Phép trị liệu về dược cứu
Trung y từ ngàn xưa vốn dùng châm cứu làm chủ, không luận bệnh bạo phát hay bệnh kinh niên, hưỡn
hay gấp, nội thương hay ngoại cảm hoặc tạp bệnh cũng đều có pháp trị rất là phong phú và công hiệu
rất rõ ràng. Đó là sự kết tinh tinh thần bảo toàn sức khỏe của dân tộc Trung Hoa và cũng là một thứ
văn hóa y học sâu sắc trên phương pháp lý học trị liệu của Đông phương. Không những dân tộc Á
Đông tán dương tột bực, tín ngưỡng bền chặt mà gần đây các trường đại học ở Pháp còn lập thêm lớp
chuyên khoa châm cứu truyền đi các nước Âu châu. Thật là không chân mà chạy khác nào măng mọc
đầu mùa mưa và luôn luôn phát hiện được những hiệu quả không thể nghĩ bàn. Từ nay về sau Trung y
trong lâm sàng thực nghiệm phải đi theo con đường khoa học của nó và trên trị liệu để bổ cứu cho cái
sở đoản của y học thế giới ngày nay.
Dùng phép cứu để tá trị bệnh Ung Thư rất tốt vì bệnh Ung Thư bắt nguồn từ cơ thể suy nhược và sự
kích thích âm thầm trường lưu. Phép cứu có công hiệu phấn chấn thần kinh tạo ra chất Lòng Trắng
Trứng, gia tăng sức chống cự để khôi phục sức sinh hoạt của tế bào, v.v… Tác giả áp dụng nhiều năm
thường thấy công hiệu rất tốt, thật là có thể giúp đỡ cho pháp trị liệu Nội Tiêu để thâu ngắn ngày giờ
chữa trị, nhờ trải qua sự cố gắng chỉnh đốn cải tiến của tác giả, thật là trở nên một pháp ngoại dụng lý
tưởng trị liệu cho bệnh Ung Thư vậy. Chủ yếu tác dụng phân thuật như sau đây:
1 – Điều chỉnh lại cơ năng thần kinh, khôi phục năng lượng tự chủ của thần kinh
2 – Làm cho tăng thêm số hạt máu trắng, cao nhất đến gấp đôi, thấp nhất có thể gia tăng đến 34% để
thêm sự tăng cường sức chống bệnh cho cơ thể
3 – Cải thiện tuần hoàn chỗ đau, tăng cường thạnh vượng tuần hoàn toàn thân, xúc tiến sự thay cũ đổi
mới
4 – Mượn sự đốt nóng của phép cứu gây thành tác dụng kích thích, làm cho tế bào teo nhỏ lại, phát
sanh phản ứng tốt đẹp, tăng cường sức sống, bồi bổ tác dụng sanh chất lòng trắng trứng, nên có công
hiệu giúp cho mụt Ung Thư nội tiêu.
Tác dụng vết cứu bị phỏng với đối phó
Phép cứu có hai cách là trực tiếp và gián tiếp. Chỗ tôi thâu nhận đây là phép gián tiếp, còn phép trực
tiếp nghĩa là mồi cứu tiếp xúc trên mặt da. Nếu nhẹ thì gây thành quầng đỏ, nặng thì phát sanh phỏng
bọt nước, thậm chí làm cho tổ chức tại chỗ bị hư chết, phá hoại chỗ tế bào càng to thì công hiệu càng
tốt. Nếu người bệnh có thể ráng chịu đau trong một thời gian ngắn, thì có thể áp dụng phép trị liệu bằng
cứu so với cách trị liệu bằng chất Lòng Trắng Trứng, kết quả công hiệu tương đương. Chỗ bị cứu làm
cho cơ thể con người được sự kích thích, chịu phỏng nóng chút ít sẽ được phát sanh tác dụng phân giải
chất Lòng Trắng Trứng trong cơ thể. Cơ thể thâu hút chất lòng trắng trứng do tổ chức này sanh ra, xúc
tiến sự thay đổi trung gian, đề cao cơ năng sinh lý, tăng cường sức sống tế bào. Chất Lòng Trắng mới
sanh được cung cấp toàn thân và gia tăng kích thích tố kháng nguyên tánh thêm sức chống độc vậy.
