Phải chăng Cao Hoang có khả năng sát trùng và trị được bịnh lao ?
TRAN-TIEN-HY
PHẦN DUYÊN KHỞI
Hồi tưởng lại khoảng thời gian 1933 1935 nhân được nghe nói tới huyệt Cao hoang với chung quanh nó khả nhiều huyền thoại, tôi quyết tâm tìm hiểu mục đích không chỉ nhằm thỏa mãn tính tò mò mà còn hông tự tay mình thí nghiệm ngay trên cái huyệt tương truyền có khả năng chữa khỏi được cả trăm thử bịnh, kè cả hư lao ấy 1, xem kết quả nó đem lại, có đúng như truyền thuyết không.
Sản có một ít chữ Hản, tôi bèn đọc Châm cứu đại thành, một trong những pho sách mà ông cụ tôi đã đề lại. Nhưng căng đọc càng hoang mang với những danh tử chuyên môn khó hiều, tôi đành phải tìm đến các ông thầy cứu 2 đề chất vấn.
Huyệt Cao hoang, theo lời của một ông thầy cứu gia truyền quê ở Đồng Hới, một ông thầy cứu khả kính nhất trong số những thầy cứu mà tôi đã gặp, tuy có khả năng vẫn hồi được ngay cả những trường hợp «bịnh nhập Cao hoang» 3, song thiệt ra chẳng có mấy thầy giảm dùng đến, ngay như Y Hoãn, một danh y ở bên Tàu mà cũng còn phải tránh nẻ nữa là !
Tôi hỏi về lý do thì được ông giải thích: «Con tà trước đó ần núp bên trong huyệt Cao hoang, lăm le báo hại bịnh nhân, nay có thầy đến châm hay cứu tại đó, bịnh tuy có thể khỏi được đấy, song ngược lại, ông thầy (hay nếu không thì vợ con ông thầy ấy) thế nào cũng bị báo thủ…»
Bắt mẫn trước lối giải thích đầy mâu thuẩn ấy, tôi bèn viết thơ qua Vân Nam cho người em họ tôi (lúc bấy giờ tũng sự tại tòa lãnh sự Pháp) nhờ mua giùm cho một ít sách Châm cứu.
Sảu bộ sách được gởi về là Tuyên châm tam yếu tập, Châm cứu tắc, Châm cửu thông luận, Châm cứu dị học, Châm cứu bi thọ toàn thơ, Tăng đỉnh Trung quốc châm cứu trị liệu học, tuy đã khai thông cho tôi được một phần nào, song vẫn chưa đủ đề làm tôi hết e ngai.
Tiếp đó, may mắn được đọc tờ Vus của Lucien Vogel, thấy bài của Soulié de Morant nói về châm cứu, tôi liền viết thơ nhờ tòa soạn của tạp chí ấy làm trung gian đề liên lạc với tác giả. Ít tháng sau đó, mua được Précis de la vraie acupuncture chinoise với kim Souteyrand, và nhất là bức thơ của tác giả (có kèm tấm ảnh, hiện nay vẫn còn) giải tỏa cho nhiều điều thắc mắc, lúc ấy là mùa thu năm 1935, tôi mới thực sự vững tâm để thực hiện những cuộc thí nghiệm đầu tiên.
Tôi tự bảo thầm: «Nếu các sách xưa như Châm cứu đại thành chẳng hạn, đều có dành riêng một mục đề nói về những giờ cắm châm cứu, tỉnh theo bát quái, theo can chỉ, theo mùa và những ngày cắm riêng cho đàn ông và những ngày cắm riêng cho đăn bà v.v… cho đó là một vấn đề quan trong, thì những sách châm cứu kế ra đời từ 1930 đến giờ lại chẳng cuốn nào nhắc nhở tôi vẫn đề ấy, phải chẳng việc kiêng kỵ Cao hoang cũng có thể được coi như vẫn đề nói trên ?
Hay là vì hậu quả đen tối có thể đến với chẩm y không phát sanh tức khắc lại cũng chẳng đồng đều nên phần đông mới coi thường?
Cũng như ảnh hưởng của mặt trởi và tỉnh tủ hay là ảnh hưởng của thời tiết đối với sức khỏe của con người, nếu một thiểu số cảm nhận và ỷ thức được thì, đại đa số lại cho là mơ hồ khó tin, mãi cho đến hậu bản thế kỷ 20 nầy, các nhà bắc học Tây phương như Linh mục Théophile Moreux, bác sĩ Maurice Faure, các giáo sư Pasteur Vallery Radot và Tchi- jevsky v.v…sau nhiều năm quan sát, đối chiếu, suy tư và nhất là dùng những máy móc tinh vi đề đo lường, ghi nhận, họ mới bắt đầu công nhận 1 rồi đề nghị thiết lập ra những môn được gọi là Cosmobiologie hay là Astrobiologie, Météoropathologie hay là Agressologie, cho đó là những đề tài mới mẽ. Họ không ngờ rằng cái Astro. biologie của họ đã được nói tới trong Thiên vẫn học Trung hoa và đặc biệt là trong vận khí học đã có 5.000 năm lịch sử của Đông y. Còn Agressologie 2 thi tuy đã được đề cập tới một cách rời rạc ở trong Nội kinh, học thuyết này phải đợi đến năm 200 sau Thiên
chúa giảng sinh mới được hệ thống
hóa ở trong hai pho sách Thương hàn
luận và Kim quỹ yếu lược của Thánh
y Trọng Cảnh.
Trong lịch sử quả địa cầu đã có một thời hầu hết sự vật đều có vẻ huyền bị nhưng rồi thời gian, sự tiến bộ của khoa nọc và nhất là sự cố gắng tìm hiểu đã giúp cho chúng ta vên được cải màn bí mật từng bao phủ trên những di sản quý báu căn thiết đề giúp cho nhân loại sống còn3.
