút trong âm vật : là Thận Lạc bệnh đến Nhâm Lạc.
- Khí xung lên ngực : là Thận Lạc bệnh đến Xung Lạc.
- đầu nặng không muốn cử : là Thận Lạc bệnh đến phần trên của Mạch Đốc.
- ống chân đầu gối co rút : là Thận Lạc bệnh đến phần dưới của Mạch Đốc.
- Thiêu Côn tán làm chủ (391).
- tiểu tiện lợi thì giải : là Kinh thủy giải, Lạc Huyết cũng giải.
- đầu Âm hơi sưng : là Lạc do Kinh giải.
- Đàn bà, đàn ông dùng thay đổi cái đủng quần đốt uống : đó là Âm Dương Dịch vậy.
.
129
BÀI THỨ 7
NÓI VỀ LẠC (2)
Nhiệt cực thương tổn đến Lạc. Lạc bệnh không phải dễ trị.
Trị Lạc tất phải trị Kinh Khí của nó.
Bảo rằng “Trước trị tốt bệnh (bệnh chứng mới phát), sau trị cố tật (bệnh chứng đã thành tật) “ là bảo điều đó vậy.
Bệnh bớt rồi, vì mệt nhọc phát trở lại: lại nên trước trị Lạc, vì bớt rồi bệnh còn sót lại vậy. - Bệnh nặng bớt rồi, vì mệt nhọc phát trở lại: là nói Thiếu Âm Nhiệt Lạc thọ Hàn Thủy ở Tấu.
- Dùng Chỉ Thực Chi Tử Xị thang làm chủ :
Dùng Thanh Tương Thủy (nước gạo vo hay là nước cháo loãng) để sắc thuốc là dụng ý lấy Khí đạm nhạt của gạo để vào Vỵ, cũng như cách dùng Quế Chi thang có húp cháo loãng, Bạch Hổ thang có Ngạnh Mễ (gạo tẻ) vậy.
Còn trước nấu nước giảm phân nửa, là theo như Tiểu Sài Hồ thang sắc giảm phân nửa, rồi bỏ bã, lại sắc, lấy “thang sau” để thuốc vào Kinh, còn đây lấy “nước nấu trước” để thuốc vào Lạc, mỗi phép đều có ý nghĩa của nó. - Có Túc thực gia Đại Hoàng 5 – 6 miếng to bằng con cờ : là nói Kiêm trị Nhiệt Lạc với Hàn Thủy vậy (392).
Các loại Vỵ Ung, Trường Ung đều do đấy phát sinh vậy. - Thương Hàn bớt rồi, lại phát nhiệt: là nói Thái Dương Hàn Lạc thọ Nhiệt huyết ở Tấu.
- dùng Tiểu Sài Hồ thang làm chủ (393).
.
130
BÀI THỨ 8
NÓI VỀ LẠC (3)
Lại có khi:
+Từ eo lưng trở xuống có Thủy Khí : là Thiếu Âm Nhiệt Lạc thọ Hàn Thủy ở Đới. - dùng Mẫu Lệ Trạch Tả tán làm chủ (394).
Đó là nguyên do của các loại Cổ Trướng, Phúc Trướng.
+Ưa nhổ nước miếng, lâu ngày không khỏi là trên Vỵ có Hàn : là Thiếu Âm Nhiệt Lạc thọ Hàn Thủy tại Cách. - dùng thuốc viên để ôn, nên dùng Lý Trung hoàn (395).
+Gầy yếu,thiểu Khí(ít hơi),Khí nghịch muốn Thổ:là Thái Dương Hàn Lạc thọ Nhiệt huyết ở Cách. - dùng Trúc Diệp Thạch Cao thang làm chủ (396).
Các loại Ế Cách, Ung, Nuy đầu mối đều do đấy. - Thái Dương Hàn Lạc thọ Nhiệt huyết ở Đới là thế nào ?
- Người bệnh Mạch đã giải : Dương Hàn đã giải.
- Sớm chiều hơi phiền: Âm Nhiệt chưa giải.
- Bệnh mới hết, người ta ép ăn : Dương Hàn vẫn còn.
- Tỳ Vỵ Khí còn yếu không tiêu được cơm cho nên khiến hơi phiền : là Âm Nhiệt hãy còn.
- giảm lượng ăn thì lành : là Hàn Nhiệt không còn chỗ dựa núp (397).
.
131
BÀI THỨ 9
CHƯƠNG NÓI VỀ KỈNH, THẤP, YẾT
Kỉnh, Thấp, Yết 3 loại này là bệnh thuộc Tam Âm ở Lý, đáng lẽ nên luận riêng, nên riêng tại Tạp Bệnh, bởi Thương Hàn là chuyên tường giải về Biểu Bệnh vì cho là tương tợ Thương Hàn cho nên thấy ở đây.
Nói rằng 3 loại bệnh này không thể ra ngoài Thái Dương Thương Hàn mà sinh ra được.
Trọng Cảnh lấy chương này kết ở cuối sách Thương Hàn, tức là cũng dùng chương này mở đầu cho sách Tạp Bệnh. Bởi vì Biểu Lý không thể không phân ra, cho nên hai luận, mỗi luận đều có tôn chỉ riêng; Biểu Lý không thể không hợp lại cho nên lấy chương này “câu thông” đôi bên với nhau. Đó là thâm ý của tác giả vậy.
Trong bài tựa có nói “Làm sách Thương Hàn Tạp Bệnh Luận hợp thành 16 quyển” là nói nên hợp lại mà đọc vậy.
BÀI THỨ 10
KẾT LUẬN
Thương Hàn là sách Khoa học trong Y giới.
Ngày nay may mắn còn lại sách này, mới thấy “Đại Kinh, Đại Pháp” trị bệnh của người xưa.
Xem sách thấy Biện Mạch, Luận Chứng, chương tiết khởi dứt, từng câu, từng đoạn rõ ràng, mạch lạc thông suốt rất là nghiêm mật.
Tiền nhân gọi là 397 pháp, pháp tức là tiết vậy, mỗi tiết đều có phép chữa. Như từ trước đến nay chưa có ai phân tích Chương pháp.
Nay trộm đem cái học của Khoa học làm sáng tỏ thể lệ, nêu lên tôn chỉ các chương. Trong ý không ngờ rằng vài ngàn năm trước, Y gia Khoa học đã sớm phát minh như vậy.
132
6 chương ở Thái Dương thượng, 8 chương ở Thái Dương trung, 7 chương ở Thái Dương hạ, 10 chương ở Dương Minh, 1 chương ở Thiếu Dương, 1 chương ở Thái Âm, 6 chương ở Thiếu Âm, 6 chương ở Khuyết Âm, 1 chương ở Hoắc Loạn và 1 chương ở Âm Dương Dịch, cộng lại là 47 chương.
Mong mỏi được các bậc hải nội cao minh đính chính cho.
Bởi vì, Thương Hàn Luận không phân được chương, tiết thì văn pháp không rõ ràng, Mạch chứng hổn độn mong gì Thực dụng được ? Thì không thể cải tiến Y Đạo thành ra Khoa học được.
Nay viết Thương Hàn Giáo Khoa 150 bài, lược rõ “Đại Nghĩa”, để ngày kia dùng nó trợ giúp cho việc nghiên cứu sách Thương Hàn Luận vậy.