Nhân đây thấy được phép dược cứu trị liệu với đản bạch trị liệu (Phép trị dùng chất Lòng Trắng
Trứng) có công hiệu như nhau. Bác sĩ Lỗ Bùi Nhiên có nói:
“Dùng Ngải cứu làm cho nguyên hình chất của tế bào biến tánh, biến làm một thứ chất Lòng Trắng
Trứng, phát sưng lên càng mạnh tức là sức kích thích màng lưới da trong của tế bào càng to, để rõ sức
tác dụng nuốt ngoại độc càng lên, bất luận nguồn bệnh là vi trùng, hoặc do hạt máu trắng, hạt máu đỏ
chết đều có thể ăn nuốt hoặc phân giải để bài trừ ra ngoài cơ thể và duy trì huyết dịch trở lại trong
sạch bình thường đến chỗ an toàn sanh mạng”. Thêm nữa căn cứ sự phát hiện của Bác sĩ Đào Lương
Trinh ở viện đại học phóng xạ tuyến Cửu Châu dùng sức đốt của quang tuyến X đối với các chất nội
phân bí Nekrodormon lập luận rằng khẳng định chứng thực công dụng Ngải cứu đối với cơ thể con
người. Lại nữa giáo sư Cung Nhập nói: “Dùng Ngải cứu với Rayon X và kim Radium so sánh hiệu lực
như nhau”.
Lập luận trên đây có đúng hay không cứ chờ sự thật chứng minh. Theo tác giả nhận định thì trị liệu
bằng Ngải cứu sánh với dùng chất Radium, xét về kinh tế, tiện nghi v.v… đều được ưu điểm an toàn.
Sánh với quang tuyến X thì hiệu lực càng mạnh hơn và dùng nhiều không có hại gì, đâu đâu cũng có thể
tùy nơi thi dụng, vả lại dễ biết dễ làm, thật là một vật có ơn lớn đối với bình dân vậy. Còn đối với vết
bỏng cứu thì:
- Đừng để chạm phải vật dơ bẩn.
- Đừng dùng nước sống mà rửa.
- Có thể dùng nước phèn đen, hoặc thuốc tán tiêu độc mà thoa lên.
Lời bàn của dịch giả
Đối với Trung y, nhất là khoa châm cứu, bao nhiêu nhà bác học, bao nhiêu bác sĩ Tây y, bao nhiêu nhà
tri thức, bao nhiêu hạng nói theo miệng ứng theo lời… Vì người ta khẳng định rằng: Trung y từ ngàn
xưa chưa từng có cái học giải phẫu và nhất là châm cứu, cho nên có kẻ tột bực phỉ nhổ xem khinh, có
người tán dương phụ họa, có kẻ lại cắt nghĩa tỉ mỉ rõ ràng, có người lại mơ hồ ngờ vực, hơn nữa có
người phát nguyện xiển dương. Đến ngày nay, rải rác khắp Âu châu đều để ý cho đến các cơ quan đại
học y học của Tây y đều thâu dùng khen tặng, bao nhiêu bác sĩ chứng minh thấy rằng trong bệnh Ung
Thư, so với phương pháp để kim radium, chiếu quang tuyến X, chạy điện thì pháp cứu không những kết
quả như nhau mà lại còn không xảy ra tai hại như tác giả đã kể trên kia. Nhưng riêng phần dịch giả thì
trải qua bao nhiêu sự khen chê, phỉ nhổ, hoặc thâu dùng hoặc cắt nghĩa vẫn một mực im lìm cho đến
ngày nay. Vì sao thế? Vì nơi dịch giả cảm thấy có một cái gì gọi là chân giá trị của cái học này tự
nghìn xưa, nó vượt hẳn ngoài ranh giới xét đoán của bộ óc hiện tại của chúng ta mà kẻ dịch này cảm
thấy lời lẽ của mình không diễn tả ra được, mặc dù dịch giả không phải Trung cũng không phải Tây.