PHẦN HUYỀN THOẠI Theo sách Tả truyện thì ngày xưa, vua Tân-Cãnh- Công làm phải bịnh nặng, hầu hết thầy thuốc ở trong nước, kẻ cả ngự y đều thúc thủ, buộc lòng người phải phái một số viên chức qua Tần đề cầu danh y Vị Tần Bả liền cử Y Hoàn thì, trong khi ông này đang còn độ một ngày đường nữa mới thấu, vua nằm chiêm bao thấy bịnh của người nó hiện thành hai đứa trẻ chúng bàn tản với nhau, một đứa nói:” Ông ấy là một danh y tao e chúng mình không khỏi bị hại, âu là đi trốn vậy » Đứa kia đáp : «Thì phải núp ở trên Hoang và ở dưới Cao, tao chắc họ sẽ không làm gì mình được”.
Hôm sau Y Hoàn đến và xem bịnh cho vua xong, ông liền tâu: «Bịnh của bệ hạ không còn có cách gì chữa được, bởi vì nó đã nằm ở trên Hoang và ở dưới Cao, dù có dùng kim đề châm hay dùng thuốc đề uống cũng không sao đạt tới đó được ».
Vua nghe xong, khen là thầy thuốc giỏi, ban cho hậu lễ và cấp cho xe và ngựa đề về Tần.
Qua câu chuyện trên đây, phải chăng người xưa muốn nhân đó đề ngụ ý rằng tầm và phế, vì phải làm việc không phút nghỉ ngừng nên hẻ đã mắc bịnh ất không phải là dễ trị nữa, và có lẽ cũng vì thế mà tạo hóa đã phủ cho chúng một cái lồng xương sườn đề làm bức tường che chở!
Căn cứ theo Từ nguyễn và Từ hải thì hai chữ Cao hoang là một bộ vị trong thân the con người, khoảng giửa tâm tạng và hoành cách mô, và như vậy, há không phải là ẩm chỉ tâm và phế hay sao !1.
PHẦN NHẬN XÉT CỦA CÁC Y GIA ĐỒNG PHƯƠNG
Theo Trạch Điền Kiện, một châm y trứ danh người Nhật Bản (đã quá cố) thì thể tục, mỗi khi người ta nói «bịnh nhập Cao hoang, đó là người ta ảm chỉ bịnh tình đã tiến tới thời kỳ thứ ba, bởi vì bịnh khi còn ở thời kỷ thứ nhất thường phản ảnh ở trên đường thứ nhất nó xuyên qua huyệt Ky-truc-mā (do châm y họ Trạch phát minh), đường thứ nhất này chạy dọc 2 bên, cách xương sống mỗi bên độ một bề ngang của ngón tay út. Bịnh
của thời kỳ thứ hai phản ảnh ở trên
đường thứ hai, cũng chạy dọc từ trên xuống dưới cách xương sống mỗi bên hơn một lỏng tay, đường này xuyên qua những huyệt như Phế du, Thận du. Bịnh của thời kỳ thứ ba phản ảnh trên đường thứ ba (tức là đường thử hai của Bàng quang kính), xuyên qua những huyệt như Phách hộ, Cao Hoang 2 bởi thế phàm bịnh phát hiện ở Cao hoang đều coi là bịnh thời kỳ cuối cùng 3 dù châm cứu hay là uống thuốc cũng phải khó lắm mới thu hoạch được kết quả như ý muốn.
Danh y Tôn-tır-Mạc ở đời Đường. lắc giả sách Thiên kim Phương đã từng có lời than phiền «… chỉ tiếc vì người đời kiến thức thô lậu, không hiều được huyệt này sở dĩ nên mới phải khoanh tay trước những bịnh khó. Phải chỉ họ chịu khó học hỏi, điểm cho được huyệt nầy mà cứu thì bịnh chi mà chẳng lành! 4.
Lời than phiền của danh y họ Tôn, tuy cũng có phần quả đáng song không ngoài mục đích khuyến khích kẽ hậu học nên cố gắng tìm hiểu cách điểm củng như cách xử dụng huyệt này, ngõ hầu giúp ích một cách đắc lực cho những ai mang phải những bịnh chứng trầm kha.
Gần đây các y sư Trư Huu Khải Nham, Liễu Cốc Tổ Linh, cũng như các bác sĩ Châu Liên và Vương Tuyết Đài đều công nhận huyệt Cao hoang có công năng bồi bồ khí huyết, trị được các bịnh ở phồi và ở ngực, đặc biệt là phế lao, cũng như các bịnh dây dura lâu ngày làm cho con người mắt sức cũng thần kinh suy nhược, ngày học mau quên, đêm thì di tỉnh mộng tỉnh… Riêng Y sư Liều Cốc Tố Linh lại nhấn mạnh về tác dụng dự phòng bịnh tật của huyệt này.
Ngoài ra sách Châm cứu du huyet học của Trung y học viện Thượng hải (1964), căn cứ vào lâm sàng thực nghiệm, đã đúc kết hiệu năng của Cao hoang như sau đây :
Bồ phế, kiện tỳ, trị lao, bồi sửa các sự hao tồn, làm yên làm mạnh được thận, phò và sát trùng. được tâm chảnh khi
HUYỆT CAO HOANG QUA SỰ NHẬN XÉT CỦA CÁC NHÀ BẮC HỌC TÂY PHƯƠNG.
Bác sĩ G. Dano sau khi đã dùng huyệt Cao hoang đề châm trị cho một số trẻ con bịnh hoạn đã phải công nhận không những huyệt này thay đồi tình trạng của huyết dịch mà còn đem lại sanh khí cho cả toàn thân, kẻ cả hệ thống nội tuyển 1.
Sau đó một thời gian, B.S. De la Fuye lại chứng minh tác dụng sinh huyết của Cao hoang một cách cụ thể hơn: trên những bịnh nhân bị thiếu máu, 24 giờ sau khi được châm bồ ở Cao hoang và chẩm tả ở Túc tam lý, hồng huyết cầu thưởng tăng lên tử 500.000 đến 1.800.000 Ngoài ra đã có lần ông châm Cao hoang và Túc tam 15 như trên cho một bịnh nhân (dưới sự kiểm soát của bác sĩ Arthus ngay tại phòng thi nghiệm của B.S. này, thuộc bịnh viện Saint Jacques), ông đã nhận thấy là hồng huyết cầu của bịnh nhâu ấy, trước khi chưa châm chỉ có 3.700.000 ấy thế mà mười phút sau đã tăng lên đến 8.000.000.
