Vật ở quảng giữa trời đất không ngoài khí số, nhưng kỳ thiệt số sanh từ khí, khí nhiều thì số
nhiều, khí ít thì số ít. Được khí trước thì số ở trước, được khí sau thì số ở sau, nên Thủy sanh ở trời là
1, Hỏa sanh ở đất là 2. Được khí dương thì số lẻ, được khí âm thì số chẵn. Nên số của năm hành ở Hà
Đồ xen nhau làm số sanh thành. Cứ nhắm vào số lá là có thể lường biết được khí. Đến như dùng thuốc
10 trái, 14 trái, 5 trái, 1 trái, v.v chẳng qua chỉ để tính số thuốc nhiều ít, hợp thành phương tể, chớ
không phải căn cứ vào số ấy là có thể cướp quyền tạo hóa. Còn như số sanh thành trong trời đất mà kết
thành số như Tam Lăng, Tam Thất, Bát Giác Hồi, Ngũ Da Bì, v.v thì lại nhân bẩm khí âm dương để
thành số lẻ chẵn. Muốn biện bạch lý thuốc, ta có thể căn cứ vào số lẻ chẵn để định là thuốc âm hay
thuốc dương, chớ không phải số có thể chữa bệnh. Sự thiệt nương nơi số mà biết được chủ trị của
thuốc vậy. Lá của Tam Thất, nếu không ba thì bảy. Không hề sai chạy, là vì bẩm khí Mộc nên được số
3, bẩm khí Hỏa nên được số 7, cùng với số ở Hà Đồ, Mộc Hỏa hợp nhau, ở tạng thuộc về Gan Tim, ở
thân người chủ về huyết. Tam Thất lá xanh mà có gân đỏ, cũng là sắc của Mộc Hỏa nên củ của nó có
thể hóa ứ hành huyết. Chỉ có trở về với tâm Hỏa sanh huyết, can Mộc thống huyết mà thôi. Nếu biết
được danh nghĩa của Tam Thất thì biết được tánh. Tam Lăng màu trắng, vị đắng, tánh ấm, hành khí, các
sách đều dùng để phá khí trong huyết, là vì đọt lá, củ đều có hình ba cạnh. 3 là số Mộc nên có thể vào
phần huyết của Gan, màu trắng thuộc khí, vị đắng ấm chủ hành khí nên hay phá khí, là vị để hành khí
trong huyết. Bát Giác Hồi khí ấm, được khí Mộc; số 8 lại là số của Mộc, sở dĩ có thể làm ấm ở trong
cũng là dùng Mộc để sơ Thổ. Mộc tà lui thì Thổ được nuôi dưỡng, là thuốc để bổ Thổ, ấm Gan.
Người nay chế thuốc thường cho nó vào, đã thơm lại ấm, ứng hợp vị khí. Lục Thần Khúc dùng sắc
phối hợp với phương hướng, hợp sáu vị ủ lên meo làm thành Thần Khúc là lấy nghĩa Thổ hay hóa vật,
vượng gá vào bốn hướng, và bốn phương lại quy vào trung Thổ nên sáu vị ủ làm thành men, công
chuyên vào Tỳ Vị, tiêu hóa thức ăn uống. Lưỡng Đầu Tiêm là cứt chuột đực. Tánh chuột hay đào hang
trong vách, cứt nó lại hai đầu nhọn thì biết được ngụ tánh có công lợi, nên chủ công phá. Như thế đều
căn cứ vào số để rõ khí, thì chủ trị tự nhiên không sai chạy. Lại như Nhơn Sâm, Trương Cảnh Nhạc
cho là thuốc dương, Trần Tu Viên cho là thuốc âm. Bảo là thuốc dương vì nó bổ khí, bảo là thuốc âm
vì nó sanh tân. Hai người hai cách đều là chưa xét đến khí số của Nhơn Sâm để mà hợp khảo. Bạn tôi
Dao Thứ Ngô đích thân đến Liêu Đông thấy người ta trồng Nhơn Sâm, đều ở trong rừng sâu nơi thấp
nhuận. Đủ biết nó bẩm khí Thủy âm mà sanh, nhưng khi sanh ra thân có ba nhánh, lá phải năm chia. 3-5
là số dương, căn cứ vào khí số hợp lại mà luận. Thì biết Nhơn Sâm sanh ở âm mà thành ở dương, bởi
vì rừng sâu nhuận thấp là âm, khi sanh nhân thành ra số 3, số 5, tức là dương vậy.
Khí dương trong thân người phát sanh từ Thận Thủy, do âm ra dương, cùng với Nhơn Sâm sanh ở âm
mà thành ở dương vốn không khác. Nên Nhơn Sâm là thánh dược hóa tân bổ khí. Vả chăng căn cứ vào
số để biết khí, thì bổn tánh của Nhơn Sâm thấy rõ. Đến như màu trắng vào Phổi, vị ngọt vào Tỳ, hơi
đắng sanh tân, hơi ấm thêm khí. Nói như thế hãy còn cạn cợt.
Tham luận: Số cũng là một khía cạnh trong cái học lý hóa của Á Đông, là trụ cốt của dịch lý. Cho nên
số cũng chiếm một phần quan trọng để khám phá dược tánh của dược vật. Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ
là trật tự 5 hành trong Hà Đồ. 1, 2, 3, 4, 5 là số sanh, 6, 7, 8, 9, 10 là số thành, 1, 3, 5, 7, 9 là số
dương, 2, 4, 6, 8, 10 là số âm. Hễ sanh dương thì thành âm, sanh âm thì thành dương. Do đó nhìn sự
vật có thể thấy được số là sanh, là thành, là âm, là dương, là trước, là sau, là nhiều, là ít, tức là ta đã
khám phá được khía cạnh lớn lao về đặc tính của sự vật ấy như luận giả đã nói. Cho nên nói “Không
biết được đạo Dịch thì không biết được đạo Y”, chớ không phải nói “không biết làm thầy bói không
thể là lương y” như nhiều người đã tưởng! Học giả không thể không biết!
Nay trong Bản Thảo cũng có lấy số đặt tên, thí dụ Tam Thất, Tam Lăng, BácGiác Hồi, Lục Thần Khúc, Ngũ Gia Bì, Lưỡng Đầu Tiêm, v.v. Đã dựa vào số mà đặt tên lẽ đâu chẳngdùng số để trị!
Written by