Nghĩa là gì? Nghĩa là tất cả những sự khen chê phải quấy trên kia đều có thể mò không trúng, nói
không nhầm cũng không biết chừng, cho nên ở đây kẻ dịch này chỉ thỏa mãn với tinh thần phổ thông
của tác giả câu nói “dễ biết, dễ làm, dễ có, không hại, thật là vật có ơn lớn đối với bình dân” mà thôi
vậy.
Sự ảnh hưởng của phép cứu đối với tổ chức da
- Hỏa lực của Ngải cứu từ 45o thì làm cho tại nơi đó tạm thời tụ máu ửng đỏ.
- Nếu lên đến 50o thì thành vết bỏng.
- Lên đến 55o thì chỗ da đó bị chết hư.
- Lên đến 60o thì sức phá hoại ăn sâu vào những bộ phận kế bên trong.
Phàm sau khi cứu, vết bỏng ban đầu hiện màu đỏ sẫm, vài ngày thì biến thành màu trắng xám hoặc
trắng nhợt. Thử cắt lấy một chút dùng kinh hiển vi mà xem thì da ngoài mất sự cấu tạo vốn có của nó,
nên lớp da mỏng bên ngoài, lỗ chân lông, hạch mồ hôi, ống bài tiết hoàn toàn bị phá hoại. Nhưng tại
chỗ ấy thần kinh tri giác nhất thời tiêu mất nên tri giác tạm thời tê dại, đến năm, ba ngày sau thì thần
kinh tri giác tiềm duy được khôi phục, những mầm thịt mới sanh đều đầy đủ, huyết quản hồi phục chánh
thường.
Phép chế thuốc cứu - Lá Ngải cứu non (khô): 3 lượng = 111gr
- Thạch lưu hoàng: 1 chỉ = 3,7gr
- Xạ hương: 1 chỉ
- Sơn giáp châu: 1 chỉ
- Tạo giác thích: 1 chỉ
- Nhũ hương: 1 chỉ
- Một dược: 1 chỉ
Hợp lại tán nhuyễn, hòa đều, bọc giấy quyến, nặn thành hình bánh ú, lớn nhỏ tùy theo thể chất và chỗ
bệnh, cùng bệnh tình nặng nhẹ suy nghĩ chước định. Phải biết Ngải cứu nhiệt lực rất mạnh, căn cứ theo
hai vị bác sĩ người Nhật ở đại học đường Đông Kinh là Kiên Điền và Nguyên Điền dùng phép thí
nghiệm bằng Thủy ngân, nghiên cứu nhiệt lực của Ngải cứu, kết quả báo cáo như sau đây: “Ví như một
khối Ngải cứu to bằng trứng gà, khi đốt lên thì có được nhiệt lực 360o. Còn hàng ngày chúng ta dùng
như nói trên chỉ cần nhiệt lực từ 40o đến 45o mà thôi. Đó là độ chừng 45o là tốt nhất.”
Cách áp dụng thuốc cứu
Trước nhất dùng thuốc cao Ung Thư tiêu thũng bôi một loạt mỏng lên chỗ đau, lại dùng một lát gừng
hoặc tỏi khoét lỗ nhỏ để lên trên, lỗ ấy phải vừa nhỏ hơn mồi cứu một chút, bây giờ mới để mồi cứu
lên trên cái lỗ, như thế để cho nhiệt lực thuốc bôi cùng Ngải cứu theo lỗ nhỏ mà thấu vào da thịt chỗ
có bệnh. Nhờ nhiệt lực của mồi Ngải cứu với tác dụng hóa học giúp cho cơ thể ta được sự kích thích
vừa vặn, làm theo cho sanh ra chất Lòng Trắng Trứng lành mạnh và sức chống độc, vì thành phần chủ
yếu của lá Ngải gồm có chất Lòng Trắng Trứng của thực vật, chất Khương Du, Bá Du và chất Chloride
de Potassium, nhân đây có tác dụng huy phát rất mạnh. Căn cứ theo sự nghiên cứu của Miễn Thái Lang
người Nhật thì kết quả của Ngải chứng minh rằng: sau khi đốt rồi có tác dụng thẩm thấu rất mạnh, đồng
thời đối với độc tố phỏng lửa cũng rất nhẹ nhàng nên người xưa mới áp dụng. Phàm những người sau
khi được cứu đều thần khí thanh sảng, cơ thể lưu thông, xua đuổi ma, bệnh trầm kha được trỗi dậy.