Ông lại còn nhấn mạnh về chỗ kết quả thu được sau khi châm Cao hoang cho những người bị thiếu máu, không phải chỉ tạm thời mà tương đối bền dai hơn với bất cứ huyệt nào khác 2. Nhưng nếu BS. De la Fuye đã chứng minh được hiệu năng sinh huyết của Cao hoang bằng cách đếm số lượng của huyết cầu, thì một đồng nghiệp của ông. BS.P. Morange lại căn cứ vào khả nhiều tài liệu, đồng thời cũng câu nệ vào cho Bằng quang kinh chuyên quản trị phần nước trong cơ thể con người, đề khác nào như người mủ rở voi, đưa ra ức thuyết là: «Châm cứu ở Cao hoang phần nước ở trong mâu được vơi bớt đi, do đó mà số lượng của huyết cầu tang… 35
Và tiến sâu hơn nữa, nhà chẩm y bậc thầy, đã có công lớn đem lại sanh khí cho phong trào học tập châm cứu ở Âu Châu là S. de Morant đã cho biết trong tập 3 của bộ sách không lồ của ông (gồm cả thảy là 5 tập) những điều như sau đây :
«Sau nhiều cuộc thử máu của một số bịnh nhân được châm bồ ở Cao hoang (và cố nhiên là có tả thêm ở Túc tam ly) người ta thấy tất cả các loại kích tổ (hormones) đều được phân bí ra một cách quân bình và điều hòa, và ngoài sự hồng huyết cầu (globules rouges) cũng như huyết sắc tố (hẻmo. globine) đều được tăng gia, trong máu còn được sản sinh một cách liên tục, một chất khả dĩ giúp cho con người được miễn nhiễm đối với hầu hết bịnh tật (immunité générale) >> 1
Về vấn đề miễn nhiễm, 3 bác sĩ người Roumanie là N. Gheorghiu, Cr Dragomeresco và Fl. Dunitresco, sau nhiều cuộc thí nghiệm thực hiện dưới nhiều khía cạnh, đã chứng minh một cách cụ thể là châm cứu thật sự có hiệu năng kích phát và tăng cường sức chống trả tự nhiên của cơ thể đối với vì trùng, và trong những huyệt họ đã dùng thi Cao hoang phối hợp với Túc tam lý đã tổ ra là có hiệu quả hơn hết 2
Nhưng, chống trả với vi trùng theo bác sĩ J. Kalmar cũng chưa đủ. Chúng ta hãy đọc phần nhận xét của bác sĩ ấy như sau đây:
«… Không phải như khoa chữa như
bịnh lao bằng thuốc hóa học của Tây y
hiện đại, họ trủ định một cách bội lý
là trực tiếp tiêu diệt vì trůng Koch,
huyệt Cao hoang ngoài việc tăng cường
sức mạnh của con người và khai triền
sức chống trả tự nhiên của cơ thể,
còn giúp cho cơ thể bài tiết được bịnh độc, đồng thời giúp cho cơ thể phục hồi sự quân bình của các quan năng cũng như năng lực của cả toàn thân……
Tuy vậy, bác sĩ J. Kalmar không phải chỉ đơn độc ở lại vào Cao hoang mà còn phối dụng các huyệt khắc tủy theo mạch, chứng của từng bịnh nhân¹. (Xem La pratique de l’acupuncture của ông trang 175, 176)
Những kinh nghiệm rất tỉa được sau mấy mươi năm hành nghề.
Điểm cho trúng Cao hoang đối với người có kinh nghiệm thì chẳng có gì là khó khăn cả, song đối với kẻ sơ học, nếu không có thầy truyền dạy ất không khỏi sai lầm, ngay như bác sĩ Laevrgnetrong tập Précis d’acupuncture pratique, vô tình đã cho thấy là chính ông cũng đã điểm trật hết một xương.
- Điểm Cao hoang có nhiều cách:
a) Nếu là người có đủ sức đề ngòi thì hãy chọn cho họ một tư thế thích nghi hoặc đề họ ngồi trên giường hai chân xếp dựng, hai tay ôm lấy đầu gối đồng thời lưng cũng phải hơi gủ xuống một tỷ, cốt để cho 2 xương bả vai mở rộng ra được đề tìm huyệt. Sở dĩ phải làm như thế là vì trong những lúc ta đi, đứng, nằm, ngồi huyệt Cao hoang thường bị hai xương bả vai bao phủ.
b) Ta lại cũng có thể cho họ ngồi trên ghế, hai tay ôm choàng ra sau cồ nhưng lưng cũng phải hơi gù xuống một tỷ. Cách điểm này đã được Y sư Trần Tồn Nhơn Giảm đốc Trung quốc châm cứu học viện ở Hương Cảng chọn đề dạy các môn sinh.
c) Nếu bịnh nhân quả yếu không ngồi dậy được, ta phải bắt bàn tay phải của họ bỏ qua vai bên trái của chính họ rồi khiến họ với ra sau lưng mà tìm huyệt nơi mẻ trong của xương bả vai, chỗ mà mút ngón tay giữa đạt tới được, và bấm xuống có sủng đỏ là huyệt, Phương pháp này (được nói tôi trong Kiến minh châm cứu y học) là đề lấy chứng, châm y trước khi châm hay cứu còn phải kiểm soát lại đã.
d) Chọn cho bịnh nhân một tư thế thích nghi, hai xương bả vai mở rộng, châm y phải đo từ Đốc mạch ra mỗi bên 3 tấc (tức là bề dài lông tay giữa của ngón tay giữa nhơn 3 lần), huyệt nằm ở dưới xương sườn thứ tư và trên xương sườn thứ năm, bên cạnh mẻ xương bả vai, bắm tay vào bịnh nhân cảm thấy đau thốn cả ra lồng ngực, có khi thấu cả ngón tay giữa.
