Nhưnghoặc giáng mà thâu, hoặc thâu mà tán, hoặc giáng mà công phá, hoặc giáng mà thấm lợi, hoặc vào phầnhuyết, hoặc vào phần khí, có thể cắt nghĩa lại cho nghe rõ được không?

Phàm thứ nào thăng đều được khí của trời, thứ nào giáng đều được vị của đất; nên hễ vị hậu thì
giáng nhanh, vị bạc thì giáng chậm, lại hợp cả hình chất mà luận thì nhẹ nặng cũng có chỗ khác. Mang
Tiêu vốn được khí Thủy, nhưng là tánh của khí âm ngưng trong Thủy. Và vị mặn có thể làm mềm cái
cứng, hạ cái nóng ở phần khí, là vị được vị âm của Thủy chứ chưa được khí dương trong Thủy nên
giáng chớ không thăng. Vả chăng, nước xét ra thuộc phần khí, nên Mang Tiêu ngưng đọng vị của Thủy,
thuần được tánh âm của Thủy mà thanh giáng cái nóng ở phần khí, so với Đại Hoàng vào phần huyết
khác nhau. Đại Hoàng vị đắng rất lạnh, là vị âm của địa hỏa, mà màu vàng lại là một sự phát hiện của
khí Hỏa thối lui nên có thể thối Hỏa, chuyên hạ kết ở phần huyết, là vì vị hậu lại còn có khí nồng mạnh.
Vị đã giáng mà khí lại giúp thêm nên có thể hạ gấp. Tánh lạnh đều dẫn đi xuống như Bạch Thược Xạ
Can, vị có thể giáng lợi đều bởi vị đắng cùng với tánh giáng hạ của Đại Hoàng đồng một nghĩa vậy.
Đại Hoàng vị đắng, tánh lại mạnh hơn. Bạch Thược đắng, tánh hơi nhẹ, nên Bạch Thược chỉ hơi giáng.
Còn Đại Hoàng thì sức giáng mạnh hơn.
Tham luận: Đành rằng đồng là thuốc đi xuống, nhưng Mang Tiêu lại là thứ do thủy âm ngưng kết, có vị
mặn, có tánh lạnh; nên khi vào ruột do sức hòa tan, bắt buộc nó phải kêu nước tụ về. Do đó nó có công
năng tụ nước, làm mềm phân trong công việc xổ mạnh.
Về vị Bạch Thược, tại sao luận giả không nói dứt khoát rõ ràng hoặc chua, hoặc đắng, hoặc chua đắng,
hoặc đắng chua. Chứ tại sao lúc thì bảo chua, lúc thì bảo đắng! Nhưng trên thực tế, rõ ràng chua là vị
chánh, mà đắng là vị phụ. Nói như thế không khỏi làm cho người đọc thắc mắc!

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading