PHỤ TỬ
“Phụ tử ma tê, đại nhiệt, đại độc,
Mạng hỏa tán thất, hồi dương hữu công”
BIỆT DANH
Bạch Ba Xuyên, Tân La Bạch Nhục.
HÌNH LOẠI
Đây là một thứ củ của loại độc thảo như các loại Môn, Khoai Sọ, có thứ mọc hoang trong rừng, có thứ người ta trồng. Nơi sản xuất nhiều là Tứ Xuyên, thường lấy củ vào mùa Đông, trồng vào mùa Xuân. Củ tựu từng khối nhỏ gọi là 0 Đầu, củ mới thuộc tầng thứ hai bám lên hông củ to gọi là Phụ Tử, bám theo Phụ Tử mà sanh có hình biến khác gọi là Thiên Hùng; củ nhỏ độc dữ, củ to độc ít. Nên người nay thường dùng Phụ Tử cũng gọi là Đại Phụ Tử.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Mạng Môn để bổ hỏa, trục khí khuyết lãnh.
Trang 235
TÁNH VỊ
Vị ngọt, ngứa, tánh thuần dương, rất nóng, rất độc, tánh chạy chớ không ở một chỗ. CHỦ TRỊ
Là vị thuốc quan trọng trong việc nâng đỡ khí nguyên dương, bổ hỏa, trị lạnh. Những trường hợp hàn thấp, nuy xúc, trường hạ tích tụ, mạng môn hỏa suy, Tỳ vị hư hàn dương khí bạo thoát, thiệt lạnh giả nóng, hàn thấp sanh đàm, đau nhức do lạnh và các loại ghẻ âm. Tánh nó chạy đi không giữ một chỗ, thông suốt 12 kinh, nên là thuốc đứng đầu trong việc bổ tiên thiên mạng môn chơn hỏa. Vì thế nên trường hợp âm cực giống như dương, dùng nó phải cho uống nguội. Muốn phát tán đi nhanh phải dùng sống, muốn bổ phải dùng chín.
KINH NGHIỆM
Công hiệu của Phụ Tử kể không xiết, dùng đúng chỗ công hiệu đúng chỗ, dùng lầm cũng nguy to, dùng để trị chứng vong dương thoát khí rất là đắc lực. Nó có đủ khả năng đàn áp trọng bệnh, thông mạch hồi dương.
Cách chế
Tốt nhất là lấy lên rửa sạch, thái khoanh dầy, phơi héo, tẩm dầu, rang với cát cho phồng lên là tốt nhất.
CẤM KỴ
Khắc với Bối Mau, Bán Hạ, Qua Lâu, Bạch Cập, Bạch Liễm. Nếu trúng độc thì giã bằng Huỳnh Liên, Tê Giác , Cam Thảo Tiết, hay nước đất sét cho uống.
Mạch ở hữu xích, tả thốn vô lực rất cần. Ngược lại là cấm kỵ.
Người ta chế Hắc Phụ Tử, ô Đầu bằng cách dùng đậu hũ hoặc dùng đậu đẹn lớn hột chưng chín, đem ra xắt mỏng phơi khô gọi là Thục Phụ Tử, Phục Ô Đầu vị lạt, sức kém, cứu cấp không được. Thứ sống chỉ gọt da, còn chất muối vị hơi mặn, nhưng có sức mạrih, có thể cứu cấp, dùng phải nên cẩn thận. Kinh Sớ nói: Tất cả chứng dương, chứng hỏa, chứng nhiệt, âm hư trong nóng, huyết dịch suy thiếu đều kỵ. Kỵ nước Đậu Xị, sợ đường Mạch Nha. Tất cả trường hợp âm hư đều kỵ.
DỤNG LƯỢNG
Phổ thông từ 1 chỉ đến 3 chỉ. Thuốc Đại Tễ có thể dùng từ 1 lượng đến 2 lượng.
Trang 236
PHỤ LỤC
Chỉ có giống ở Tứ Xuyên, huyện Chương Minh, vùng nước đỏ là tốt nhất. Người ta lấy lên tẩm với nước cơm nhồi bột mì, bọc kín, nướng chín, đem ra nướng lúc còn nóng xắt lát (Bào Phụ Tử).
Ô Đầu là củ cái, tánh nhẹ, đuổi gió. Còn Phụ Tử là củ con, tánh nóng lạnh, đuổi lạnh. Mầm nhọn của nó để mửa phong đàm, trị điên giản. Thiên Hùng là một giống khác, củ nhỏ dài, không có củ con, so với Phụ Tử nó lớn hơn, mầm non quay trở xuống nên có thể bổ mạng môn, hạ tiêu dương hư, nhưng tánh nó nóng ngứa, chạy nhanh, nên chủ trị về phong hàn thấp tê – Vì thế nó cũng xếp trong loại Phụ Tử.
Đứng trên cương vị Việt Nam, dò theo thuốc thị trường, ta có thể nghiệm xét như sau: Sách nói Phụ Tử vị ngọt là tại vốn củ có nhiều chất bột, nhưng thực sự thuộc loại khoai sọ, mà khoai sọ củ từng thứ hai thứ ba đều mềm, còn sớ thịt của Phụ Tử thì không bở như khoai sọ. Tác dụng quan trọng của Phụ Tử là chất bột, vị rất ngứa hơi ngọt, da có màu tim tím đen, cho nên có tác dụng vào thẳng mạng môn kích thích mạng môn hỏa để thành tác dụng trị phong hàn thấp và tăng cường nghị lực. Giả sử trong dòng họ khoai sọ, nếu chọn được thứ bẹ tím, da củ màu hơi đen, cách trồng tạo thành một thứ ngứa độc dữ thì ta sẽ có ô Đầu, Phụ Tử, Thiên Hùng đúng theo tác dụng. Còn về cách chế thì chúng tôi thiết nghĩ dùng củ sống, lột hết da, cắt khoanh hơi dầy, phơi cho héo, ướp dầu qua loa, để ráo, dùng muối cục thay thế cát mà rang cho phồng lên thật xốp, gạn muối dem phơi khô dùng rất tốt.
PHỤ TỬ
Written by