- 3/ Điểm huyệt rất chính xác đành là rất cần, song vận dụng không đẳng phép hay không đúng lúc cũng tai hại lắm.
Người xưa mỗi khi nói tới Cao hoang thưởng hay kèm thêm một chữ cứu, thậm chí có sách nói Cao hoang chỉ cứu chở không nên chẩm. Đã thể trong học khóa về châm cứu Y sır Trần-Cư-Lâm còn dạy: «Châm hữu nhất nguyệt chi công, cứu hữu nhất niên chi hiệu» làm cho một số người ngộ nhận, gặp ai xanh xao ốm yếu cũng đề nghị cửu Cao hoang chẳng cần biết đến mạch, chứng của họ là như thế nào. Nếu gặp người dương hư, mạch đi trầm vi hay là tê hoản thì kết quả cố nhiên là đủ đề cho họ tự đắc.
Ngược lại, nếu gặp người dù mắc phải Cao hoang bịnh (1) nhưng mạch lại hồng sác cọng thêm với những chứng miệng khô, khát nước và ra mồ hôi trộm thì cứu Cao hoang cho họ chẳng khác gì thêm dầu vào lửa đỏ. 4/ Trong những trường hợp như vửa nói trên, nếu muốn châm bỏ Cao hoang, trước đó phải dùng qua các huyệt tư âm thanh nhiệt thì kết quả mới có thể được như ý muốn. BÁCH CHỨNG PHỦ có câu: «Lao sái truyền thi, xu Phách hộ, Cao hoang chỉ lộ nghĩa là đã mắc chứng phế lao tức phải dùng đến hai huyệt Phách hộ và Cao hoang.
Về cải huyệt có tên Phách hộ, chúng ta có thể hiều ngay nó có liên hệ mật thiết với phồi, bởi vì Nội kinh có dạy: «Can tàng hồn, phố tàng phách». Nhưng còn chữ hộ chẳng hay cỗ nhân muốn ngụ ý gì đây? TIỂU U PHỦ có câu: Thề nhiệt lao thấu nhi
tả Phách hộ, nghĩa là phế lao mà mình nóng thì phải tả Phách hộ. Như thế, hộ đây có nghĩa là cải cửa đề nhiệt tà phát tiết ra vậy.
Phép chữa bịnh của Đông y bằng thuốc cũng như bằng châm cứu, thường hay có các lối bồ, tả kiểm thi. Ở đây bồ chảnh với Cao hoang thì lại tả tà bằng Phách hộ vậy.
5/ Tuy vậy, nếu gặp trường hợp khó khăn hơn, ta không thể không bồ thêm Phế du, đồng thời tả hai huyệt Đào đạo và Thân trụ như sách Cần khôn sanh ý đã dạy: «Cao hoang Đào đạo, Thân trụ, Phế du vi trị hư tồn ngủ lao, thất thương khẩn yếu chi huyệt » v.v.
6/ Đối với trẻ con như cổ nhân đã dạy là « thuần dương chi the» tuyệt đối không được cứu Cao hoang. Sách Tuần kinh khảo huyệt biên nói: «Thanh niên chưa đủ 20 tuổi mà cứu ở Cao hoang, dù cho có tả Túctam lý, hỏa cũng cứ dồn lên thượng tiêu mà gây nên nhiệt bịnh».
7/ Hầu hết các sách châm cứu đều dạy Cao hoang đều trị được các chứng di tỉnh, mộng tỉnh, nhưng nếu không biết chọn huyệt mà phối dụng cho thích nghi thi Cao hoang với cái tố tỉnh hay kích thích của nó, sẽ làm cho bịnh chứng nói trên càng nặng thêm lên. Ngay như các lão ông 60 tuổi mà cứu Cao hoang xong, đêm ngữ phần đồng cũng không khỏi có những giấc mơ hoa. Bởi thế cơ nhân đã phải có lời : «Cửu bồ Cao hoang xong, dương khí thế nào cũng vượng lên, nhưng hãy cố gắng mà thanh tầm tĩnh dục đề bảo toàn thân mạng củng như hiệu lực của sự cứu trị
là”.
- Những người đang bị ngoại cẩm
cô nghẹt mũi hay là sờ mãi, và nhất
là ôn độ đang lên cao, trong những lúc
này, nếu thấy họ có triệu chứng phồi yếu mà bỏ ở Cao hoang đủ là bằng kim, ngoại tả cũng sẽ bị trỏi lại làm cho bệnh chứng càng thêm khó gở.
- Tất cả các sách châm cứu, tại mục nói về « bịnh ngược ⚫ đều nói là muốn trị sốt rét kinh niên thì phải lấy Cao hoang và Tỷ du làm huyệt chủ yếu, nhưng Cao hoang ở đây cũng phải biết dùng cho đúng lúc thì mới mong thẳng dược bệnh. Nếu nhè lúc đang lên cơn mà châm Cao hoang thì không giải quyết được gì đã đành mà còn làm cho bịnh ấy càng thêm khó chữa.
Tuy vậy, châm đúng phép và đúng lúc cũng có trường hợp phát sanh phản ứng. Năm 1960 một vị kỹ sư công chánh đến nhà chúng tôi khám đề chữa cho ông về một vài bịnh vật. Nhân hỏi về quả khử được ông cho biết vốn có bịnh sốt rét ngã nước nhưng nhờ uống nhiều thuốc Tây nên đã vắng cơn, tuy vậy người văn không được khỏe. Chúng tôi trắc định kinh lạc theo phương pháp Xích vũ thấy con số tỷ của ông khả lớn, mà nước da của ông lúc bấy giờ cũng không có huyết sắc, chúng tôi bên chẩm bồ Cao hoang thì châm xong, ông cảm thấy khoan khoải. Nhưng đêm ấy cơn rét lại nổi lên đùng đùng làm ông sợ trốn thẳng. Năm sau đó một Pháp kiều nhân viên hẳng Eiffel kỹ sư G. Letessier, được nhiều Pháp kiều khác giới thiệu đến nhà chúng tôi chữa cho về bịnh phong thấp. Nhân hỏi về lịch sử, chúng tôi được biết ông vốn bị sốt rét rất nặng và cử tải đi tải lại hoài suốt mười mấy năm qua, mãi đến sau này nhờ uống nhiều Camoquin và Flavoquin thì bịnh mới
chịu dứt. Tuy vậy tháng nào ông cũng
có uống một vài liều để đề phòng tải
phát.
