ÂM DƯƠNG
Nói về âm dương giống nhau và khác nhau: Trời xoay về bên
trái cho nên người ta lấy tai, mắt, chân, tay bên trái là dương. Đất
xoay về bên phải cho nên người ta lấy tai, mắt, chân, tay bên phải
là âm.
Dương khí trong nên tai, mắt, chân, tay bên trái nhỏ hơn bên
phải. Âm khí đục cho nên tai, mắt, chân, tay bên phải to hơn bên
trái. Dương khí trong mà vững nên tai mắt bên trái sáng hơn bên
phải mà chân tay yếu làm lụng được ít. Âm đục mà kém nên tai
mắt bên phải không sáng bằng bên trái mà chân tay mạnh vận
động được nhiều.
Đàn ông nhiều khí dương, khí thịnh đến cực điểm thì khí
dương từ trên đi xuống, phối hợp với khí âm nên có râu mà ngọc
hành thõng dài, mạch bên trái mạnh bên phải yếu, bộ thốn mạnh
bộ xích yếu là thuận.
Đàn bà nhiều khí âm, khí thịnh đến cực điểm thì khí âm từ
dưới đi lên, phối hợp với khí dương cho nên âm hộ thụt vào mà
vú nổi cao, tiếng nói nhỏ mà không có râu, mạch bên phải mạnh
mà bên trái yếu, bộ xích mạnh, bộ thốn yếu là thuận.
Nếu đàn ông mạch bên phải mạnh hơn bên trái, bộ xích
mạnh hơn bộ thốn là đàn ông mà có mạch đàn bà, là bất túc. Nếu
đàn bà mạch bên trái mạnh hơn bên phải, bộ thốn mạnh hơn bộ
xích là đàn bà có mạch đàn ông, là thái quá. Người làm thuốc xem
xét để liệu mà thêm bớt. Dẫu rằng bên trái là dương, bên phải là
âm, đạo trời là như thế. Song huyết là âm mà thuộc về bên trái,
khí là dương mà thuộc về bên phải, đó là lẽ huyền diệu của âm
dương cùng ở lẫn với nhau. Thận thuỷ bên trái sinh can mộc, can
mộc sinh tâm hoả đều là phần huyết, nên bên trái là đường ngầm
của huyết. Thận hoả bên phải sinh tỳ thổ, tỳ thổ sinh phế kim đều
thuộc phần khí, nên bên phải là đường ngầm của khí. Còn như
kinh Túc Thái dương đi phía sau lưng cho nên khi cảm lạnh vào
bàng quang thì mặt và lưng thấy lạnh nhiều. Kinh Túc Dương minh
đi phía trước thân thể, ở bộ mặt có vị khí lưu hành cho nên đến
mùa đông mặt không thấy rét, mà chứng nề mặt thì chữa phong ở
vị. Kinh Túc Thiếu dương đi ở phía cạnh cơ thể nên tai điếc, sườn
đau thường là dùng bài Tiểu sài hồ để chữa đởm.
Lời chú: Chỗ này dù nam hay nữ đều như nhau, muôn đời
không thay đổi. Chỉ có chỗ khác nhau là: về đàn ông phía sau thân
thể là dương, phía trước là âm chủ về kinh Túc Thái dương. Về đàn
bà phía trước thân thể là dương, phía sau thân thể là âm chủ về
kinh Túc Dương minh. Cho nên đàn bà khi có mang con trai, mặt
nó hướng vào mẹ, lưng nó hướng ra ngoài, bụng người mẹ lồi mà
rắn. Khi có mang con gái, lưng của nó hướng vào mẹ, mặt của nó
hướng ra ngoài, bụng của người mẹ phẳng mà mềm.
Vậy trước khi đẻ cứ nghiệm xem bụng rắn hay mềm thì biết
là con trai hay con gái.
Khi đẻ con trai nằm sấp mà lưng hướng lên trên, con gái thì
nằm ngửa mà mặt trở lên trên. Lúc vừa đẻ thì trông đã biết là trai
hay gái rồi.
Vả lại những kẻ chết đuối nổi lên đàn ông tất nhiên nằm sấp,
đàn bà tất nhiên nằm ngửa. Đàn bà theo âm, đàn ông theo dương
là lẽ tự nhiên.
Lại nói đến hai mạch Đốc và Nhâm. Đốc có nghĩa là hội lại, là
nói các dương mạch đều hội lại. Đàn ông chủ mạch Đốc đi giữa
lưng thuộc dương, từ huyệt Trường cường (chỗ lõm ở dưới đốt
xương cùng) theo xương sống đến huyệt Ngân giao (chỗ khe răng
hàm trên, bên trong môi). Nhâm nghĩa là đảm nhiệm là nói cái
nguồn sinh dưỡng, đàn bà chủ về mạch Nhâm đi ở giữa bụng
thuộc âm, từ huyệt Hội âm (giữa khoảng lỗ đít và âm môn) lần
theo bụng đi lên đến huyệt Thừa tương (chỗ lõm dưới môi và trên
cằm) thì ngừng. Dưới chỗ phía trong khe răng hàm trên và trên
huyệt Thừa tương, ngay đúng giữa là chỗ gặp nhau của hai đường
mạch Nhâm và mạch Đốc.
Nói đến mạch có thai: kinh từ một đã tắt một vài kỳ, ấn vào
hai bộ xích thấy mạch Sác mà Hoạt tới luôn không dứt đó là mạch
có thai. Mạch Sác là nhiệt, mạch Hoạt là huyết ngưng kết. Nên lấy
mạch Hoạt để nghiệm có thai. Bộ tả xích Sác mà Hoạt là con trai,
bộ hữu xích Sác mà Hoạt là con gái. Trên đây là phân tách chỗ
khác nhau và giống nhau của âm dương.
NGŨ HÀNH SINH KHẮC
Nói về tương sinh thì thận thủy sinh can mộc, can mộc sinh
tâm hỏa, tâm hỏa tiếp với tướng hỏa của mệnh môn mà sinh tỳ
thổ, tỳ thổ sinh phế, phế kim lại sinh thận thủy, cứ lần lượt hết lại
trở lại đầu, không đứt đoạn bao giờ. Người làm thuốc phải biết thế
để rõ cái lẽ con hư thì bổ mẹ, mẹ thực thì tả con.
Nói về tương khắc thì bên tả xích thủy khắc với bên hữu xích
hỏa. Tả quan mộc khắc với hữu quan thổ, tả thốn hỏa khắc với
hữu thốn kim. Bên tả bên hữu ngang đối nhau, công kích nhau,
khắc nhau và ngăn ngừa nhau. Người làm thuốc cần biết thế để
biết rõ lẽ phải tiết chế chỗ thái quá và bổ xung vào nơi bất cập.
Đó là lẽ ngũ hành sinh khắc.