Sự cấm kỵ của phép cứu
Trên mặt không nên cứu vì sau khi cứu sẽ để lại thẹo làm hại cho nhan sắc và không luận công hiệu
như thế nào, những bộ phận trọng yếu không nên cứu, vùng nguy hiểm không nên cứu, như huyệt Á môn
nếu cứu thì sẽ bị tắt tiếng. Đó là người xưa chất chứa bao đời kinh nghiệm, ta chớ nên vọng dụng.
Trường hợp người bệnh quá suy nhược, đàn bà chửa, đói quá, mệt mỏi quá, hết thảy những trường hợp
thiếu nghị lực đều nên kỵ cứu để tránh trường hợp hư thoát.
Những huyệt trọng yếu dùng để cứu bệnh ung thư
Những huyệt người xưa dùng để châm cứu có đến 400 huyệt, còn thường dùng độ hơn 100 huyệt, nay
chọn lựa so sánh những huyệt có hiệu lực và không bị phản ứng nguy hiểm cũng không bị tác dụng
ngược mà đối với chứng có hiệu lực giúp đỡ. Dưới đây là những huyệt kích thích để cung cấp cho sự
tham khảo như sau: - Hợp cốc
Vị trí: ở ngay hai xương giáp nhau tại hổ khẩu tay.
Chủ trị: Ung Thư ở Mũi, ở Óc, ở Cổ Họng, ở Bướu Cổ, ở Cần Cổ, ở hệ thống máu trắng, ở Hàm, ở
Lưỡi, ở Môi, ở Cánh Tay.
Áp dụng: cứu từ 2 đến 3 mồi. - Huyệt Thủ Tam Lý
Vị trí: co cánh tay trước độ 90 độ, dưới huyệt Khúc trì (đầu lằn xếp của phía trong cùi chỏ) hai tấc,
cứu.
Chủ trị: Ung Thư Dạ Dày, Gan, Ruột, Phổi, Hàm, Cần Cổ, hệ thống máu trắng, Cổ Họng.
Áp dụng: cứu từ 2 mồi đến 4 mồi. - Huyệt Khúc Trì
Vị trí: tại đầu lằn của cánh tay chỗ hướng ra cùi chỏ, nếu co tay 90 độ.
Chủ trị: Ung Thư Dạ Dày, Ruột, Da.
Áp dụng: từ 3 đến 4 mồi. - Huyệt Túc Tam Lý
Vị trí: từ chỗ hõm phía ngoài đầu gối đo thẳng xuống 3 tấc châm cứu.
Chủ trị: có tác dụng làm êm dịu ảnh hưởng toàn thân rất lớn, rất công hiệu trong trường hợp bệnh Ung
Thư ở Phổi, Bao Tử, Gan, Ruột, Vú, Hàm, Cổ Họng, Cần Cổ, hệ thống máu trắng, v.v…
Áp dụng: từ 3 đến 4 mồi. - Huyệt Bá Hội
Vị trí: từ góc trên vành tai bên này, vòng qua góc trên vành tai bên kia, cân phân ngay giữa lằn ấy là
đúng.