Chúng tôi trắc định kinh lạc thấy con số tỷ có vẻ khả nghi, hơn nữa bấm huyệt Chương môn cũng đau rỏ rệt, chúng tôi không thề không châm hồ Cao hoang và châm xong tuy có phần đề chíu song tối hôm ấy ông cũng bị phản ứng y hệt như vị kỷ sır V.N kia.
Nhưng, lòng đầy tin tưởng, ông vẫn đến cho chúng tôi theo dõi đề điều trị: Và nay mặc đầu đã đồi qua làm việc ở Mã đảo (Madagascar) ông vẫn viết thư về thăm và cảm ơn chúng tôi đã chữa cho ông khỏi cả phong thấp lần sốt rét.
Ngoài ra, cũng có một vài người mặc dầu châm cứu đã nhiều lần bịnh vẫn không hết, sau đó được họ cho biết là đi bịnh viện B.S khảm bảo có vị trůng Plasmodiuin falciparum.
- Các sách châm cứu đều dạy là Cao hoang trị được khải nghịch (ho đội lên) song nếu bịnh nhân là người thượng thiệt hạ hư, đầu nóng chân lạnh, đồng thời mạch cũng thốn cưỡng xich nhược thì phải coi chừng! Nếu không biết chọn huyệt mà điều chỉnh âm dương thì kim mới đề vào Cao hoang, cơn ho sẽ sẵn sàng để dội lên làm cho cả thầy lẫn bịnh đều không khỏi hoảng hồn. Lúc đó có tả Túc tam lý cũng không đủ để cứu vẫn được tình hình,
- Các châm y đều thuộc nằm lòng là hễ đã bồ Cao hoang tức phải tả Túc tam lý, và đều hiểu rằng nếu không làm vậy tức bịnh nhân sẽ bị nóng cổ, khô miệng, đỏ mắt hoặc vưng đầu v,v…
Nhưng tại sao với các huyệt khác thì không cần tả Túc tam lý mà chỉ riêng Cao hoang mới phải đa sự như vậy? Xin đắp: Khi ta bồ Cao hoang tất cả sinh lực đều tập trung về tâm và phế, không những đề tăng cường tác dụng của dinh vệ (thường quen đọc là vinh vệ) và gián tiếp bồ trợ chảnh khí, mà còn nâng đỡ ngũ tạng theo quy luật ngữ hành tương sanh.
Như trên đã nói, sinh lực tập
trung về tâm phế làm cho cả hai tạng
này đều mạnh, thì phế kim có mạnh
thì mới sanh được thận thủy (tiên
thiên) tâm hỏa có mạnh thì mới sanh
được vỵ thờ (hậu thiên). Nhưng phế
khi bản tính của nó là đi xuống song
khốn thay ! vị thờ trong trường hợp
này nhờ tâm hỏa tiếp sức nên mạnh
lên mà vị thờ đã mạnh ắt chỉ đi lên gây
trở lực cho sự đi xuống của phế. Tả
Tức tam lý trong dịp nầy chính là đề
làm dịu vị thổ, vị thờ đã dịu rồi thì mới
có thể sanh được thận thủy, mà vị thỏ
đã dịu tức sẽ đi xuống đề cho tỷ khí
thẳng lên. Danh y Diệp Thiên Sĩ đã
từng nói: «Tỷ năng thăng tắc kiện, vị
năng giảng tắc hòa» chính là đề chỉ cải
trạng thải này, cải trạng thái mà Đông
y dựa theo Dịch lý thường gọi là Địa
thiên thái.
Xem đó ta thấy, bồ Cao hoang là đề tạo nên một sự hữu dư cần thiết tại thượng tiêu (thuộc dương) bởi vì theo dịch lý thì bất cứ ở lãnh vực nào, Dương bao giờ cũng phải được quí trọng hơn Âm. Hơn nữa, theo Nội kinh thì dương khí trong con người cũng như mặt trời ở giữa vũ trụ (tức tự nhiên giỏi) mà không có ánh sáng và sức nóng của mặt trời thì vạn vật sẽ không sao sanh tồn được 1. Trong con người cũng vậy, dương khí mà suy
thì sức đề kháng sẽ giảm sút, bịnh tật sẽ dễ dàng phát sanh mà sanh mạng của con người cũng không khỏi yều chiết.
Bởi thế bồ Cao hoang là cốt đề cho «dương sanh tả Túc tam lý là đề tạo điều kiện cho «âm trưởng». Như vậy là cái sự mất quân bình lúc ban đầu sẽ không còn nữa.
Tuy nhiên đó chỉ mới là công thức thông thường, còn như đối với những người mà phần âm quả hư thì trước khi hay là sau khi tả Túc tam lý, ta không thể không chọn một vài huyệt trên Nhâm mạch như Quan nguyên, Trung cực hoặc Khí hải đề châm hoặc cửu bồ nửa thì mới có thể tạo được sự quân bình cần thiết, mà sự quân bình đã vẫn hồi thì tật bịnh không còn cơ duyên đề phát sinh ra nữa. 1
12/ Về khả năng của huyệt Cao hoang, các sách đều hết lời tán dương cho nó là có thể chữa khỏi được cả trăm thứ bịnh, thậm chí nhà châm y Nhật bản là Thạch Bản Tôn Triết 2, quá cao hứng, đã giám nói : «Chẳng có bịnh gì mà Cao hoang không chữa được». Nhưng căn cứ vào thực tiễn lâm sàng, chúng tôi đã nhận thấy qua nhiều năm kinh nghiệm là những người :
Xanh xao, bạc nhược
Hơi thở ngắn, làm việc mau mệt
Bị mất sức vì lao tâm lao lực
Yếu phổi dễ bị cảm nghẹt mũi, môi khi gặp thời tiết thay đồi
Đã có những dấu hiệu đầu tiên của phế lao
Đã dùng nhiều Streptomycine nhưng bịnh phồi không dứt hoặc tái đi tái lại hoài.
Đã từng bị sốt rét kinh niên v.v
Đau nặng mới bớt, muốn được chóng bình phục
Một
- Trẻ con váng nhớt
- Bị suyễn kinh niên, phối đã bị yếu suy
7
–
- Thần kinh suy nhược hay quên trước, quên sau, bần thần do dự, hay tru sầu, hay chán nản v.v… là những người mà Cao hoang sẽ là huyệt không – thể thiếu sót đề phục hồi sức khỏe và đem lại niềm an vui cho họ. Điều đáng lưu tâm là tại vị trí huyệt Cao hoang – của hạng người nói trên, để ý mà nhìn ta sẽ thấy là thịt ở đó thường hơi khuyết, nước da ở đó cũng có vẻ thiếu sanh khí, thậm chí khi chích, châm y cảm thấy rin rít như chích kim vào miếng da đã phơi khô, mà đó là chưa kề cái điều mà phần đông các chẩm y đều biết là bấm vào đó, bịnh nhân cảm thấy đau thốn một cách đặc biệt ra thấu cả lồng ngực
–
–
PHẦN KẾT LUẬN :
–
Qua những điều đã được trình bày trên đây, ngoại trừ 1 thiều số có thànlı kiến không mấy tốt đẹp đối với khoa châm cứu như B.S Crouzet, tác giả sách L’acupuncture devant le bon sens – chẳng hạn, thiết tưởng không ai có thể phủ nhận khả năng hiền nhiên và rộng lớn của Huyệt Cao hoang.
Một bằng chứng hùng hồn nhất là các chẩm y thời xưa cũng như các châm y cận đại, mọi người làm việc tại một phương trời riêng biệt, ấy thế mà sự nhận xét của họ về cải huyệt nói trên, đại khái đều tương đồng, có khác nhau chăng bắt quả cùng chỉ khác về ngôn từ mà thôi.
Đọc đến đây hẳn không khỏi có người thắc mắc: Nếu Cao hoang quả có hiệu năng thần thánh như vậy, tại sao còn có người đi hết thầy này đến bác sĩ khác mà rốt cuộc vẫn tiền mất tật mang !?.
Xin đáp: « Hiệu năng của một huyệt châm cứu cũng như hiệu của một vị thuốc 1 hay là của một phương pháp nào khác, không bao giờ có thề tuyệt đối cả, xem như Pénici. lline từng được coi là thần dược, nhưng kết quả nó đem lại đâu có phải bao giờ cũng tốt đẹp như nhau cả! Thực tế đã cho ta thấy là thỉnh thoảng nó lại làm cho bác sĩ có trách nhiệm phải điên đầu vì cải mà thế tục thưởng gọi là « Tổ trắc, 2 mà đó là chưa kề những trường hợp tương đối hy hữu hơn nữa, bịnh nhân trước đó đang còn lái xe được thế mà khi tiêm một mũi thuốc thần ấy, Y sĩ phải chứng kiến một cách đau lòng, sự chấm dứt cuộc đời của thân chủ mình 3. Nhưng cũng may là ngoài một ít nhiều chúng có thể xảy ra do sự học hành chưa đến nơi của châm y (những nhiều chứng này, may thay đều có thể gở được bởi một châm y có nhiều kinh nghiệm) Cao hoang chảng bao giờ gây nguy hại đến mức như đã xảy ra với Pénicilline.
Đến như vẫn đề hiệu năng thì việc dùng Cao hoang còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố mà có những kết quả mau, châm, khó, dề không đồng nhau. Bác sĩ Niboyet trải qua nhiều năm kinh nghiệm đã nhận thấy những người :
1- vửa mới bị rọi quang tuyến X.
2- trong mình vốn có nhiều độc
tố (người nghiện)
3- mà vì nhu cầu trị liệu bác sĩ đã phải mỏ cắt rề thần kinh của họ (radicotomie, resection sympathique) châm cứu cơ hồ không có được mấy kết quả nếu không nói là hoàn toàn vô hiệu lực.
Thật vậy đối với người dương hư nhưng bên trong không có đàm hỏa quấy nhiều cũng như âm hư nhưng không có thấp nhiệt hay phong hỏa vọng đọng ở bên trong 4, thì chỉ châm ở Cao hoang (và lẽ cố nhiên có phối – thêm một ít huyệt đề tăng cường hiệu năng hoặc bỏ âm hoặc bồ dương) cũng đủ đề đem lại cho những bịnh nhân ấy cái sức khỏe mà họ đã mất. Ngược lại, nếu trong mình họ vốn bị phong đàm hay là thấp nhiệt quấy nhiều (ta nên hiều đàm và thắp là những danh từ bịnh lý dùng đề chỉ những độc tố còn ăn tàng trong cơ thể, còn phong và nhiệt là hiện tượng gây nên bởi sự phản ứng tự vệ của cơ thể) thì châm Cao hoang dù có kết quả thì kết quả ấy cũng chẳng được bền lâu nếu không có huyệt giải độc, trừ phong khắc trợ lực. Điền hình nhất là trong số những bịnh nhân bị xuyễn nặng mà chúng tôi đã gặp, ước chừng có độ 10% họ cho biết là nếu có phong lở phát ra ở ngoài da thì bịnh xuyên của họ không còn đáng sợ nữa, và cơn suyễn chỉ phát lên dữ dội khi những đảm phong ấy lặn đi. Để đối phó với những trường hợp này, ngoài một vài huyệt trừ phong và sát trůngkhác, chúng tôi thường phải dùng Tam lăng châm đề xuất huyết Ủy-trung và xuất huyết xong đa số bịnh nhân đều thấy cơn suyền họ dịu xuống một cách rõ rệt1. Tuy vậy đề cho được lành hẳn bệnh nhân phải được tiếp tục châm cứu thêm nhiều lần và nếu là trưởng hợp bịnh nặng, bệnh nhân còn phải
uống thêm thuốc nữa.