Chủ trị: Ung Thư Óc, ở thần kinh, ở Hàm, ở hệ thống máu trắng, ở Mũi, ở Lưỡi, ở Cần Cổ, Cổ Họng,
v.v…
Áp dụng: từ 1 đến 2 mồi. - Huyệt Phế Du
Vị trí: Khoảng đốt xương sống lưng thứ hai giáp thứ ba, đo ngang từ bìa xương sống ra mỗi bên một
tấc rưỡi châm cứu.
Chủ trị: Ung Thư Phổi.
Áp dụng: từ 1 đến 2 mồi - Huyệt Tâm Du
Vị trí: ở khoảng đốt xương sống lưng thứ tư giáp thứ năm, đo ngang ra như huyệt Phế du
Chủ trị: Ung Thư ở thần kinh, ở Gan, Phổi, Động Mạch, Tĩnh Mạch, Hàm.
Áp dụng: từ 2 đến 3 mồi - Huyệt Cách Du
Vị trí: khoảng giữa đốt xương sống lưng thứ sáu và thứ bảy, cách ra mỗi bên cũng như huyệt Tâm Du.
Chủ trị: Ung Thư ở Chẽn Vừng, ở ống Thực Quản, ở Phổi, Bao Tử, Ruột,…
Áp dụng: từ 2 đến 4 mồi. - Huyệt Can Du
Vị trí: khoảng giữa đốt xương sống lưng thứ bảy và thứ tám, đo từ bìa xương sống ra như huyệt Cách
du.
Chủ trị: Ung Thư Gan, Lá Mía, Ống Dẫn Mật, Dạ Dày v.v…
Áp dụng: từ 2 đến 4 mồi. - Huyệt Vị Du
Vị trí: khoảng giữa đốt xương sống lưng thứ 10 và 11, đo ra cũng như huyệt Can Du.
Chủ trị: Ung Thư Dạ Dày, Lá Lách, Chẽn Vừng, Ruột, v.v…
Áp dụng: từ 2 đến 3 mồi. - Huyệt Thận Du
Vị trí: giữa đốt xương sống thứ 12 và lưng giáp với đốt thứ 1 của thắt lưng, cách ra mỗi bên 1 tấc rưỡi
châm cứu cũng như mấy huyệt trên, ngang với rốn, ngồi thẳng mà lấy thì đúng.
Chủ trị: Ung Thư ở Thận, ở thần kinh, ở Bao Tử, ở Gan.
Áp dụng: từ 2 đến 4 mồi. - Huyệt Đại Trường Du
Vị trí: khoảng giữa đốt sống thắt lưng thứ 4 và 5, đo ngang ra hai bên 1,5 thốn.
Chủ trị: Ung Thư ở Ruột, ở Thập Nhị Chỉ Trường, ở Đại Trường, Tiểu Trường, Bàng Quang, thần kinh,
Thận.
Áp dụng: từ 2 đến 4 mồi - Huyệt Kiên Tỉnh
Vị trí: ngay trên hố hai bên vai với xương gánh theo lằn cự cốt.
Chủ trị: Ung Thư ở bộ tuần hoàn máu trắng, ở hàm, cánh tay, mặt da, thần kinh, Bướu Cổ, Óc, ở Mũi.
Áp dụng: từ 2 đến 4 mồi. - Huyệt Trung Cực
Vị trí: dưới huyệt Quan Nguyên 1 tấc châm cứu.
Chủ trị: Ung Thư Dạ Dày, Gan, Ruột, Bọng Đái, Tử Cung.
Áp dụng: từ 2 đến 4 mồi. - Huyệt Đơn Điền
Vị trí: ở dưới rốn 2 tấc 3 phân.
Chủ trị: Ung Thư Tử Cung, ở Ruột, ở Thận, ở Bọng Đái.
Áp dụng: từ 2 đến 4 mồi. - Huyệt Quan Nguyên
Vị trí: dưới rốn 3 tấc châm cứu.
Chủ trị: Ung Thư Tử Cung, Ruột, Bao Tử, Gan, Bọng Đái, Ruột Cùng, Âm Hành.
Áp dụng: từ 2 đến 4 mồi.