Ngoài ra theo kinh nghiệm riêng của chúng tôi thì
1.- Đối với những bệnh nhân có dấu hiệu phởi hư thật đấy, nhưng đã nhiều ngày qua không biết thèm ăn, cử chỉ khôn ngoan của một châm y có kinh nghiệm không phải là bồ Cao hoang ngay mà trước hết dùng Thất tinh châm gỗ trên những vị trí đã chọn lựa của Ty kinh hay Vị kinh2.
2.- Nếu bịnh nhân vì có nhiều nồi buồn phiền uất hận mà tâm phế bị đưa lần đến chỗ suy hư, châm y chỉ có thể thành công nếu biết phối hợp Cao hoang với những huyệt thư can, giải uất và an thần 3.
3.– Đối với những người bầm sinh trì độn hay đã dùng quá nhiều thuốc hóa học, đặc biệt là thuốc an thần (tranquillisant) của Tây y, châm cứu theo lối thông thường, khó đem lại kết quả như ý muốn, châm y có thể khai thác những tiến bộ về kỷ thuật dùng chút ít Extrait placentaire làm thủy châm 4 vào Cao hoang, kết quả thường rất tốt đẹp.
– Đối với những bịnh nhân thề chất quá mẫn cảm cũng như trẻ con nhát gan, hễ thấy kim là sợ, châm y có thể dùng các loại máy điện tử như Flexmètre của Pháp Tobiscope của Nga hay là Elektropunkteur của Đức mà làm Salvaponcture 5, Tại Pháp, người ta còn có cách dùng siêu âm ba (Ultrason) vào huyệt với máy Ultratone. Sách Điện châm cứu trị liệu học cho biết tại Trung quốc, người ta cũng dùng siêu âm ba và xác nhận phương pháp này cũng có hiệu lực trong một số trường hợp.
Riêng về phương pháp dùng âm thanh dưới hình thức nhạc điệu đề truyền vào huyệt thay thế cho kim của BS J.LAMY (xem Acuponcture-Phono- phorèse, édit. Maloine) thì một đồng nghiệp ở Pháp BS BORSARELLO trong bức thơ mới gởi cho chúng tôi ngày 16. 6.72 vừa rồi có cho biết : «ý kiến thi hay song kỷ thuật chưa được hoàn hảo.»
Tuy nhiên, gặp lúc máy móc không sẵn, châm y có thể dùng ngay ngón tay của mình với những thủ thuật bồ, tả đề thay thế cho kim. Nữ Bác sĩ Châu Liên cũng có dùng phép chỉ châm này đề bồ huyệt Cao hoang 6. Đây là một phần của Án – Ma liệu pháp mà Bắc sĩ NAMI KOSHI mùa hè năm 1971 đã quảng cáo rùm beng trên bảo chỉ cũng như trên Tivi Nhật bản dưới danh xưng là Ấp Chỉ liệu pháp. Gần đây, châm y J.LAVIER có cho ra cuốn Micro massage chinois chuyên luận về phương pháp này 1.
Nói tóm lại Cao hoang là một huyệt châm cứu có hiệu năng rộng lớn, vửa trị được nhiều bịnh thuộc phạm vi thể chất, vừa gây được ảnh hưởng tốt ở trên lãnh vực tâm linh, và trải với câu mà bạn Lưu ly ở trong Văn nghệ Tiền Phong số 670 đã dịch từ một tạp chí ngoại quốc: «…khoa châm cứu không chữa được các bịnh cơ thề thuần túy mà chỉ làm bớt được thôi.», Cao hoang còn trị được phế lao bằng cách tăng cường sức đề kháng của cơ thể, gián tiếp làm cho vi trùng lao không còn có điều kiện đề sinh tồn được. Điều này, một Bác sĩ Pháp và ba Bắc sĩ Lỗ đã xác nhận qua những lời mà chúng tôi đã trích dẫn trên đây.
Riêng kẻ viết bài này, vào năm 1942 có một thân nhân ở Pháp về sức khỏe bị giảm sút một cách đáng ngại buộc lòng họ phải đi bệnh viện. Bác sĩ giảm đốc bệnh viện bài lao lúc đỏ là HOÀNG SỬ khám bảo phồi bị năm, cho thử đàm thì đã có vi trùng Koch. Nhưng nước nhà lúc bấy giờ bị quân Nhật chiếm đóng (thuốc tây ngoài Panxylon, Cinnozyl, và Biocholine không còn gi khác hơn đề trị phế lao), thuốc men cực kỳ khan hiếm, bịnh nhân đành phải ỷ lại vào Đông y.
Chúng tôi mặc dù có cho uống thuốc Bắc song đặt kỳ vọng nhiều hơn ở châm cứu trong đó có Cao hoang, Chữa như vậy luôn ba tháng bịnh nhân lên cân và mạnh khẻo hẳn lên, qua benn viên bác sĩ H.S. khảm lại bảo phồi đã trắng mà đàm cũng không có vì trùng Koch nữa.
Gần đây nhất, vào năm 1971, một vị quân trưởng ở Gia hội nhân cảm thấy bần thần, về oải và đau lưng, tìm đến bồn viện đề nhờ chúng tôi săn sóc. Nhân vận dụng tử chân bắt cương, biết ông ấy phế thận suy hư, chúng tôi định châm cứu xong sẽ cho phái, nhưng châm xong (cố nhiên là có châm Cao hoang) ông cho biết người rất khoan khoải, và nếu trước kia trí não bản thần không muốn hoạt động thì bây giờ đã thấy sáng suốt và vui vẻ yêu đời.
Tuy nhiên, đề khỏi ngộ nhận tưởng độc giả cũng nên hiểu là khác với Tây y, xây dựng trên khoa học phân tích, Đông y lại là một nền y học tổng hợp đặt nền mông trên quan niệm chỉnh thề (conception unitaire), bởi vậy một Đông y sĩ xứng đáng với danh nghĩa ấy, luôn luôn có một cái nhìn tổng quát, khi xét bịnh thưởng vận dụng tử chân, bát cương, mà khi trị bịnh cũng còn phải kết hợp những kiến thức về tạng tượng, về kinh lạc, về âm dương ngũ hành đề chiết trung mà tìm ra một hoàn cảnh riêng biệt, quyết không có cải lối đầu thống y đầu, cước thống y cước như những thời y, môi đọc được một trang sách hay là nghe lỏm được một nhận xét chưa hẳn là dùng, đã vội múa gậy vườn hoang như:
«Phê hư thì bồ Thải uyên, Phế thiệt Xích trạch ta liễn tả ngay hay là thấy suyền thì chủ trương dùng Chiên trung, tưởng tượng một cách hời hợt rằng
huyệt này nằm ở giữa ngực, điều khiền được thượng tiêu chủ về hô hấp ất có thể chữa khỏi bắt cử loại suyễn gt,
không hiểu rằng theo lạng tượng học thuyết thì «phế vi khi chi chủ, thận thiệt vì khí chi căn như Cụ Hải thượng đã thường nhắc nhở. Như gập trường hợp hư suyễn, hạ tiêu hư khuy không liễm nạp được nguyên khí, nếu không trọng dụng Quan nguyền, Khí hải, Thận du đề củng cố hạ tiêu mà câu nệ «Chiên trung điều khiển được thượng tiêu, chủ về hô hấp» thì thiệt chẳng khác gì cây sắp bị lòi gộc mà cứ lo muc nước để tưới ngọn.
Hơn nữa suyễn chỉ là cái tên vẫn tắt của hảo suyễn, mà hảo có hàn hảo và nhiệt hảo, suyễn có hư suyễn thiệt suyễn và suyễn do phong độc nội công (xem luận án về bịnh suyễn của BS Lê văn Bàng), lúc lâm chứng một châm y có thực học không thể không vận dụng tử chân bát cương cọng thêm với những kiến thức về tạng tượng và kinh lạc, đề nhận định cho sáng suốt, khác hản với những châm y không có căn bản văn hóa, chỉ được huấn luyện cấp tốc trong 2, 3 tháng, chỉ biết áp dụng một cách máy móc Chiên trung đề trị bệnh suyễn, Y hy đề trị sốt rét rừng v.v.., châm lia châm lịa, không cần biết có trúng huyệt hay không bởi vì châm xong họ còn cho uống thuốc trụ sinh được thay đồi hình dạng, hoặc hoàn, tản, cao, đơn đã được loại bỏ toa nhẫn như chúng tôi đã thấy. Trong số những châm y này có độ trên mười người tự thấy không thể tự đối và dỗi người mãi như vày nên có đến xin thụ huấn với chúng tôi, nhưng rất tiếc lúc này chúng tôi tuổi đã già không còn đủ sức để dạy cho những người tự xưng là châm y mà chữ Hán đọc
không đi, chữ Pháp thì mù tịt và nhất
là họ chỉ đòi học thực hành, muốn
biết huyệt gì hay về bệnh này huyệt
gì có công hiệu rõ rệt đối với bệnh kia
chứ không chịu học lý thuyết.
Còn như phồi hư cũng vậy, không phải lúc nào cũng có thể bồ Thải uyên cả, ví dụ vì tỷ vị yếu suy ăn uống không tiêu, thồ không sinh được kim thì bỏ Túc tam lý (hợp thổ) trong trường hợp này tức là giản tiếp bồ phế vậy 1, Ngoài ra như đại trường bị thọ độc mà phế bị ảnh hưởng xấu thì trong trường hợp này tả Khúc trì cũng là một phép bỏ phế nữa vậy. Đến như trường hợp can hỏa vượng, một châm y có học thức không thể không áp dụng tinh thần của điều thứ 75 trong nạn kinh «Kinh ngôn: Đông phương thiệt (can vượng) tây phương hư (phế hư) tả nam phương (tâm hỏa), bồ bắc phương (thận thuy)… Thật vậy, can hỏa vượng mà tả tâm hỏa chính là áp dụng nguyên tắc «thiệt tắc là kỳ tử”, phế hư mà bồ thận tức là áp dụng nguyên tắc tử năng linh mẫu thiệ vây v.v… 2
Những điều vừa kẻ trên đây chúng tôi đã dùng máy Lương đạo lạc (tức Nihon Neuro Meter Words) của Bác sĩ Trung cốc Nghĩa Hùng đề kiểm soát thì thấy kết quả hoàn toàn đúng với quy luật âm dương ngũ hành, và do đó, độc giả cũng có thể suy diễn mà hiểu rằng Cao hoang cũng như mọi huyệt khác, nó chỉ có thể phát huy hiệu năng khi nó hỏi đủ điệu kiệu về mạch chứng 3
Sách Bioénergétique et médecine Chinoise của ba bác sĩ Borsarello, Duron, và Méry có nói: «Một châm y ở thời đại này không thể là hạng người chỉ áp dụng một cách mù quảng những phương thức cố định, mà trái lại phải dùng một kỷ thuật hợp lý dựa trên nhiều dữ kiện…1
Và cách đầy đến những mấy mươi thế kỷ về trước, sách Nội kinh Linh. xu tại thiên Cửu châm thập nhị nguyên củng đã có câu: «phẩm dạy châm tất tiên chân mạch» (với hai chử chân mạch đây, cô nhân muốn chúng ta phải hiểu ngầm rằng đã là châm y tất phải biết âm dương, ngủ hành, kinh lạc, tạng tượng, v.v… là những điều đã được dạy trong Châm kinh và trong Mạch học).
Danh y Du-gia-Nhôn nhân thấy nhiều người vì không hiệu kinh lạc và tạng tượng mà phạm nhiều lột làm nên đã phải thốt ra cái câu bấi hủ: «Bất tri tạng phủ kinh lạc; khai khau động thủ tiện thác».